KINH HỮU VÔ TỰ
TRONG "TÂY DU KÝ"
"... Hữu tướng vô tướng vi diệu pháp môn kim phó nhữ Ma-ha Ca-diếp". (Ta có con mắt chánh pháp tạng thực tướng vô tướng vi diệu pháp môn, nay Ta phó chúc cho Đại Ca-diếp). Cũng là kinh Vô tự mà giờ đây họ không hiểu kinh Vô tự đó họ mới đem đổi lại. Khi đổi lại lấy kinh Hữu tự đem về, qua con sông Thông Thiên bị đò chìm kinh rơi xuống nước ướt hết nên phải đem phơi. Khi phơi thì bị mất tờ sau của kinh.
Chuyện phơi kinh này có ở trong truyện thỉnh kinh của ngài Huyền Tráng, khi về thì đò bị chìm. Một số kinh bị ướt và một số bị mất là chuyện có thật trong chuyến đi thỉnh kinh của ngài.
Chuyện Tây Du của Ngô Thừa Ân cũng dựa vào chuyến đi thỉnh kinh của ngài Huyền Tráng mà ra. Đò bị chìm và kinh bị ướt, ngài đem kinh ra phơi và cũng bị mất mấy tờ là chuyện có thật, nên mới có chuyện kinh Hữu tự, kinh Vô tự này.
Chuyện được kể ra cũng có nhiều ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất cho rằng: Kinh Hữu tự chỉ đưa ta đi đến một
đoạn đường chứ không đưa ta vượt đến bờ bên kia(là bờ giải thoát). Nghĩa là thứ hai nói: Phải có kinh Vô tự nữa thì mới hoàn hảo, mới viên mãn. Như mình đọc kinh thường ngày đây là đọc kinh Hữu tự mà nếu không ngộ được cái ký của kinh, không chứng được cái lý của kinh thì chưa ngộ được cái nhiệm mầu của kinh Vô tự. Mà đó chỉ đọc được kinh Hữu tự mà thôi. Do đó, khi đọc được kinh Hữu mà hữu tự thì mới chỉ đưa mình đi một đoạn đường chứ chưa đưa mình lên bờ giác ngộ. Đợi đến khi đọc kinh Vô tự mới hoàn toàn đưa mình lên bờ đại giác, là cái chỗ mình thật tu, thật chứng trong lòng của mình. Ví như có nhiều Phật tử nói lý vô thường, đọc trong kinh Phật cũng dạy vậy, nhưng khi nói lý vô thường thật sự mình đã ngộ được lý vô thường chưa? Hay là mình chỉ ngộ qua mạch văn tự mà thôi. Khi nào mình ngộ được cái lý vô thường trong lòng mình thì chính cái lý vô thường đó không có chữ gì cả, không phải qua ngôn ngữ ngạn lọc và trau chuốt, mà chính mỗi người tự ngộ lấy. Đó chính là kinh Vô tự, khi đó mình mới hoàn toàn bước lên giác ngộ và giải thoát.
Trong truyện Tây Du, khi đem kinh về có thiếu đi mấy trang sau, có nghĩa rằng: Là phải có kinh Vô lượng thì mới được viên mãn, còn kinh Hữu tự thì chỉ mới ngang chừng đó mà thôi, tức đã đi được nửa đường, chứ chưa đi hết con đường vượt qua bờ kia. Kinh Hữu
tự nhìn bằng nhục nhãn được, chứ kinh Vô lượng phải nhìn bằng pháp nhãn, nhìn bằng huệ nhãn. Mà pháp nhãn, huệ nhãn thì phải tu hành mới có được pháp nhãn, huệ nhãn. Có pháp nhãn, huệ nhãn mới nhìn được kinh Vô tự. Còn nhục nhãn của mình thì mới nhìn được kinh Hữu tự. Mà kinh Hữu tự thì ai cũng đọc được. Trái lại, kinh Vô tự thì tùy theo từng trình độ, ai có tu thì có pháp nhãn. Tu sâu thì đọc được sâu, tu cạn thì đọc được cạn. Ngộ sâu thì hiểu được sâu, ngộ cạn thì hiểu được cạn, đó là kinh Vô tự. Một vài chuyện như vậy thì có thật trong truyện kể của ngài Huyền Tráng khi đi thỉnh kinh về.
*
Bây giờ, tôi chuyển qua chuyện Tây Du Ký, bàn thêm về triết lý của nó một chút, mong rằng các anh chị em cũng nên hiểu ít nhiều về nó.
Tây Du Ký là một chuyện phản ảnh về việc đi thỉnh kinh của ngài Huyền Tráng, dựa vào bộ kinh Tây Vực Ký của ngài viết ra. Trong đó có bốn nhân vật chính và nhiều nhân vật phụ. Bốn nhân vật chính là Tam Tạng, Tề Thiên Đại Thánh, Sa Tăng và Bát Giới. Ngô Thừa Ân là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, ông chỉ đưa ra bốn nhân vật thôi. Bốn nhân vật này tiêu biểu cho bốn cái hạnh của bốn nhân vật chính. Bởi ngài Huyền Trang khi về Trung Quốc dịch kinh ngài chú trọng về
Pháp tướng tông, dịch các kinh điển thuộc về Duy thức học, cho nên ngài đã làm một vị Tổ xướng lên lập tông Pháp tướng Duy thức học. Mà Pháp tướng Duy thức tức là nói cái thức của con người. Thức con người nói cho đủ là tám thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-ma thức và a-lại-da thức. Tám thức này tóm tắt tính cách của nó còn lại bốn thức. Năm thức đầu là năm giác quan, nó có tính chất trực tiếp, có tính cách trực giác và hồn nhiên như nhau, rồi đến ý thức. Anh ý thức này lôi thôi lắm, anh lanh lẹ và ngóc ngéo vô cùng trời đất. Chuyện quá khứ, vị lai hiện tại, chuyện đông tây kim cổ, chuyện hữu hình vô hình gì anh cũng biết hết. Anh ý thức hằng ngày, luôn luôn chấp ta, của ta, là ta. Nói tóm là cái ta độc lập trong con người ta. Còn a-lại-da thức là cái anh tập trung tất cả các chủng tử, bao nhiêu ngôn ngữ của mình hàng ngày anh đều tập trung vào đó cả. A-lại-da thức có thể ví nó như cái kho để chứa hàng hóa của chúng ta vào trong đó.
Bốn nhân vật nêu trong truyện Tây Du Lý nó na ná với bôn cái thức đó. Trong đó, Sa Tăng là một ông đi theo phục vụ nhưng mà vô hại, ví như tiền ngũ thức. Tiền ngũ thức thì vô tư. Thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm nhưng hồn nhiên, không ngoắc ngéo, ví như Sa Tăng. Sa Tăng trong cuộc hành trình đó cũng vô tư, chỉ
đi theo phục vụ mà thôi. Thứ hai là ông ý thức: Lanh lẹ, ngoắc ngéo, lên trời xuống đất chi cũng được cả, đó là ông Tề Thiên Đại Thánh. Tề Thiên Đại Thánh là biểu hiện cho ý thức. Ông thứ ba là lôi thôi đủ thứ: Rượu, thịt, mê gái, đắm đuối là ông Bát Giới, biểu hiện cho ông mạt-na thức, là nguồn gốc của sự tối tăm và ô tạp. Còn Tam Tạng là một ông vua cũng hồn nhiên nhưng mà làm chủ. Ba ông kia đều dựa nơi ông hết vì ông là chủ, cho nên Tam Tạng tiêu biểu cho đệ bát thức. Đó chỉ mới là một phương diện, một cạnh khía về Tây Du Ký.
Tây Du Ký còn một khía cạnh nữa ta cũng nên biết. Chuyện Tây Du bây giờ nó tràn lan khắp trong và ngoài nước và nó là phương tiện truyền bá Phật giáo hay nhất, nhưng có nhiều khía cạnh người ta chưa hiểu hết. Trong đó, ta thấy cuộc hành trình của ngài Tam Tạng, nếu không có Tề Thiên Đại Thánh thì không làm gì đi tới Tây Vực để mà thỉnh kinh được. Cho nên ai cũng phục Tề Thiên Đại Thánh nhiều khi còn chê Tam Tạng. Họ chê Tam Tạng sao mà ngơ ngác thế, vì Đại Thánh nói chỗ đó có yêu, khuyên ngài đừng đến mà ngài cứ nhào vô. Chỗ đó có quỷ khuyên ngài đừng tới mà ngài cứ nhắm mắt đi tới để bị mắc bẫy, bắt Tề Thiên Đại Thánh đi cứu mãi. Người coi phim hay đọc tiểu thuyết họ đều thích ông Tam Tạng, thương ông Tề Thiên. Coi Tề
Thiên là cái ông lanh lẹ, đánh đông dẹp bắc, nhờ Tề Thiên mà Tam Tạng mới được giải cứu nhiều lần. Xem toàn bộ chuyện Tây Du, tôi có một số suy nghĩ như thế này:
- Thứ nhất, khi đánh giá câu chuyện Tây Du thì chúng ta tự hỏi: Giả sử không có Tam Tạng thì Tề Thiên có tồn tại hay không? Chắc là không. Không có Tam Tạng thì làm gì có Tề Thiên được. Do chí nguyện đi thỉnh kinh của Tam Tạng mới có Tề Thiên đi theo, nếu không có chí nguyện đi thỉnh kinh của Tam Tạng thì sẽ không có Tề Thiên xuất hiện.
- Thứ hai, nó nói lên một bên là động nhưng động đó phải nương nơi cái tịnh. Tam Tạng là biểu tượng cho cái tịnh, Tề Thiên là biểu thị cho cái tính hiếu động. Cái động đó phỉa nương nơi cái tịnh và cái tịnh đố cũng phải nương nơi cái động mới tồn tại. Cái động như Tề Thiên không thành vấn đề. Tề Thiên đâu có ý nguyện đi thỉnh kinh mà chỉ là người đi theo hộ giá thôi. Mà tịnh như Tam Tạng thì sự việc cũng không thành, có đi cũng không đến được. Cho nên động phải có tịnh và tịnh phải có động. Chứ động khổng thể động không được mà tịnh cũng không thể tịnh không được. Toàn bộ nó nói lên cái đại lý sắc tức không, không tức sắc trong Bát-nhã vậy. Thành trong việc học tập, việc tu hành, việc tổ
chức đời sống hàng ngày của chúng ta luôn luôn phải dựa theo cái lẽ đó. Động nhưng phải tịnh, động nhưng động trên cái tịnh. Tề Thiên dù có động mấy đi nữa cũng dựa trên Tam Tạng, chứ Tề Thiên không thể động ngoài Tam Tạng được, không thể động ngoài ý nguyện đi thỉnh kinh của Tam Tạng. Vậy cho nên ta biết trong sự tổ chức, hành động của chúng ta hàng ngày cũng vậy. Động nhưng phải dựa trên cái tịnh.
Vậy cái tịnh đó là gì? Là cái đạo lý, cái mục đích mà ta vừa nói trên, phải dựa trên cái phạm trù đó thì cái động đó mới có ý nghĩa, còn không dựa trên cái tịnh đó, mục đích, ý nghĩa của đạo lý đó thì cái động của ta trở thành vô ý nghĩa. Nếu Tề Thiên mà động, mà hiếu thắng như vậy, nếu không nhắm theo mục đích của Tam Tạng, thì cái động của Tề Thiên vô ý nghĩa, đi đập bậy mà chơi chứ không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ở đây đập bậy mà cốt theo bảo vệ Tam Tạng trừ yêu dẹp quỷ, để hướng tới chuyện thỉnh kinh. Chứ còn trừ ma dẹp quỷ mà chơi thì trở thành vô nghĩa. Đó là một đạo lý để mình hiểu sâu ở trong chuyện Tề Thiên theo Tam Tạng thỉnh kinh. Một bên Tề Thiên rất động và một bên Tam Tạng thì rất tịnh, hai thái cực đối lập nhau, nhưng cái rất động đó phải dựa vào cái rất tịnh thì mới có ý nghĩa. Mà cái tịnh đó phải nhờ cái động mới sống còn, còn động
không cũng không được mà tịnh không cũng không được.
Nhân nói về 4 nhân vật đặc biệt này, có câu chuyện về họ như sau: Một hôm, thầy trò Tam Tạng đi đến một nơi đầy yêu ma quỷ quái. Tam Tạng than:
- Ngộ Không ơi! Đường xa thế này, lại thêm yêu ma quỷ quái, thú dữ rắn độc... biết đời nào đi đến nơi về đến chốn cho được?
Nói xong tủi lòng mà khóc. Ngộ Không bèn hỏi:
- Thầy còn nhớ tâm kinh không...?
Tam Tạng bực quá nói:
- Thầy chùa mà không nhớ tâm kinh sao! Ta tụng ngược cũng còn được.
Ngộ Không nói:
- Coi chừng à! Thầy tụng một chữ không nhớ đó!
Ngộ Năng chen vào nói:
- Vậy anh có thuộc không mà làm tàng?
Ngộ Không đáp:
- Thuộc chứ sao không.
Ngộ Năng nói:
- Vậy anh giảng tôi nghe coi.
Ngộ Không làm thinh.
Liền khi đó Tam Tạng liền nhận ra, nói với Ngộ Năng:
- Làm thinh vậy là nó thuộc rồi đó!
Ngộ Không được theo nói:
- Nghĩa là cứ việc làm thinh, làm thinh tới trong ruột, đi hoài chừng nào tới thì thôi!
* Thầy trò Tam Tạng thỉnh kinh về giữa đường lật ra xem thấy toàn giấy trằng, đem lui hỏi người thỉnh được trả lời: Đó mới thật là kinh Phật (tâm kinh vô tự), chỉ tại các ông không đủ căn cơ để đọc đó thôi.
Nói tóm lại, qua tiểu sử của ngài Huyền Tráng chúng ta học được rất nhiều bài học: Đó là cái chí nguyện cao cả vì lợi ích của chúng sinh, vì truyền bá chánh pháp, chí nguyện sắt đá, gặp bao nhiêu khó khắn gian lao không sờn, đức hạnh khiêm tốn không kiêu căng ngạo mạn, hòa nhã và rất chí hiếu đối với cha mẹ. Đối với đạo ngài rất trung thành, trọn tình trọn hiếu đối với thầy tổ. Thứ ba nữa là cuộc đời của ngài đạm bạc thanh cao, một cuộc đời bị vây bủa bao nhiêu là vinh hoa đưa tới, nhưng ngài đều từ chối hết. Để thực hiện một mục đích cao cả mà ngài hướng tới là tuyên dương chánh pháp mà thôi.
Cho đến giờ phút cuối cùng trước giờ tắt thở ngài cũng đạm bạc. Đạm bạc cho đến nỗi dặn đệ tử khi chết chỉ lấy chiếu bó lại để đem chôn mà thôi. Và
chôn nơi chỗ thanh vắng để đừng gây sự xấu xa ô uế. Với bao nhiêu sự cao đẹp đó mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã ca tụng ngài, và ông đã viết sách tán dương ngài là bậc Thánh vĩ đại hơn các bậc Thánh. Chúng ta học được nơi ngài Huyền Trang rất nhiều bài học, rất nhiều tính tịnh, rất nhiều chí nguyện. Anh em nghe qua cuộc đời ngài như vậy rồi thì cố gắng học được một phần nào chí nguyện của ngài, của sự thông minh, đức hạnh về cuộc sống đời thường của ngài để đem áp dụng, xử sự lấy đời mình và cũng như xử sự lấy trong công việc hàng ngày mà mình đang đảm trách hầu dắt dìu đàn hậu tấn về sau. Vài lời trao đổi như vậy, mong anh em suy nghĩ thêm.
*
* *