Tác giả: Tiểu Tạng Thanh Văn
Dịch Việt: Thích Đức Thắng
Dịch giả: Thích Tuệ Sỹ Hiệu Chính Và Chú Thích.
Năm xuất bản: 2011.
Số trang: 426.
Kinh Tăng Nhất A-Hàm (Ekottara Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ sách tiêu chuẩn Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 2 (Kinh số 125).
Vì bạn đã hỏi về bộ kinh này ở một vài câu hỏi trước, tôi xin tóm tắt lại vị trí cấu trúc cốt lõi của nó để bạn dễ theo dõi hệ thống:
• Bản chất giáo lý: Thuộc hệ thống giáo lý sơ thời, nguyên thủy (tương đương với bộ Kinh Tăng Chi Bộ của hệ Pali thuộc Phật giáo Nam truyền).
• Đặc điểm biên soạn: Sắp xếp các bài kinh tăng dần theo số lượng pháp số (từ Chương Một Pháp, Chương Hai Pháp... cho đến Chương Mười Một Pháp).
Trong hệ thống 4 bộ kinh A-hàm nền tảng của Hán tạng, bạn đã tìm hiểu về Trường A-hàm, Trung A-hàm và Tăng Nhất A-hàm. Bạn có muốn tìm hiểu nốt bộ còn lại là Kinh Tạp A-hàm để hoàn chỉnh hệ thống không?
Tác giả: Tiểu Tạng Thanh Văn
Dịch Việt: Thích Đức Thắng.
Dịch giả: Thích Tuệ Sỹ Hiệu Chính Và Chú Thích.
Năm xuất bản: 2011.
Số trang: 516.
Kinh Tăng Nhất A-Hàm (Ekottara Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ sách tiêu chuẩn Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 2 (Kinh số 125).
Vì bạn đã hỏi về bộ kinh này ở một vài câu hỏi trước, tôi xin tóm tắt lại vị trí cấu trúc cốt lõi của nó để bạn dễ theo dõi hệ thống:
• Bản chất giáo lý: Thuộc hệ thống giáo lý sơ thời, nguyên thủy (tương đương với bộ Kinh Tăng Chi Bộ của hệ Pali thuộc Phật giáo Nam truyền).
• Đặc điểm biên soạn: Sắp xếp các bài kinh tăng dần theo số lượng pháp số (từ Chương Một Pháp, Chương Hai Pháp... cho đến Chương Mười Một Pháp).
Trong hệ thống 4 bộ kinh A-hàm nền tảng của Hán tạng, bạn đã tìm hiểu về Trường A-hàm, Trung A-hàm và Tăng Nhất A-hàm. Bạn có muốn tìm hiểu nốt bộ còn lại là Kinh Tạp A-hàm để hoàn chỉnh hệ thống không?
Tác giả: Thích Thiện Siêu dịch. Năm xuất bản: 2001. Số trang: 326.
Trung Luận (tên đầy đủ theo Phạn văn là Mūlamadhyamakakārikā - Căn bản trung luận tụng) là tác phẩm triết học tối thượng, nền tảng cốt tủy của trường phái Trung Quán (Mādhyamika) và hệ thống tư tưởng tư duy Phật giáo Đại thừa. Tác phẩm do Bồ tát Long Thọ (Nāgārjuna) – một trong những luận sư vĩ đại nhất lịch sử Ấn Độ cổ đại – biên soạn vào khoảng thế kỷ II - III.
Tại Đông Á, Trung Luận được xếp hàng đầu trong "Tam Luận" (gồm Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận và Bách Luận) làm nền móng cho Tam Luận tông.
1. Cấu trúc tổng quan
• Quy mô: Nguyên tác gồm 27 phẩm với khoảng 446 đến 450 bài kệ tụng (mỗi bài gồm 4 câu).
• Lịch sử dịch thuật: Tác phẩm được Đại sư Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) dịch từ tiếng Phạn sang chữ Hán kèm theo lời chú giải của luận sư Thanh Mục.
• Bản dịch Việt ngữ: Tại Việt Nam, tác phẩm có các bản dịch giải vô cùng uy tín của Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Tỳ-kheo Thích Thiện Hạnh, và các công trình giảng luận sâu sắc của Cố Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
2. Tư tưởng cốt lõi của Trung Luận
Trọng tâm tư tưởng của Trung Luận xoay quanh việc thiết lập lý thuyết Tánh Không (Śūnyatā) thông qua lăng kính Duyên khởi và Trung đạo.
Hệ thống "Bát Bất" (Tám cái Không)
Ngay mở đầu tác phẩm, Bồ tát Long Thọ đưa ra bài kệ đập tan mọi tri kiến sai lầm, nhị biên đối đãi của con người về thế giới bằng 8 định nghĩa phủ định (Bát bất trung đạo):
Bất sanh diệc bất diệt (Không sinh cũng không diệt)
Bất thường diệc bất đoạn (Không thường còn cũng không mất hẳn)
Bất nhất diệc bất dị (Không phải là một cũng không phải khác biệt)
Bất lai diệc bất xuất (Không từ đâu đến cũng không đi về đâu)
"Các pháp do duyên sinh / Tôi nói đó là Không / Cũng chính là giả danh / Cũng là nghĩa Trung đạo."
Bồ tát Long Thọ chứng minh rằng: Tất cả mọi hiện tượng (vật chất và tâm lý) sở dĩ có mặt là do các duyên nương tựa vào nhau mà thành (Duyên khởi). Vì phụ thuộc vào cái khác để tồn tại nên chính chúng không có một tự tánh độc lập, bất biến (Vô tự tánh). Không có tự tánh gọi là Không. Nhưng "Không" ở đây không phải là trống rỗng, ngoan không (không có gì cả), mà nó vẫn biểu hiện sinh động dưới dạng các Giả danh tạm thời.
Diệt trừ hý luận và phá chấp
Phương pháp luận lý biện chứng của Trung Luận cực kỳ sắc bén (được gọi là phương pháp phá chấp/quy mậu). Long Thọ lần lượt mổ xẻ và "phá" sạch các khái niệm quen thuộc: phá nhân duyên, phá sự đi - đến, phá năm uẩn, phá nhân quả, thậm chí phá cả khái niệm về Như Lai và Niết-bàn. Luận không nhằm xây dựng một hệ thống triết lý giáo điều mới, mà cốt để dẹp sạch các màng lưới kiến chấp, định kiến ngụy biện (hý luận) nhằm hiển bày thực tại tối hậu chân thật.
3. Tầm ảnh hưởng
Trung Luận là đỉnh cao triết học Phật giáo, phá vỡ lối tư duy nhị biên cực đoan (chấp Có hoặc chấp Không, chấp Thường hoặc chấp Đoạn). Hiểu được Trung Luận là chiếc chìa khóa tối quan trọng để thấu suốt toàn bộ hệ kinh điển Bát Nhã đồ sộ và tư tưởng Thiền tông đốn ngộ sau này.
Nếu bạn muốn tiếp tục đào sâu tư tưởng này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn phân tích kỹ hơn về một phẩm cụ thể (ví dụ: Phẩm Quán Nhân Duyên hoặc Phẩm Quán Đi Đến)?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa của cặp phạm trù "Duyên khởi và Tánh Không"?
1. Sách Phật Học Vấn Đáp
Tác Giả: Pháp Sư Tịnh Không
Nhóm Hoa Tạng Giảng Ký cung kính ghi chép
Download .doc: Phat-Hoc-Van-Dap-HT-Tinh-Khong-Nhom-Hoa-Tang-Ghi.doc
Download .pdf: Phat-Hoc-Van-Dap-HT-Tinh-Khong-Nhom-Hoa-Tang-Ghi.pdf
2. Học Phật Vấn Đáp 2004
Tác Giả: Pháp Sư Tịnh Không
Địa điểm: Hiệp Hội Phật Đà Giáo Dục Hồng Kông
Thời gian: 30-7-2004
THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH
Hán dịch: Đời Đường
Tam Tạng Pháp Sư HUYỀN TRANG phụng chiếu dịch
Việt dịch: HUYỀN THANH
* * *
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Bạc Già Phạm (Bhagavam) ngự tại Đạo Trường Trúc Ý ở Thất La Phiệt cùng với Chúng Đại Bật Sô gồm 2500 người và vô lượng số Bồ Tát Ma Ha Tát do Từ Thị Bồ Tát Maitra Bodhisatva) làm Thượng Thủ đến dự. Lại có vô lượng Bật Sô (Bhiksu), Bật Sô Ni (Bhiksunì), Ô Ba Sách Ca (Upàsaka), Ô Ba Tư Ca (Upàsìka) với các hàng Trời (Deva), Rồng (Nàga), Dược Xoa (Yaksa), Kiền Đạt Phộc (Gandharva), A Tố Lạc (Asura), Yết Lộ Trà (Garuda), Khẩn Nại Lạc (Kinnara), Mạc Hô Lạc Già (Mahoraga), Cưu Bạn Trà (Kumbhandha), Tỳ Xá Già (Pi’sàca), người (Manusya), Phi Nhân (Amanusya)… đại chúng vây quanh cung kính tôn trọng tán thán để rồi nói Pháp.
Con là Trợ Lý Phật Pháp AI. Quý Phật tử có câu hỏi gì cần tra cứu ngắn gọn từ 5 nguồn kinh điển (Chùa Khai Nguyên, Buddha Sutra, Thư Viện Phật Giáo, Đại Tạng Kinh & Truyện Phật Giáo)?