Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Tội gì ngài hối tiếc ngày nay?
Sao từ lưng nọ nay ngài phải
Móc thịt mình ăn lại mỗi ngày?
Vị Thần kia nhận ra ngài, liền bảo:
- Đại Vương không nhận ra tiểu thần, nhưng ngày xưa tiểu thần là tế sư của Đại vương. Hạnh phúc này thần được hưởng hằng đêm là nhờ ơn Đại vương. Đó là kết quả hành trì nửa ngày trai giới của thần, còn nỗi thống khổ thần phải chịu ban ngày là kết quả nghiệp ác mà thần đã làm. Vì khi thần được Đại vương cho ngồi ghế phán quan, thần đã ăn hối lộ, và phán xét sai trái, thần lại là kẻ xấu miệng, ưa phỉ máng sau lưng người khác, nên kết quả việc ác thần đã tạo những ngày đó, nay thần phải chịu khổ đau này.
Nói xong, vị Thần ngâm hai vần kệ:
31. Xưa thần thọ hưởng thánh tam kinh,
Song ác nghiệp giam hãm đắm mình,
Việc ác đã làm cho bạn hữu,
Bao năm ròng, cuộc sống trôi nhanh.
32. Kẻ nào phỉ báng các tha nhân,
Cứ thích rình mò phá tiếng thơm,
Phải móc thịt mình ăn lại mãi,
Như ta việc ấy hiện đang làm.
Nói xong, vị thần hỏi nhà tu khổ hạnh tại sao đã đến đây. Vị này liền kể hết đầu đuôi câu chuyện của mình. Vị Thần lại hỏi:
- Vậy xin thưa Thánh giả, ngài định ở đấy hay lại ra đi?
- Ta không muốn ở lại, ta muốn trở về am.
Vị Thần đáp:
- Thưa Thánh giả, lành thay, thần sẽ dâng cúng ngài trái xoài chín thường xuyên đầy đủ.
Rồi vị ấy dùng thần lực đưa vị vua ẩn sĩ trở về vùng thảo am, khuyên ngài sống thiểu dục ở đó, yêu cầu ngài phải giữ tròn lời nguyền, rồi ra đi. Từ đó, vị Thần kia thường xuyên cung cấp xoài cho nhà tu khổ hạnh. Ngài thọ hưởng thứ trái cây ấy, hành trì những pháp môn tu tập để làm phát khởi thiền định, và về sau được thọ sinh vào Phạm thiên giới.
- Vào đoạn kết thúc các Thánh Đế, một số người đạt Sơ quả (Dự Lưu), một số người đạt Nhị quả (Nhất Lai), lại có một số người khác đạt Tam quả (Bất Lai).
- Vào thời ấy nữ thần ấy là Uppalavaṇṇā (Liên Hoa Sắc) và ẩn sĩ khổ hạnh chính là Ta.
(TIỀN THÂN KUMBHA)
Ngài là Đại sĩ ở trên không…
Câu chuyện này bậc Đạo sư kể lại trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên) về việc năm trăm nữ nhân, các vị thân hữu của bà Visākhā (Tỳ-xá-khư) là những kẻ uống rượu nặng.
Lúc bấy giờ, truyện kể rằng có một tửu hội được tổ chức tại Sāvatthi (Xá-vệ) và năm trăm nữ nhân này, sau khi đem rượu nồng cho các vị phu quân xong, vào cuối đám hội lại suy nghĩ: “Chúng ta cũng muốn dự tửu hội.”
Họ liền tìm đến bà Visākhā và bảo:
- Này hiền hữu, chúng ta cũng muốn dự hội.
Bà đáp:
- Đây là một tửu hội, còn ta không muốn uống rượu nồng.
Họ bảo:
- Thế hiền hữu hãy cúng dường đức Phật tối thượng, còn chúng tôi muốn dự hội này.
Nàng chấp thuận ngay và để họ đi. Sau khi đã cúng dường bậc Đạo sư một vật phẩm long trọng, buổi chiều bà đi đến Kỳ Viên, cầm nhiều tràng hoa thơm cùng các nữ nhân kia để nghe thuyết Pháp.
Bấy giờ, đám nữ nhân kia thèm uống rượu cùng khởi hành với bà, nên lúc họ đứng trong căn phòng có nọc nhọn kia, họ uống rượu mạnh rồi cùng bà Visākhā đến yết kiến bậc Đạo sư.
Bà Visākhā đảnh lễ bậc Đạo sư và cung kính ngồi qua một bên. Vài người đàn bà trong bọn ấy dám múa ca ngay trước mặt bậc Đạo sư, có người lại lấy tay, chân làm những cử chỉ thô lỗ, có người còn cãi nhau nữa.
Bậc Đạo sư muốn gây chấn động cho bọn này, liền phóng ra một tia hào quang từ chân mày của Ngài.
Tiếp theo đó bầu trời tối đen kịt. Bọn nữ nhân kinh hoàng sợ chết, vì thế tỉnh rượu ngay.
Trong lúc đứng đó, bậc Đạo sĩ nói lên kệ này để gây kinh động cho đám nữ nhân kia:
Ở đây không phải chốn vui cười,
Lửa dục đốt tan mọi cảnh đời,
Sao mãi chìm thân trong bóng tối,
Không tìm ngọn đuốc, nẻo đường soi.
Câu kệ vừa chấm dứt, cả đám năm trăm nữ nhân đều đắc quả Dự Lưu. Bậc Đạo sư lại xuất hiện trên bảo tọa dành cho đức Phật dưới bóng mát của Hương phòng. Lúc ấy, bà Visākhā đảnh lễ Ngài và hỏi:
- Bạch Thế Tôn, việc uống rượu mạnh phát xuất từ đâu đã xâm phạm đến thanh danh và lương tâm con người?
Để trả lời bà, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì quốc độ Ba-la-nại, có người thợ rừng tên gọi Sura, sống ở quốc độ Kāsi, đến vùng Tuyết sơn đi tìm hàng buôn bán. Ở đó, có một cây mọc lên cao vừa tầm vóc người giơ hai tay lên đầu, và chia làm ba nhánh giữa cái chĩa ba này là một lỗ lớn bằng bình rượu, khi trời mưa lỗ này đầy nước. Chung quanh cây này có hai cây myrobalan (am-ma-lạc) và một bụi tiêu, khi trái chín được cắt xuống lại rơi vào lỗ này. Không xa cây này lại có một ruộng lúa tự mọc lên. Chim sẽ mổ lúa ăn đến đậu trên cây này. Trong lúc chim ăn, lúa và gạo sạch trấu rơi xuống đó, chỗ ấy nước lên men dưới ánh nắng mặt trời, nên có màu đỏ như máu. Mùa nắng, từng đàn chim khát nước, uống nước ấy và say sưa, ngã xuống dưới gốc cây; sau khi ngủ một lát, lại bay đi, kêu chiêm chiếp rất vui tai. Việc này cũng diễn ra với các loài chó hoang, khỉ và nhiều dã thú khác nữa. Người thợ rừng thấy vậy nghĩ thầm: “Nếu đây là thuốc độc thì chúng chết hết rồi, nhưng còn đây sau một giấc ngủ ngắn, chúng bay đi như ý muốn, vậy không phải là thuốc độc.”
Gã uống thứ nước ấy và lúc say rượu, gã thấy thèm ăn thịt, liền nhóm lửa lên, giết chim trĩ và gà gô vừa gục ngã dưới gốc cây, gã nướng thịt trên
Bấy giờ, không xa nơi ấy, có một vị ẩn sĩ tên gọi Varuṇa, nhiều lúc gã thợ rừng đến viếng ẩn sĩ, gã thì thầm: “Ta sẽ uống thứ rượu này với vị ẩn sĩ ấy.”
Gã đổ đầy nước vào một ống sậy, cùng một ít thịt nướng, rồi gã đi đến am tranh và bảo:
- Thưa Thánh giả, xin ngài thử nếm rượu này.
Hai người cùng uống rượu và ăn thịt. Vì thứ rượu này do Sura và Varuṇa phát hiện, nên được đặt tên theo đó, rượu Surā và Varuṇī. Cả hai suy nghĩ: “Đây là cách sử dụng rượu này”
Họ đổ đầy nước vào ống sậy, gánh đi đến làng lân cận, dâng sớ tâu vua rằng có vài người lái buôn rượu đã đến. Nhà vua cho triệu họ vào, và họ dâng rượu lên. Nhà vua uống rượu hai ba lần là say mèm. Rượu này chỉ đủ dùng chừng hai ba ngày, sau đó vua hỏi còn rượu không. Họ bảo:
- Tâu Đại vương, còn.
- Ở đâu thế?
- Tâu Đại vương, trong vùng Tuyết sơn.
- Thế đem rượu về đây.
Họ đi tìm rượu kia chừng hai ba lần rồi suy nghĩ: “Ta không thể đến đó mãi.”
Họ nghiên cứu các thành phần chế tạo rượu ấy, và bắt đầu dùng thứ vỏ cây kia, họ đổ thêm các thứ kia vào và làm rượu ngay tại kinh thành. Dân trong thành uống rượu say trở thành những kẻ khốn cùng lười biếng. Vùng ấy trở nên một kinh thành hoang vắng.
Các lái buôn rượu bỏ đi đến Ba-la-nại, dâng sớ tâu nhà vua xin trình báo họ đến thành. Nhà vua triệu họ vào, trả tiền cho họ và họ lại làm rượu tại đó. Thành ấy cũng hoang tàn như kiểu trên.
Sau đó, từ Sāketa họ đến Xá-vệ; lúc bấy giờ,có vị vua mệnh danh Sabbamitta ngự tại Xá-vệ. Nhà vua tỏ ra ưu ái họ và hỏi họ muốn gì. Khi họ bảo:
- Chúng tiểu thần muốn có các vật liệu chính cùng gạo xay và năm trăm chiếc bình.
Nhà vua ban đủ mọi thứ họ xin.
- Bầy mèo đã chết vì uống rượu.
Nhà vua phán:
- Chắc chắn hai gã kia đã làm thuốc độc.
Rồi vua ban lệnh chém đầu họ và khi phải chêt, họ còn la lớn:
- Xin cho chúng thần rượu mạnh, xin cho chúng thần rượu mật!
Nhà vua, sau khi xử tử bọn kia rồi, ra lệnh mở các bình ra. Còn bầy mèo, khi tác dụng rượu đã hết, tỉnh dậy đi lại chơi đùa. Các cận thần thấy vậy liền tâu vua. Vua bảo:
- Nếu đó là thuốc độc thì chúng đã chết hết rồi, chắc đây là rượu mật, ta phải uống mới được.
Thế là vua ra lệnh trang trí kinh thành, dựng ngôi đình trong sân chầu và ngự vào đình nguy nga trên ngai vàng có lọng trắng che đầu, với các cận thần chầu quanh, nhà vua nhập tiệc uống rượu.
Lúc ấy, Đế-thích Thiên chủ bảo:
- Có ai dưới trần là những kẻ phụng dưỡng mẹ cha lại tinh cần giữ trọn ba hạnh chăng?
Rồi nhìn xuống thế gian, ngài thấy nhà vua đang ngồi uống rượu nồng, ngài nghĩ: “Nếu vua ấy cứ uống rượu nồng mãi thì toàn cõi Diêm-phù-đề sẽ bị hủy diệt, ta muốn thấy chắc chắn vua không được uống rượu nữa.”
Thế là đặt bình rượu vào lòng bàn tay, ngài giả dạng một Bà-la-môn, đứng trên không, ngay trước mặt vua, kêu lớn:
- Mua bình này đi, mua bình này đi.
Vua Sabbamitta thấy ngài đứng trên không và nói như vậy, liền hỏi:
- Bà-la-môn này từ đâu đến đây?
Và nhà vua ngâm vần kệ trò chuyện với ngài:
1. Ngài là đại sĩ hiện trên không,
Mình phóng hào quang rực ánh hồng,
Như chớp ngang trời đang lóe sáng,
Đêm đen kịt chiếu ánh trắng trong.
2. Giữa chốn bao la, lướt nhẹ mình,
Lực thần ngài đạt, ôi vi diệu,
Chứng tỏ ngài thần thánh hiển linh.
3. Đạo sĩ, xin cho biết bậc nào?
Vật gì trong ấy, chiếc bình cao?
Giữa không trung giáng trần như vậy,
Chắc muốn bán hàng cho trẫm sao?
Lúc ấy, Thiên chủ đáp lại:
- Này nhà vua hãy nghe đây.
Rồi vừa thuyết giảng mọi đặc điểm xấu xa của rượu nồng, ngài vừa ngâm vần kệ.
4. Bình không đựng lạc, chẳng dầu hương,
Chẳng phải mật ong, chẳng mía đường,
Song chuyện xấu xa không kể xiết
Chứa đầy trong bụng quả cầu tròn.
5. Ai uống, tội thay kẻ dại khờ
Sẽ chìm trong hố thẳm đen dơ,
Đâm đầu trong vũng bùn ghê tởm,
Ăn phải vật xưa đã nguyện chừa,
Đại đế, xin mua bình rượu nặng
Đầy lên tận miệng của nhà ta.
6. Rượu vào, trí đảo lộn quay cuồng,
Như chú bò ăn cỏ lạc đường,
Tâm trí phiêu diêu, người lảo đảo,
Múa men ca hát suốt ngày trường,
Bình ta đầy rượu tràn lên miệng,
Cực mạnh, mua ngay, hỡi Đại vương!
7. Người uống rượu trơ trẽn chạy rong,
Khắp thành như ẩn sĩ trần truồng,
Đến khuya nằm nghỉ, liền đâm hoảng,
Quên cả thì giờ phải ngã lưng,
Bình rượu ta đầy lên tận miệng,
Cực nồng, mua lấy hỡi Quân vương!
8. Bợm rượu, như người hoảng, múa men,