Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

Tác giả: Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 179.

Chương 3: Bài Thứ Hai: Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Trang 21 - 36)

BÀI THỨ HAI
 
LƯỢC SỬ
ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
(Từ giáng sanh đến Thành đạo)
 
  • MỞ ĐỀ
ĐỜI ĐỨC PHẬT THÍCH CA LÀ MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG
Bất luận một Tôn giáo nào, vị Giáo chủ bao giờ cũng là một tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Nhưng trong các vị Giáo chủ của các tôn giáo hiện có trên thế giới này, không có một vị nào đầy đủ ý nghĩa cao đẹp, một đời sống sâu xa bằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mỗi một hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, cho đến mỗi sự im lặng của Ngài đều là bài học quý báu cho chúng ta. Nếu chúng ta học giáo lý của Ngài mà không hiểu rõ đời sống của Ngài, thì sự học hỏi của chúng ta còn phiến diện, thiếu sót. Đời Ngài chính là những biểu hiện giáo lý của Ngài. Ngài nói và Ngài thực hành ngay những lời Ngài đã nói. Đời Ngài là một bằng chứng hiển nhiên để người đời nhận

thấy rằng giáo lý của Ngài có thể thực hiện được, chứ không phải là những lời nói suông, những không tưởng, những lâu đài xây dựng trên mây, trên khói.
Vậy cho nên khi chúng ta học hỏi đời Ngài, chúng ta không nên có cái quan niệm học cho biết để thỏa mãn tánh hiếu kỳ, mà chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa thâm thúy của đời sống ấy để đem áp dụng cho đời sống của chúng ta.
Làm được như thế mới khỏi phụ ý nguyện lớn lao của Đức Phật khi giáng sanh xuống cõi Ta bà này là đã cam chịu bao nỗi đau khổ, gian lao trong kiếp sống như mỗi con người chúng ta.
B- CHÁNH ĐỀ
  • ĐỊNH NGHĨA HAI CHỮ “GIÁNG SINH”
Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của Đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, sáng lạn cho cõi đời); hay thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của ta thấy được); hay giáng
sanh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra).
Ba chữ ấy đều có ba ý nghĩa khác nhau: Chữ đản sanh dùng để ca tụng một bậc tôn quý ra đời; chữ thị hiện hàm cái ý Phật bao giờ cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ giáng sanh hàm ý cái Đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này. Ba chữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của Đức Phật. Trái lại, khi một người phàm ra đời thì gọi là “đầu thai”. Đầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo hoặc thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ. Còn giáng sanh hay thị hiện thì không hàm cái nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng từ bi, muốn lợi ích cho chúng sanh; xong xuôi thì thâu thần tịch diệt, tự tại vô ngại ra ngoài sống chết.
II. HOÀN CẢNH VÀ DÒNG DÕI CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA
Đức Phật giáng sanh ở xứ Trung Ấn Độ, nay là nước Népal, một nước ở ven sườn dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, là một dãy núi cao nhất
thế giới. Phong cảnh ở đây rất đẹp; đến mùa xuân là cả nước đơm bông nảy lá như một vườn hoa vĩ đại. Dân cư ở xứ ấy rất là thuần lương. Vị vua trị vì là Tịnh phạn, một vị vua thuộc dòng Thích Ca, là một dòng họ lớn đã mấy mươi đời nối nghiệp trị vị đất nước này. Bà Hoàng hậu Ma Da, cũng là một người thuộc dòng dõi vua chúa đã lâu đời. Cả hai ông bà vua Tịnh Phạn đều là người đã nhiều kiếp tu hành, có đức hạnh lớn, xứng đáng là cha mẹ muôn dân.
Một hôm, trong thành Ca Tỳ La Vệ, là kinh đô của vua Tịnh Phạn, có lễ vía Tinh tú, vua tôi cùng nhau mở yến hội. Hoàng hậu Ma Da, sau khi dâng hương hoa cúng kiến trong cung điện rồi, ra ngọ môn bố thí thức ăn, đồ mặc cho dân bần cùng. Khi trở về cung an giấc, bà nằm mộng thấy con voi trắng sáu ngà từ trên hư không xuống, lấy ngà khai hông bên phải của bà mà chun vào. Bà đem điềm chiêm bao ấy thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe. Vua ra lệnh mời các thầy đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng: “Hoàng hậu sẽ sanh một quý tử tài đức song toàn”. Vua Tịnh Phạn rất mừng rỡ, vì ngôi báu từ đây sẽ có người truyền nối.
Đến sáng ngày mồng tám tháng tư âm lịch (trước Tây lịch 624 năm), tại vườn Lâm Tỳ Ni,
cách thành Ca Tỳ La Vệ 15 cây số, Hoàng hậu Ma Da đang ngoạn cảnh, thông thấy cành hoa Vô ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải với hái, thì liền hạ sanh Thái tử.
Ngày đảnh sanh Thái tử, trong thành Ca Tỳ La Vệ, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương.
Vua Tịnh Phạn vui mường khôn xiết mời các vị tiên tri đến xem tướng Thái tử. Trong số ấy, có vị đọa sĩ tên A Tư Đà tu ở núi Hy Mã Lạp Sơn, tiên đoán rằng: Thái tử vì có 32 tướng tốt xuất hiện, nên sẽ trở thành một vị Thánh. Nhưng vua Tịnh Phạn chỉ muốn con mình trở thành một vị vua để nối dõi tông đường mà thôi. Vì thế, Tịnh Phạn muốn đổi số mệnh con mình, nên đặc tên Thái tử là Tất Đạt Đa (Siddartha) theo tiếng Phạn, nghĩa là “Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ”. Chức vị mà Tịnh Phạn vương muốn ám chỉ đây tức là ngôi Vua. Ngài không ngờ rằng chính thật chức vị của con Ngài là chức vị Phật.
Hoàng hậu Ma Da sau khi sanh Thái tử được bảy ngày, vui thú quá vì thấy mình đã
làm tròn nhiệm vụ cao quý, và đã rửa sạch được nghiệp báo, nên bà trút được xác phàm mà trở về cung trời Đao Lợi. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho em gái Hoàng hậu là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng.
III. TÀI NĂNG VÀ ĐỨC HẠNH CỦA THÁI TỬ
Thái tử mỗi năm mỗi lớn, thì diện mạo càng thêm khôi ngô, tài năng càng phát lộ gấp bội. Ngài có một sức khỏe hơn người, một trí thông minh xuất chúng, từ nghề văn đến nghiệp võ, Thái tử họ với ông nào thì trong ít hôm sau, vị giáo sư ấy phải xin cáo thối, vì không còn đủ sức để dạy nữa. Cho đến ông thầy danh tiếng nhất thời bấy giờ là Sằn Đề Đề Bà cũng chịu khuất phục Ngài luôn.
Nhưng, mặc dù tài sức hơn người, thông minh xuất chúng, lại ở trong địa vị cao sang quyền quý tột bậc, Thái tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Ngài có một thái độ rất nhã nhặn ôn hào, vô tư, bình đẳng. Lòng thương người, thương vật của Ngài không ai sánh kịp, hễ có dịp giúp đỡ, thì dù khó khăn bao nhiêu Ngài cũng không từ nan. Bởi thế, Ngài được trên vua cha yêu quý, dưới thần dân kính trọng, nể vì.
IV. NHỮNG RÀNG BUỘC CỦA TỊNH PHẠN ĐỂ NGĂN CHÍ XUẤT GIA CỦA THÁI TỬ
Càng thương yêu quý trọng con, Tịnh Phạn vương lại còn lo sợ con mình sẽ không ở lại với mình, mà sẽ xuất gia tìm Đạo để thành một vị Thánh, như lời tiên đoán của đạo sĩ A Tư Đà. Nhất là khi nhận thấy càng lớn, Thái tử lại càng tỏ vẻ suy nghĩ xa xăm, và nét mặt Thái tử lại càng tỏ vẻ không vui tươi như thời còn thơ ấu, vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ rằng lời tiên tri xưa sẽ thành hiện thực. Bởi thế, vua cùng triều thần ngấm ngầm sắp đặt mọi kế hoạch để ràng buộc Thái tử ở lại ngôi báu. Ngài truyền xây dựng ba tòa lâu đài nguy nga tráng lệ để Thái tử thay đổi nơi ăn chốn ở cho hợp thời tiết quanh năm, và chọn từng trăm cung phi, mỹ nữ có tài đàn ca hay, múa giỏi để giải khuây cho Thái tử. Nhưng chừng ấy cũng chưa đủ, Ngài còn làm lễ thành hôn cho Thái tử với một Công chúa con vua Thiện Giác là nàng Da Du Đà La, một công chúa tuyệt đẹp và đức hạnh vô cùng.
Thái tử bị bắt buộc phải lập gia thất và có một con là La Hầu La.
Nhưng mặc dù sống một cuộc sống quá đầy đủ: nào chức tước danh vọng, nào lầu đài cung điện, nào đàn ca múa hát, nào vợ đẹp con

ngoan. Thái tử vẫn thấy lòng mình nặng trĩu bao nỗi băn khoăn, thắc mắc. Ngài cho cảnh đời Ngài đang sống đây không phải là hạnh phúc chân thật, mà là cảnh giả dối, mê muội, chỉ làm cho kiếp sống thêm nặng nề đau khổ. Ngài thấy cần phải tìm một lối thoát, một cuộc sống chân thật, có ý nghĩa và cao đẹp hơn.
V. NHẬN THẤY 4 TƯỚNG KHỔ Ở ĐỜI
Một hôm, nhân ngày lễ hạ điền, Thái tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cày cấy. Cảnh xuân, mới nhìn qua, thật đẹp mắt, nào hoa lá tốt tươi, muôn chim đua hót; nào bầu trời quang đãng, gió xuân phơi phới, cảnh tượng có vẻ thanh bình, an lạc lắm. Nhưng tâm hồn Thái tử không phải là một tâm hồn hời hợt, xét đoán một cách nông nỗi. Trái lại, Ngài nhìn sâu trong cảnh vật và đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ an vui như khi mới nhìn qua. Ngài thấy người nông phu và trâu bò làm việc một cách cực nhọc dưới ánh nắng thiêu đốt, để đổi lấy bát cơm, nắm cỏ. Chim chóc tranh nhau ăn tươi nuốt sống côn trùng đang giãy giụa trên những luống đất mới cày. Cũng trong lúc ấy, trong bụi rậm người thợ săn đang nhắm bắn những con chim kia, và trong khu rừng gần đấy, bọn hổ báo đang rình bắt người thợ săn; thật là
một cảnh tương tàn, tương sát, không phút giây nào ngừng! Chỉ vì miếng ăn để sống mà người và vật dùng đủ mọi phương kế để giết hại lẫn nhau không biết gớm. Ngài nhận thấy rõ ràng sự sanh sống là khổ.
Một hôm khác, Ngài xin phép vua cha đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân. Ra đến cửa Đông, Ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, nương gậy lần từng bước đi ngập ngừng như sắp ngã.
Đến cửa Tây, Ngài trông thấy một cái thay chết nằm giữa đường, ruồi lằn bu bám và sình lên trông rất ghê tởm.
Ba cảnh khổ già, đau, chết, cộng thêm vào cái ấn tượng tương tàn tương sát khi đi xem lễ cày ruộng, làm cho Ngài đau buồn, thương xót chúng sanh vô cùng.
Một hôm khác nữa, Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tĩnh, và thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường. Thái tử thấy trong lòng
nẩy sanh một cảm mến đến với vị tu sĩ. Ngài vội vã đến chào mừng và hỏi về lợi ích của sự tu hành. Vị Sa môn đáp rằng: “Tôi tu hành là quyết dứt bỏ mọi sự ràng buộc giữa cõi đời, để cầu cho mình khỏi khổ và được thành Chánh giác để phổ độ chúng sanh đều được giải thoát như mình”.
Lời giải đáp đã dùng với hoài bảo mà Thái tử đang ấp ủ bấy lâu, nên Ngài khôn xiết vui mừng. Ngài liền trở về cung, xin vua cha cho mình xuất gia. Vua Tịnh Phạn không nhận lời. Thái tử yêu cầu vua cha 4 điều, nếu vua giải quyết định được thì Ngài sẽ hoãn cuộc đi tu, để ở lại lo chăn dân, trị nước. Bốn điều ấy là:
  1. Làm sao cho con trẻ mãi không già.
  2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau.
  3. Làm sao cho con sống hoài không chết.
  4. Làm sao cho mọi người hết khổ.
Bốn điều này làm cho vua cha bối rối, không thể giải quyết được một điều nào cả.
VI. SỰ XUẤT GIA TÌM ĐẠO
Tịnh Phạn vương, khi biết được ý định xuất gia của Thái tử, lại càng lo sợ, tìm hết cách để ngăn cản, ràng buộc Ngài trong “Cung Vui”.
Nhưng một khi Thái tử đã quyết, thì không có sức mạng gì ngăn trở được ý định của Ngài.
Một đêm khuya, thừa dịp quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ say ngủ sau một cuộc yến tiệc linh đình, Thái tử lén trổi dậy, nhìn vợ con từ biệt một lần cuối, rồi đánh thức tên giữ ngựa Xa Nặc dậy, thắng yên cương, và hai thầy trò cùng nhau trốn ra khỏi thành. Lúc bấy giờ nhằm đêm mồng tám tháng hai, và Ngài đã 19 tuổi.
Sau khi dứt bỏ cuộc đời vương giả, Thái tử đi vào rừng sâu tìm Đạo.
Ban đầu, Ngài đến ở tu với các vị tu khổ hạnh, những hạng người này sống một cách kham khổ, nhịn ăn nhịn uống, dãi nắng, dầm sương, hành thân hoại thể một cách rất ghê rợn. Thấy cách tu hành như thế không có hiệu quả, Ngài khuyên các vị ấy nên bỏ phương phấp tu hành ấy, nhưng họ không nghe. Ngài lấy làm thương cho họ, bèn tìm nơi khác mà tu hành. Ngài đi hết chỗ này đến chỗ khác, ở đâu nghe nói có vị tu hành đắc đạo thì Ngài tìm đến học; nhưng đến đâu Ngài thấy Đạo của học cũng còn hẹp hòi, thấp thỏi, không thể gải thoát cho con người hết khổ được. Từ đấy, Ngài tìm chốn tu tập một mình,
đêm ngày nghiền ngẫm đến đạo giải thoát, quên ăn bỏ ngủ, thân hình mỗi ngày mỗi tiều tụy. Một hôm Ngài kiệt sức, nằm ngã lịm trên cỏ, và được một người chăn cừu đến đổ sữa cho Ngài tỉnh lại. Từ đó, Ngài nhận thấy nếu muốn tìm đạo có kết quả, cần phải bồi dưỡng thân thể cho được mạnh khỏe, chú không thể bỏ quên nó đi được.
Khi thấy mình đã đầy đủ sức lực để chiến đấu trong một trận chiến cuối cùng với bóng tối si mê và dục vọng, và đem lại ánh sáng giác ngộ, Ngài đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng: “Nếu Ta không thành Đạo thì dù thịt nát xương tan, Ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”.
VII. THÀNH ĐẠO
Đức Thích Ca đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới gốc Bồ đề. Trong 49 ngày ấy, Ngài đã chiến đấu với bọn giặc nội tâm như tham, sân, si, mạn, nghi.... và chiến đấu với bọn giặc thiên ma do ma vương Ba tuần chỉ huy.
Sau khi thắng được giặc cả cở nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ
Trong đêm 49, vào canh hai, Ngài chứng được quả “Túc mệnh minh”, thấy rõ được tất cả quảng đời quá khứ của mình trong tam giới. Đến nửa đêm, Ngài chứng được quả “Thiên nhãn minh”, thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và nguyên nhân cấu tạo của nó.  Đến canh tư, Ngài chứng được quả “Lậu tận minh”, rõ biết nguồn gốc của đau khổ và phương pháp dứt trừ đau khổ để được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Từ ngày ấy, Ngài được Đạo Vô thượng, thành bậc “Chánh Đẳng Chánh Giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày thành đạo của Ngài tính theo âm lịch là ngày mồng 8 tháng 12, vào lúc sao mai vừa mọc. Lúc ấy Ngài được 30 tuổi.
VIII. Ý NGHĨA CAO CẢ TRONG SỰ XUẤT GIA TÌM ĐẠO CỦA ĐỨC PHẬT
Những tướng sĩ chiến thắng quân địch ở ngoài chiến trường, thường được ca tụng là anh hùng. Càng chiến thắng được nhiều quân địch ở ngoài chiến trường, thường được ca tụng là anh hùng. Càng chiến thắng được càng nhiều quân địch lại càng được hoan hô là anh hùng. Nhưng những kẻ anh hùng cái thế ấy, như Nă Phá Luân, Thành Cát Tư Hãn, Xê Da (César), đã có
ai chiến chiến thắng được những dục vọng của chính mình? Cho nên thắng người đã khó tháng mình lại còn khó hơn. Đức Phật đã thắng được cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được cả giặc Ma vương lẫn giặc Dục vọng. Đức Phật thật xứng đáng với các danh hiệu Đại Hùng, Đại Lực.
Ngài không phải vì quyền lợi riêng mình mà chiến đấu. Ngài chiến đấu vì tình thương. Mà tình thương ở đây không phải chỉ nằm trong phạm vi hẹp hòi của gia đình: thương cha me, vợ con, bè bạn. Tình thương ở đây là tình thương đối với tất cả chúng sanh, tất cả cõi đời. Tình thương ấy nó rộng sâu như trời bể, thiết tha như tình mẹ thương con. Đức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Đại Từ, Đại Bi.
Lại vì tình thương ấy, Ngài đã hoan hỷ lìa bỏ ngôi báu, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, đàn hay múa đẹp, mùi ngon vị lạ, để sống một cuộc đời kham khổ, đạm bạc, thiếu thốn, giữa rừng thiên nước độc. Và một khi đã rời bỏ những thứ mà người đời cho là quý báu nói trên, Ngài không một phút giây nào hối tiếc, muốn quay về để hưởng thụ lại. Bằng cớ là Ma vương đã sai con gái mình giả làm nàng Da Du đến kêu gọi van xin Ngài trở về cung mà Ngài cũng không chút động tâm thối
chuyển. Ngài thật xứng với danh hiệu Đại Hỷ, Đại Xả.
Cho nên ngày nay, mỗi khi xưng tán danh hiệu Ngài, chúng ta không thể không suy ngẫm cái ý nghĩa sâu sắc, và đúng đắn mà người đời từ xưa đến nay đã tôn xưng Ngài là Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả.
C. KẾT LUẬN
CHÚNG TA NÊN PHÁT TÂM RỘNG LỚN VÀ MẠNH MẼ
Chúng ta đã được biết qua đời sống của Đức Phật từ khi sơ sinh đến khi thành đạo. Bài học của đời Ngài dạy cho chúng sanh nhiều ý nghĩa, nhiều phương diện quý báu.
Những điều quý báu nhấy cho những người sơ cơ như chúng ta là phải phát tâm Bồ đề rộng lớn, nguyện vì đời, vì đồng bào, đồng loại mà tu hành, chứ không phải vì lợi ích riêng cho mỗi cá nhân chúng ta.
Chúng ta lại phải phát tâm dõng mãnh, tích cực trong sự tu hành; một khi đã vào đường đạo, thì dù gặp nguy nan, hiểm trở khó khăn cũng nhất quyết không thối lui quay gót. Chúng ta phải tập cho được cái
đức kiên chí như Đức Phật khi ngồi thiền định dưới gốc Bồ đề.
Được như vậy mới xứng đáng là “Chơn chánh Phật tử”.
HOẰNG PHÁP
/11
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »