TINH HOA KHAI THỊ Tinh Hoa Khai Thị | Kinh Điển Tiêu Chuẩn Nên Đọc Cuốn Sách Nào Mà Toàn Dân Phải Đọc? Chuyển tải, Đường Thái Tông có công. Biên ra một bộ Quần Thư Trị Yếu. Nhà Đường trở về trước hơn 2500 năm, Thánh Hiền quân tử trị quốc bình thiên hạ, trí tuệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm, tinh hoa kết tập biên tập thành một quyển sách, quyển sách này trong thời kỳ mạt pháp là quyển sách cứu mạng. Trong đây nội dung là gì? Nội dung là phương pháp và lý niệm tu thân, tề gia, trị quốc, bình
Nhân Quả Thông Ba Đời, Nghiệp Báo Đều Tự Chuốc Lấy
Dưới đây chúng ta xem tiếp “bất khả tư nghì giả”, “tư” là tư duy, “nghì” là ngôn ngữ, bất khả tư nghì là “siêu tình ly kiến”, “tình” là bảy tình, là tình thức, “kiến” là cách nghĩ của quý vị, cách nhìn của quý vị. Bất khả tư nghì là siêu việt. Nói cách khác, đó không phải là tình kiến của ta có thể hiểu được, không phải là tình kiến của ta có thể nhìn thấy được. Cách giải thích sau là: là điều không phải tư duy ngôn ngữ của chúng sanh có thể đạt đến được. Cách giải thích này cũng rất hay. Là điều quý vị không thể tưởng tượng được. Dùng ngôn ngữ hiện nay nói: là thứ mà tri thức không đạt đến được, không có cách gì hiểu được. Đạo lý này rất sâu, rất rộng.
“Tà là hung tà bất chánh, ác là ác độc bất thiện”, đây là Hoàng Niệm Tổ giải thích, tà nghĩa là gì, ác nghĩa là gì. Hội sớ nói: “Tà là không ngay thẳng, ác là tội ác, tức dâm dật”. Bên dưới phiên âm về điều này: “Dật âm dật”, chữ ở dưới cũng đọc dật. “Sướng dã”, sướng nghĩa là gì? “Sướng là dâm đãng, phóng túng”. “Dâm” là dâm đãng, tham sắc. “Tham sắc không lấy lễ kết giao”, lễ ở đây chính là hôn lễ. Không nên có mối quan hệ hôn nhân như vậy, mối quan hệ này gọi là tà dâm. “Dâm là một trong mười điều ác”.
Nên khuyên người niệm Phật chớ cầu phước báo trời người. Như đem viên minh châu, đổi lấy sự no ấm bằng bữa ăn chiếc áo, há không đáng tiếc sao? Hãy nên nguyện sinh như kinh A Di Đà khuyến phát nguyện rằng: Chúng sinh nghe xong, hãy nên phát nguyện, nguyên sinh về nước Cực Lạc.
- Hôm nay chúng ta có khóa tu niệm Phật, kèm theo trai đàn chẩn tế bạt độ. Tại sao chúng ta làm như vậy. Khi ta niệm Phật mời gọi tất cả hương linh sanh trên đất nước này và chết trên đất nước này bằng nhiều cách khác nhau. Họ còn nhiều điều bất bình trong lòng nên thường tác động đến người thân còn sống làm cho bất an.
Kỳ Lộ Chỉ Quy
Ấn Quang Đại Sư giám định
Lý Đức Minh tham định
Chiến Đức Khắc biên thuật
(Lời người dịch:
Dịch giả không biết nhiều về tiếng Trung, chỉ dựa vào từ điển và các công cụ hỗ trợ dịch, vì vậy bản dịch nháp này chỉ mang tính chất tham khảo trong lúc chờ bản dịch hoàn chỉnh từ những dịch giả có kinh nghiệm.)
Đại Nguyện Nguyện 18 trong 48 Đại Nguyện của Phật A Di Đà : Nếu con được thành Phật, mà chúng sanh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sanh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở Ngôi Chánh Giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê Chánh Pháp.
Có người cứ nghĩ niệm phật để phật phò hộ, niệm phật để phật ban phước, niệm phật để phật tiêu tai giải nạn cho mình, thế là vô tình biến phật thành ông thần ban phước giáng họa. do mình tưởng như thế, tin như thế, chứ kỳ thực phật không ban phước giáng họa cho ai. bởi không ai có quyền năng ban phước giáng họa cả.
Tịnh Tu Tiệp Yếu
淨修捷要
Cư sĩ Hạ Liên Cư soạn
夏蓮居居士著
Lời Nói Đầu
Một pháp Tịnh tông dễ hành, khó tin. Nếu chẳng nghiên cứu biển giáo, sẽ chẳng thể nào hiểu được đôi chút bến bờ. Tuy kinh Hoa Nghiêm lấy mười nguyện để dẫn về, ngài Thiên Thân dùng năm phép niệm làm cửa [để vào], kẻ học hỏi nông cạn đời Mạt Pháp chẳng dễ gì tiến nhập. Ắt cần phải đọc kỹ Đại kinh (Vô Lượng Thọ Kinh) thì mới biết đại lược cương yếu. Nhưng người tu Tịnh nghiệp hiện thời, phần lớn chỉ trì Tiểu Bổn (A Di Đà Kinh), đối với Tiểu Bổn lại chỉ trì bản Tần dịch[1].
Miệng tụng Phật danh, mắt nhìn tượng Phật, tai lại nghe tiếng chính mình, âm thanh từ lưỡi phát ra, thiền vị vui sướng tấm lòng, mũi ngửi mùi hương. Niệm Phật như thế là xoay sáu căn trở về một, làm sao loạn được?
Nếu chúng ta cho việc cầu vãng sinh là tiêu cực, là lánh xa với hiện thực thì thật ra, chúng ta đã sai lầm, đã nhìn vấn đề một cách cạn cợt. Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật đặc biệt nói kinh chẳng phải là tiểu thừa, mà là kinh đại thừa.
Thứ nhất phiền não không còn. Cho dù phiền não không thể hoàn toàn hết nhưng cũng ít đi, vọng niệm ít, mọi người liền trở nên thông minh, có trí tuệ. Bạn được chuyển biến ngay tâm lý.
Đại sư Ấn quang nói: “Cầu Phật pháp trong sự cung kính là một phần lợi ích; mười phần cung kính là mười phần lợi ích”. Mọi người đều rất quen với câu nói này, nhưng rất ít người thực sự hiểu được ý nghĩa của “cung kính” và “cầu” pháp. “Cung” là “công tâm”, cùng với Phật cộng thành một tâm: hiểu rõ ý nghĩa của sự dạy dỗ của Đức Phật.
Chữ Phật có nghĩa là giác ngộ. Học Phật có nghĩa là học làm người giác ngộ, tức là “phá mê khai ngộ”. Tâm giác ngộ là tâm Bồ Tát, ngược lại, cái tâm mê hoặc điên đảo là cái tâm sinh tử luân hồi. Dùng cái tâm sinh tử luân hồi mà tu tất cả các pháp thiện thì cũng vô ích, cũng không thể thoát khỏi luân hồi. Tuy nhiên vẫn có được phước báo. Phước báo đó, theo như trong kinh nói, sẽ được sinh vào một trong sáu nẻo luân hồi nằm trong ba cõi, mà phước báo cao nhất là được sinh vào cõi Đại phạm thiên. Vua của cõi trời Đại phạm thiên vẫn là phàm phu, cũng không có cách gì để có thể thoát khỏi sự trôi lăn trong sáu nẻo. Hưởng hết phước báo rồi lại bị đọa lạc, luân hồi. Cho nên, làm Thượng đế cũng không phải là cứu cánh.
Người học Phật, không cần phải hình thức trang nghiêm, mà chỉ quý ở chỗ tu hành chơn chất.
Thế giới Cực Lạc đã xây dựng viên mãn thành tựu rồi. Không những là thế giới của Chân- Thiện- Mỹ- Huệ thành tựu viên mãn, tất cả những người vãng sinh về nơi đó, không một ai là không tu hạnh thanh tịnh. Tư tưởng, kiến giải, ngôn từ, tạo tác, không ai là không thanh tịnh đến cùng tột. Đều cực là trang nghiêm, tốt đẹp đến cực điểm!
Khi tôi còn làm học sinh cầu học với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi đã đọc “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao” do Pháp sư Từ Vân Quán Đảnh làm vào thời Càn Long tiền Thanh. Ở phía sau của “Sớ Sao”, Ngài nêu ra niệm Phật có một trăm loại quả báo khác nhau, quả báo thứ nhất là đọa A Tỳ Địa Ngục, quả báo sau cùng là thượng phẩm thượng sanh.
Phật pháp chia ra làm ba thời kỳ: lúc Phật còn tại thế cho đến một ngàn năm sau Phật nhập diệt là thời kỳ chánh pháp, thính chúng trực tiếp nghe Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán thuyết giảng, tự quán sát tu tập, vạn người tu đạo, vạn người chứng đạo. Sau một ngàn năm Phật nhập diệt, Tăng đoàn đại đệ tử toàn là những vị Bồ Tát, A La Hán truyền bá Phật pháp, hướng dẫn mọi người tu học, do ảnh hưởng tu tập của các vị Thánh Tăng, nên hàng đệ tử đối với sự chứng ngộ giải thoát có phần dễ dàng, trăm người tu năm bảy chục người chứng đạo; thời gian này cũng kéo dài cả ngàn năm sau thời chánh pháp được gọi là thời tượng pháp, từ năm Phật lịch 1000 đến năm 2000( Tây Lịch 500 – 1500). Thời kỳ mạt pháp bắt đầu từ Phật Lịch 2001 (DL1501) đến 10,000 năm sau. Hiện tại chúng ta đã ở thời kỳ mạt pháp khoảng 500 năm, nên biết rằng chỉ nương theo pháp môn niệm Phật mà thoát sanh tử, ngoài ra tu các pháp môn khác cũng tốt nhưng vạn người tu khó có được vài người chứng đạo giải thoát. Pháp môn tu cũng phải tùy thời tùy cơ phù hợp với điều kiện và phương tiện cho người tu; vì xã hội hiện tại cơ khí quá nhiều nên con người cũng trở thành quá cơ tâm; do đó chỉ y lục tự Nam Mô A Mi Đà Phật mới tiêu trừ được cơ tâm mà đưa người về nơi cõi Tịch Quang Tịnh Độ.
Phật sở hành xứ, quốc ấp khu tụ, mĩ bất mông hóa, thiên hạ hòa thuận, nhật nguyệt thanh minh, phong vũ dĩ thời, tai lệ bất khởi, quốc phong dân an, binh qua vô dụng, sùng đức hưng nhân, vụ tu lễ nhượng, quốc vô đạo tặc, vô hữu oan uổng, cường bất lăng nhược, các đắc kỳ sở.
HÀI HÒA CỨU VÃN NGUY CƠ (Vạn vật hài hoà, thiên hạ thái bình) Tập 3 NGUYÊN LÝ CĂN BẢN CỦA HÀI HÒA LÀ GÌ? PV: Hiện nay các quốc gia trên toàn thế giới đều đang liên tục phản tỉnh hệ thống giáo dục của mì nh để tìm xem rốt cuộc là vấn đề xuất phát từ đâu? Có thể nguyên nhân thất bại rất nhiều nhưng mọi người đều có chung một quan điểm là con người được bồi dưỡng theo hướng không biết chung sống hài hòa với người khác, không biết chung sống hài hòa với vạn vật trong tự nhiên, không biết chung sống hài hòa với lịch sử truyền thống văn hóa của mình. Con người hiện nay không biết xử lý tốt ba mối quan hệ này nên tự nhiên mới xuất hiện đủ thứ nguy cơ, đủ loại tai nạn. Vậy cần phải làm thế nào? vẫn là câu nói xưa của Trung Quốc là: “Ai gây ra chuyện, người ấy phải giải quyết”.