Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 36 - Bộ Hoa Nghiêm I - Số 274-278

Đại Tập 36 - Bộ Hoa Nghiêm I - Số 274-278

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 890.

Chương 32: Mục Lục (Trang 875 - 890)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 36




BỘ HOA NGHIÊM
1
SỐ 274 -278






HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu
    Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật Tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
     Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật Giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật Giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
    Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
    Tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
     Nay, tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh- Tiến sĩ Triết học- hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
     Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều
người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cáng đáng công việc to lớn này, nên tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
- Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v…
- Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, tôi ước mong quý vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
   Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời giúp nâng cao địa vị Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
    Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh, và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
    Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
                                                                                                                                 Sài Gòn ngày 16- 12- 1998
                                                                                                                                                        Hội Đồng Chứng Minh
LỜI NÓI ĐẦU
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-Nhã, là chìa khoá của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hoá, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhậm vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”*
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn
_______________
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb.1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc Triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thâm nhậm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học học bổn vi Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”

Từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; them vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện tại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như quý vị đang có trước mắt.
Chỉ có sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản và Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu)và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông Phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tư lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hoá dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tông giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó  tránh khỏi những khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tối xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào  công việc gian lao này. Sau hết, không quên ơn chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường
Viết tại chùa Pháp Bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH.
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-thuần...
V- Số: 
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt: 
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
BỘ HOA NGHIÊM
 
Kinh Hoa Nghiêm có tên đầy đủ là kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm hiện lưu hành có ba bộ. Bộ kinh do Phật-đà-bạt-đà-la dịch ra tiếng Hán vào đời Đông Tấn có 60 quyển, 34 phẩm, 36.000 kệ, được gọi là Cựu dịch Hoa Nghiêm, là bản kinh thịnh hành nhất. Bộ kinh do Thật-xoa-nan-đà dịch đời Đường có 80 quyển, 39 phẩm, 45.000 kệ, gọi là Tân dịch Hoa Nghiêm và ngoài ra có phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện được Bát-nhã tam tạng dịch ra 40 quyển vào năm Trinh Nguyên thứ 12 được người thường gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm.
Ngày nay khi nói về bộ Hoa Nghiêm thì chủ yếu chỉ vào ba bộ này. Tuy nhiên thuộc Bộ Hoa Nghiêm còn nhiều kinh khác mà từ ngữ Phật học gọi là các kinh biệt xuất, các kinh chi phái hoặc quyến thuộc hay cũng gọi chủ bạn…
Hoa nghiêm có nghĩa là trang nghiêm bằng hoa, một từ ngữ được dịch từ tiếng Phạm. Giáo lý Hoa Nghiêm là bản giáo do Đức Phật xứng tánh thuyết pháp lần đầu tiên những gì Đức Phật đã chứng ngộ ngay sau khi thành đạo.
Triết lý viên dung của Hoa Nghiêm xây dựng trên nền tảng Nhân quả mà cực điểm của nó là lý Pháp giới duyên khởi. Pháp giới duyên khởi trong Hoa Nghiêm chỉ ngay vào thể tánh của tất cả muôn pháp. Pháp giới duyên khởi, hay nói cách khác là sự duyên vào nhau mà sinh khởi và tồn tục của vũ trụ vạn hữu đều do Nghiệp cảm gây nên và vận hành. Vì vậy mọi hiện tượng hiện hữu đều có thể giải thích bằng nguyên lý Nghiệp cảm duyên khởi. Nghiệp là hành vi tạo tác. Nó vừa là kết quả của cái này đồng thời vừa là nguyên nhân của cái khác trong thế giới muôn trùng. Nơi dung chứa tàng trữ các nghiệp để có sự sinh khởi liên tục mà không bị tiêu mất hư hao, nơi đó gọi là Tàng thức. Do đó Pháp giới duyên khởi cũng được thuyết minh bởi lý A-lại-da duyên khởi. A-lại-da có nghĩa là Tàng thức, tức kho tàng chủng tử trong đó có chứa Như Lai nên cũng gọi là Như Lai tàng. Đây

Là chỗ cứu cực sâu thẳm nhất của giáo thuyết Hoa Nghiêm và được gọi là Như Lai tàng duyên khởi hay Chân như duyên khởi. Chẳng thế mà khi Phật thuyết giáo Hoa Nghiêm lần đầu tiên, người ta truyền tụng rằng cả thính chúng nghe rồi đều như câm như điếc không ai hiểu tí gì. Do đó Đức Phật đã thuyết các pháp dễ hơn, bắt đầu bằng bốn A-hàm và các giáo lý khác.
Như Lai tạng duyên khởi là những hoạt động ngăn che làm khuất lấp bản tánh Phật. Nhưng vì trong sự che khuất này có cả phần nhiễm lẫn phần tịnh mà nhiễm tịnh là một thể không hai. Chính vì vậy mười thứ bậc tu chứng trong Hoa Nghiêm là đặc biệt cho Đại thừa. Mười bậc là trình tự thẳng tiến của Bồ-tát nhưng cũng có thể làm mục tiêu cho bất cứ ai muốn tu tập để hướng đến những quả vị Hiền thánh trong tương lai. Bậc cuối cùng thứ mười là bậc Pháp vân địa. Thực tế đây là địa vị của Đức Phật, tức Phật địa nhưng được thể hiện nơi một Bồ-tát.
Giáo lý Hoa Nghiêm phát triển rực rỡ ở Trung Hoa vào đời nhà Đường với các cự tượng như Pháp Thuận và người đệ tử xuất sắc là Trí Nghiễm đã soạn mười huyền môn và sáu tướng viên dung pháp huy ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của Hoa Nghiêm. Mười huyền môn này về sau được Pháp Tạng sửa đổi lại gọi là Tân huyền môn như sau:
  1. Đồng thời cụ túc tương ưng môn: Đây nói lên sự lý tương quan tương liên của vạn vật đồng thời hiện hữu và đồng thời hiện khởi.
  2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn: Tức rộng hẹp đều tự tại vô ngại. Đây nói sự tương quan giữa mọi loài, trí ngu, phàm thánh đều có thể tự do tương giao, hoàn toàn không chướng ngại.
  3. Nhất đa tương dung bất đồng môn: Đây nói một và nhiều đều có sự dung chứa lẫn nhau. Dù hiện hữu có sự bất đồng nhưng cũng có điểm tương đồng. Một ở trong tất cả, tất cả ở trong một.
  4. Chư pháp tương tức tự tại môn: Đây là sự đồng nhất phổ biến của vạn vật, dù cho hiện hữu có ngàn sai muôn khác. Tương tức là lý không hai. Nói cái này cái kia nhưng thực thể cái này và cái kia không hai không khác. Cái này tức cái kia, cái kia tức cái này.
  5. Ẩn mật hiển liễu cấu thành môn: Đây là lý hỗ tương chi trì làm
Cho hiện hữu tồn tại.
6. Vi tế tương dung an lập môn: Đây nói các pháp vi tế đều dung nhau mà an lập. Cho đến các pháp vi tế như những vật chất bé nhỏ mà mắt người không nhìn thấy, giác quan người không cảm nhận được cũng đều an lập theo lý sinh thành tồn tục.
7. Nhân-đà-la võng cảnh giới môn: Đây là cảnh giới của lưới Nhân-đà-la, nói về sự tác dụng phản chiếu nhiều trùng nhiều lớp của những sự kiện thực tế của thế giới.
8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn: Đây là nương vào Sự làm rõ Pháp, thuyết minh chân lý qua những biểu lộ trong sự vật và lấy đó làm nguồn gốc của giác ngộ.
9. Thập thế cách pháp dị thành môn: Đây là nói sự thành tựu nhiều mặt qua mười thời gian tạo thành một thực thể. Quá khứ, hiện tại, vị lai như một chuỗi thời gian mà mỗi thời đều chứa đựng ba thời. Như vậy là chín thời, và chúng hợp lại một thời duy nhất. Vậy chín với một là mười tuy khác biệt nhưng thu nhiếp lẫn nhau.
 10. Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn: Đây nói sự thành tựu của các đức lành, trong đó chủ bạn hay chủ tớ đều hòa đồng hoạt động một cách đồng đều.
Ngoài mười huyền môn này, cũng gọi là Hoa Nghiêm nhất thừa thập huyền môn, hay Thập huyền duyên khởi vô ngại pháp môn, còn có sáu tướng viên dung tức nói sáu bản chất đặc biệt dung thông của tất cả các pháp. Đó là:
  1. Tổng tướng: Tướng chung của một sự vật hay một pháp nào đó.
  2. Biệt tướng: Tướng riêng của một bộ phận ở trong toàn bộ.
  3. Đồng tướng: Tướng giống nhau, có tính đồng điệu hòa hợp khi tạo thành một toàn bộ.
  4. Dị tướng: Tướng riêng khác mặc dù có đồng điệu hòa hợp trong một toàn bộ.
  5. Thành tướng: Tướng tạo thành một tổng tướng mặc dù có nhiều biệt tướng.
  6. Hoại tướng: Tướng riêng biệt không mất, mặc dù chúng kết hợp thành tổng tướng.
Thập huyền môn và Lục tướng dung thông là giáo thuyết cơ bản của Hoa Nghiêm mà Pháp Tạng có thề nói là người có công trong việc hệ thống hóa toàn bộ tư tưởng Hoa Nghiêm.
Ban Biên Tập
MỤC LỤC
(PHÁP HOA – BỘ 2)
SỐ 274 – KINH TẾ CHƯ PHƯƠNG ĐẲNG HỌC ......................................................... 3
Số 275 – KINH ĐẠI THỪA PHƯƠNG QUẢNG TỔNG TRÌ ...................................... 23
Số 276 – KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA ........................................................................... 39
PHẨM 1: ĐỨC HẠNH .................................................................................................... 39
PHẨM 2: THUYẾT PHÁP .............................................................................................. 45
PHẨM 3: MƯỜI CÔNG ĐỨC ........................................................................................ 50
SỐ 277 – PHẬT NÓI KINH QUÁN PHỔ HIỀN BỒ-TÁT HÀNH PHÁP .................. 59
(HOA NGHIÊM – BỘ 1)
Số 278 – KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM ............................... 79
QUYỂN 1 ......................................................................................................................... 79
PHẨM 1: MẮT THANH TỊNH CỦA THẾ GIAN (PHẦN 1) ....................................... 79
QUYỂN 2 ....................................................................................................................... 105
PHẨM 1: MẮT THANH TỊNH CỦA THẾ GIAN (PHẦN 2) ..................................... 105
PHẨM 2: PHẬT LÔ-XÁ-NA (PHẦN 1) ...................................................................... 127
QUYỂN 3 ....................................................................................................................... 135
PHẨM 2: PHẬT LÔ-XÁ-NA (PHẦN 2) ...................................................................... 135
QUYỂN 4 ....................................................................................................................... 170
PHẨM 2: PHẬT LÔ-XÁ-NA (PHẦN 3) ...................................................................... 170
PHẨM 3: DANH HIỆU NHƯ LAI .............................................................................. 190
PHẨM 4: BỐN THÁNH ĐẾ (PHẦN 1) ....................................................................... 196
QUYỂN 5 ....................................................................................................................... 200
PHẨM 4: BỐN THÁNH ĐẾ (PHẦN 2) ....................................................................... 200
PHẨM 5: QUANG MINH GIÁC NGỘ NHƯ LAI ..................................................... 202
PHẨM 6: BỒ-TÁT THUYẾT MINH CÂU HỎI .......................................................... 224
QUYỂN 6 ....................................................................................................................... 240
PHẨM 7: TỊNH HẠNH ................................................................................................. 240
PHẨM 8: BỒ-TÁT HIỀN THỦ (PHẦN 1) ................................................................... 259
QUYỂN 7 ....................................................................................................................... 279
PHẨM 8: BỒ-TÁT HIỀN THỦ (PHẦN 2) ................................................................... 279
PHẨM 9: PHẬT LÊN ĐỈNH NÚI TU-DI .................................................................... 304
PHẨM 10: BỒ-TÁT VÂN TẬP NÓI KỆ Ở ĐIỆN DIỆU THẮNG (PHẦN 1) .......... 306
QUYểN 8 ....................................................................................................................... 314
PHẨM 10: BỒ-TÁT VÂN TẬP NÓI KỆ Ở ĐIỆN DIỆU THẮNG (PHẦN 2) .......... 314
PHẨM 11: MƯỜI TRỤ CỦA BỒ-TÁT ........................................................................ 321
PHẨM 12: PHẠM HẠNH ............................................................................................. 340
QUYỂN 9 ....................................................................................................................... 344
PHẨM 13: CÔNG ĐỨC BỒ-TÁT MỚI PHÁT TÂM .................................................. 344
QUYỂN 10 ..................................................................................................................... 385
PHẨM 14: THUYẾT MINH VỀ PHÁP ....................................................................... 385
PHẨM 15: PHẬT TỰ TẠI LÊN CUNG TRỜI DẠ-MA .............................................. 400
PHẨM 16: CUNG TRỜI DẠ-MA, BỒ-TÁT NÓI KỆ ................................................. 403
QUYỂN 11 ..................................................................................................................... 417
PHẨM 17: MƯỜI HẠNH CỦA BỒ-TÁT CÔNG ĐỨC HOA TỤ (PHẦN 1) ............ 417
QUYỂN 12 ..................................................................................................................... 438
PHẨM 17: MƯỜI HẠNH CỦA BỒ-TÁT CÔNG ĐỨC HOA-TỤ (PHẦN 2) ........... 438
PHẨM 18: MƯỜI KHO VÔ TẬN CỦA BỒ-TÁT ....................................................... 451
QUYỂN 13 ..................................................................................................................... 467
PHẨM 19: NHƯ LAI ĐẾN TẤT CẢ ĐIỆN BÁU Ở CUNG TRỜI ĐÂU-SUẤT ...... 467
QUYỂN 14 ..................................................................................................................... 488
PHẨM 20: TẠI THIÊN CUNG ĐÂU-SUẤT, CÁC BỒ-TÁT TẬP HỢP KHEN NGỢI ĐỨC PHẬT      488
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 1) .. 503
QUYỂN 15 ..................................................................................................................... 523
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 2) .. 523
QUYỂN 16 ..................................................................................................................... 547
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 3) .. 547
QUYỂN 17 ..................................................................................................................... 569
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 4) .. 569
QUYỂN 18 ..................................................................................................................... 593
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 5) .. 593
QUYỂN 19 ..................................................................................................................... 618
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 6) .. 618
QUYỂN 20 ..................................................................................................................... 645
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 7) .. 645
QUYỂN 21 ..................................................................................................................... 669
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 8) .. 669
QUYỂN 22 ..................................................................................................................... 690
PHẨM 21: MƯỜI HỒI HƯỚNG CỦA BỒ-TÁT KIM CANG TRÀNG (PHẦN 9) .. 690
QUYỂN 23 ..................................................................................................................... 719
PHẨM 22: MƯỜI ĐỊA (PHẦN 1) ................................................................................ 719
QUYỂN 24 ..................................................................................................................... 746
PHẨM 22: MƯỜI ĐỊA (PHẦN 2) ................................................................................ 746
QUYỂN 25 ..................................................................................................................... 776
PHẨM 22: MƯỜI ĐỊA (PHẦN 3) ................................................................................ 776
QUYỂN 26 ..................................................................................................................... 814
PHẨM 22: MƯỜI ĐỊA (PHẦN 4) ................................................................................ 814
QUYỂN 27 ..................................................................................................................... 844
PHẨM 22: MƯỜI ĐỊA (PHẦN 5) ................................................................................ 844
/32
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »