Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Giải Trình Ý Nghĩa Vu Lan

Giải Trình Ý Nghĩa Vu Lan

Tác giả: Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2006. Số trang: 190.

Chương 5: Quyển Thượng (Trang 26 - 33)

Quyển thượng
 
  Tôi nghe như vầy: Một thủa nọ, đức Phật cùng với 1250 vị Tỳ-kheo an cư tại gốc cây Ba- lợi-chất-đa-la trong vườn hoan hỉ, nơi cung trời Đao Lợi.
  Bấy giờ, Phật bảo đồng tử Văn-thù-sư-lợi: “Ông hãy đến chỗ Mẫu hậu Ta báo tin rằng Ta đang ở tại đây, xin Mẫu hậu tạm thời dời gót đến nơi này đánh lễ Tam bảo. Ông nhớ đọc thuộc bài kệ này, rồi đến đó đọc lại cho Mẫu thân ta nghe:
Thích-ca đại Tiên sư
Thành tựu nhất thiết trí
Ở tại Diêm-phù-đề
Như vị trời ngàn mắt
Ân cần tình khát ngưỡng
Muốn gặp mặt Mẫu thân
Xưa kia tại Vương cung
Sinh con được 7 ngày
Liền siêu thăng Thiên giới
Di mẫu dưỡng nuôi con
Đến khi thành Chánh giác
Giáo hóa độ chúng sinh
Nay đến tại nơi này
Thuyết pháp báo mẫu ân
Mong mẹ cùng quyến thuộc
Quang lâm đến nơi ấy
Kính lễ Phật Pháp Tăng
Cùng thọ pháp thanh tịnh.
 Khi ấy, Văn- thù lãnh giáo chỉ của Phật liền đến chỗ Ma-ha-ma-da trình bày đầy đủ lời Phật dạy và đọc lên bài kệ đó. Khi nghe xong lời kệ đôi vú của Ma-ha-ma-da liền vọt sữa ra, bà bén nói: “ Nếu chắc chắn vị ấy là Tất-đạt-đa, con Ta sinh ra, thì hãy khiến cho những giọt sữa này rơi vào miệng người ấy.”. Khi bà nói dứt lời thì vú bà vọt ra sữa trắng như hoa sen và rơi vào miệng của Như Lai “ Thấy được điều ấy, bà mừng rỡ khôn cùng, liền nói với Văn-thù-sư-lợi: ‘‘Từ khi Ta với Phật làm mẹ con cho đến nay, chưa có lúc nào được hoan hỉ an lac như giây phút này. Chẳng khác gì một người đang đói khát cùng cực mà được thưởng thức một bữa ăn thịnh soạn. Niềm vui của Ta giờ đây cũng tựa hồ như thế.”.
 Thế rồi, bà cùng Văn-thù đi đến chỗ Phật. Từ xa Phật nhìn thấy Mẫu hậu, lòng rung động cảm kích tột cùng. Đến khi tới gần, Phật liền nói với mẹ “Thưa Mẫu từ, cái thân này đã trải qua vui khổ quá nhiều, giờ đây cần phải tu tập pháp Niết Bàn để vĩnh viễn xa lìa những điều vui khổ ấy.”.

Nghe lời Phật nói, bà cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ, rồi cảm thán đọc lên bài kệ:
“Ông từ vô sô kiếp,
Thường uống sữa của Ta
Nay lìa sinh già chết
Thành tựu Vô thượng đạo
Hãy báo ân sinh dưỡng
Giúp ta đoạn ba độc
Quy mạng Đại trượng phu
Vô tham, ban ân huệ
Quy mạng bậc Điều ngự
Tối thuợng không gì hơn
Quy mạng Thầy trời người
Biết lìa si ái kết
Ngày đêm cả ba thời
Nhớ nghĩ không đoạn tuyệt
Cúi đầu thành kính lễ
Bậc Vô thượng Pháp vương.
 Bấy giờ, Thế Tôn thưa với Mẫu thân: “Xin từ mẫu hãy lắng nghe, khéo suy nghĩ những điều sau đây:
Giáo pháp này đoạn đầu,
Đoạn giữa và đoạn cuôi
Đều thuần thiện, thanh tịnh
Nghĩa lý rất sâu xa,
Ngôn từ thật kỳ diệu,
Thuần nhất không pha tạp,
Thể hiện tướng phạm hạnh,
Trong sáng và vẹn toàn.”
 Sau khi nghe Phật tuyên thuyết, Ma-ha-ma-da nương nhờ uy thần của Phật nên nhớ lại các kiếp quá khứ đồng thời cũng đã đến lúc thiện căn của bà thuần thục, nên đoạn trừ sạch kiết sử sâu dày trong 80 ức kiếp, chứng được quả vị Tu-đà-hoàn. Bà liền đứng dậy, chấp tay bạch với Phật: “Ngục từ sinh tử từ nghìn đời giờ đây đã dứt sạch, Ta chứng được đạo quả giải thoát tự tại.”.
 Rồi bà kể lại muôn triệu kiếp quá khứ mà mình đã trải qua: Khi thì ta làm Chuyển Luân Thánh Vương, cai trị 4 phương thiên hạ, đầy đủ mọi thứ châu báu. Nhưng chẳng bao lâu sau đó ta lại làm ếch nhái; rồi chẳng bao lâu lại làm kẻ bần tiện, chạy đông chạy tây tìm kế sinh sống, tất bật với những thứ cơm áo gạo tiền; chẳng bao lâu lại làm đại phú trưởng giả, tích trữ của cải hàng vạn ức, danh tiếng đồn vang; chẳng bao lâu ta lại lên cung trời, ăn uống những vị cam lồ, hưởng thọ khoái lạc thoải mái; chẳng bao lầu, ta lại rơi xuống địa ngục, uống nước đồng sôi nuốt hòn sắt nóng. Trong quá khứ, ta đã từng làm thân trâu ngựa, xương thịt tích tụ cao như núi Tu-di, còn bị

sinh tử xoay chuyến chưa được giải thoát. Đã bao nhiêu lần được những tên gọi như là: gia chủ, hoặc là tôi tớ, hoặc Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc là Đế Vương, hoặc Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma- hầu-la-già, nhân hoặc là phi nhân, hoặc súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục v.v..., từng chịu vô lượng khổ đau. Giờ đây, ta quyết tâm tu tập chánh pháp để chấm dứt mọi nỗi thống khổ, đạt được Niết-bàn an lạc. Từ muôn triệu kiếp ta đã chịu trầm luân sinh tử oan uổng, chẳng khác gì:
“Đồ tể chiên-đà-la
Xua trâu vào lò mổ
Từng bước đến cõi chết
Sống chết nhanh xiết bao!”
Đọc kệ xong, bà chắp tay hỏi Phật: “Kính thưa Thế Tôn, vì sao tất cả chúng sinh bị trầm luân sinh tử chịu bao nỗi thống khổ mà không thể tìm đường giải thoát?”.
 Khi ấy, Thế Tôn nói với Ma-da: “Chúng sinh không giải thoát được là vì tham dục, giận dữ và ngu si chi phôi họ, làm cho họ chìm đắm mãi trong sinh tử; cho nên dù muốn sinh lên cõi trời cũng khó được, huống gì xuất ly sinh tử. Còn ở cõi thế thì cũng chẳng được danh tiếng tốt lành, bạn bè
thân quyến đều xa lìa, nhìn nhau như thấy cỏ rác, không có lòng thương yêu. Đến khi lâm chung lại càng khốn khổ cực độ, thần thức hoảng hốt, chừng ấy mới biết hối hận tự trách lấy mình. Tất cả đều do ba độc thao túng mà đến nỗi thế. Nếu ai muốn mưu cầu thành quả giải thoát thì phải cắt đứt gốc rễ của mọi khổ đau. Những kẻ phàm phu ngu si bị kiết sử trói buộc cũng giống như con ngựa bị dây thừng cột chặt không thể cử động được. Đó là vì họ không thấu hiểu được sự ràng buộc của sắc pháp, sự diệt trừ sắc phápvề phương pháp diệt trừ sắc pháp. Cũng như thế, đối với bốn yếu tố còn lại của ngũ uẩn là Thọ, Tưởng, Hành và Thức họ cũng không hiểu biết một cách đúng đắn.
 Như Lai từ vô số kiếp quá khứ đến nay vì tất cả chúng sinh mà tu tập khổ hạnh. Giờ đây đã thành tựu vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, có lòng thương xót tất chúng sinh, xem chúng như những đứa con còn thơ bé. Những ai có duyên lành thì Ta đã hóa độ hoàn tất. Các pháp của chư Phật ba đời đều đã trải qua, Ta sẻ không còn xuất hiện ở thế gian này một lần nào nữa. Từ giờ trở đi, mọi Dấu vết của Ta đều xóa sạch, không thể nào tìm kiếm được nữa. Ta sẽ không còn làm bất cứ một chức vị nào ở thế gian này nữa mà chỉ giữ địa vị của đấng Pháp vương tự tại. Ta không còn dùng
đao binh gông cùm xiềng xích để kềm chế tội nhân,mà chỉ dùng chánh pháp giáo hóa chúng sinh, khiến cho tất cả đều đạt được giải thoát, tất cả đều xa lìa năng lực khống chế của các hành. Dù kiếp tận, núi Tu-di kia bị hủy diệt, nước của bốn biển lớn cô khô cạn thì sứ mệnh ra đời hóa dộ chúng sinh của Như Lai cũng không dừng nghỉ.”
 Bấy giờ đức Thế Tôn ở cung trời Đao-lợi thuyết pháp cho 8 bộ chúng và 4 chúng đệ tử đã tròn 3 tháng, Ngài muốn trở lại cõi Diêm-phù-đề, bèn bảo một người con của quan Đại thần ở thành Vương Xá, vốn bản tính thông minh trí tuệ hơn người là Cưu-ma-la rằng: “Giờ đây, ngươi hãy trở lại cõi Diêm-phù-đề thông báo cho mọi người biết rằng chẳng bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập Niết- bàn.” Rồi Phật trao cho Cưu-ma-la bài kệ tóm tắt nội dung muốn truyền đạt cho dân chúng.
 Khi Cưu-ma-la đi rồi, Phật thưa với Ma-ha- ma-da: “Trong dòng sinh tử, hễ có tụ hội thì có chia lìa, nay con phải trở xuống cõi Diêm-phù-đề, và không lâu nữa sẽ nhập Niết-bàn.”
 Ma-ha-ma-da nghe Phật nói thế, liền rơi lệ, đọc lên bài kệ:
“Thế Tôn đã nhiều kiếp
Vì thương xót chúng sinh
Bỏ đầu mắt tủy não
Nay thành Chánh Đẳng Giác
Chúng sinh trong ba cõi
Bị si ái nhận chìm
Dùng thuyền pháp cứu vớt
Vì sao vội giã từ !”
 Thế Tôn liền đọc kệ đáp lại:
“ Chư Phật hiện ra đờ
i Đều có nhân duyên cả
Duyên hết phải rời nhau
Pháp chư Phật là thế.”
 Đức Thế Tôn đọc kệ xong, từ biệt Mẫu hậu rồi đi xuống hạ giới. Khi ấy, Đại Phạm Thiên Vương cầm lọng theo hầu. Đế Thích và bốn vị thiên Vương đi theo hai bên, cùng vô lượng Thiên long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu- la, khẩn-na-la, Ma-hầu-la già, người và loài không phải người, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu- bà- di. cùng các loài quỉ thần khác đoanh vây trước sau đức Như Lai chật cả hư không.
 Khi đức Thế Tôn xuống đến cõi Diêm- phù -đề thì được vua Ba-tư-nặc cùng các vị quốc vương khác cũng như dân chúng và bốn chúng đệ tử nghinh đón vô cùng trọng thể. Nhân cơ hội ấy, đức Thế Tôn thuyết pháp giáo hóa mọi người.

/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »