Chiến thắng chính mình
(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 35,
tại chùa Phổ Quang, ngày 27-7-2008)
Chiến thắng chính mình là vấn đề cốt lõi của đạo Phật, gọi là nhân sinh quan của Phật giáo. Theo cái nhìn của Đức Phật về cuộc đời, Ngài thấy từ nghìn xưa cho đến ngày nay, tất cả mọi người thường tranh chấp lẫn nhau và luôn mong chiến thắng anh em, chiến thắng các loài khác, kể cả chiến thắng thiên nhiên. Đó là mục tiêu của mọi người. Nhưng Đức Phật đắc đạo, thấy rõ sai lầm lớn của chúng sinh trong sáu đường sinh tử, vì sau chiến thắng đó luôn là khổ đau và khổ lớn nhất là đọa địa ngục.
Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta tìm ra nguyên nhân dẫn đến khổ đau để chúng ta đoạn trừ, từ nguyên nhân gần đến nguyên nhân xa và đoạn trừ được gốc rễ là tâm, gọi là chiến thắng chính mình.
Phật dạy rằng bốn loại ma là ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma và thiên ma là đối tượng mà chúng ta phấn đấu diệt trừ, phải chiến thắng chúng. Điều này có nghĩa là cần đoạn trừ tội lỗi của chính bản thân chúng ta, chứ không phải tha nhân. Người đời thường đổ lỗi
cho hoàn cảnh, đổ lỗi cho người khác, đổ lỗi cho trời đất; nhưng Đức Phật nhận ra sự thật là lỗi của chính mình để diệt trừ và đó là con đường mà Ngài đã vượt qua và chiến thắng.
Đầu tiên, chúng ta phải chiến thắng thân tứ đại ngũ uẩn của chúng ta. Phật gọi tứ đại ngũ uẩn là ma, ngũ ấm ma, vì nó gây trở ngại, làm chúng ta đau khổ, sa đọa. Vì ngũ ấm ma là ta, nên ta chiến thắng ngũ ấm ma không có nghĩa là ta diệt trừ ta, mà là chuyển hóa, cải hóa ngũ ấm của ta. Nói cụ thể là chuyển đổi từ chúng sinh ngũ ấm tội lỗi thành Pháp thân của Phật, Bồ tát và chiến thắng của ta là thay đổi ngũ ấm này thành ngũ phần Pháp thân. Như Lai thân hay chúng sinh thân cũng từ ngũ ấm mà ra. Gốc của ngũ ấm không phải là tội. Như Lai nhìn thấy tận gốc con người không phải tốt xấu, nhưng tốt xấu là từ Như Lai duyên khởi hay vô minh duyên khởi mà thành, tức minh và vô minh mới là nguyên nhân chính.
Vô minh sanh ra thì chúng sinh xuất hiện, minh sanh ra thì Như Lai thân khởi xuất. Đức Phật đắc đạo chứng túc mạng minh, thấy được tất cả những kiếp quá khứ. Thấy quá khứ tương đối dễ, vì quá khứ là kinh nghiệm của chúng ta. Ta hồi tưởng lại quá khứ gần là những việc xảy ra hôm qua, xảy ra năm trước, hoặc từ khi ta chào đời cho đến ngày nay; đó là việc quá khứ trong kiếp hiện tại chúng ta dễ nhận ra. Và khi mặt trời trí tuệ phát khởi, chúng ta thấy xa hơn những kiếp trong
quá khứ. Ví dụ tôi có cảm giác đời trước mình đã tu rồi, nên sanh lại cuộc đời này, thuở nhỏ mới vào chùa, chỉ trong một tuần đã thuộc lòng tất cả kinh. Hòa thượng bổn sư nói rằng tôi có căn tu và tôi thường suy nghĩ, quán tưởng về tiền kiếp của mình.
Đức Phật đắc đạo, thấu suốt cùng tột của thân ngũ uẩn cho đến khởi điểm của nó. Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy rằng chúng ta bắt đầu tu từ ngũ uẩn thân, đi ngược về quá khứ để phá lần vô minh, thì ngũ uẩn vô tác hiện ra gọi là chơn như tâm, tức bản thể sự vật, ở đó không có thiện, không có ác. Như vậy là chứng Vô sanh khi trở về được cội nguồn và từ trạng thái không sinh diệt ở thế giới Vô sanh mà hiện lên thế giới sinh diệt, cho đến kiếp hiện tại, tu hành đi ngược về nguồn, bắt gặp được tâm chơn như.
Chính Đức Phật đã thể hiện lộ trình tu hành như vậy, khi Ngài thâm nhập đại thiền định ở Bồ đề đạo tràng với sanh thân ngũ uẩn, Ngài đi ngược về tâm chơn như và từ tâm chơn như, Ngài đi thuận chiều về kiếp hiện tại sinh tử. Nhưng Đức Phật không đi theo A lại da duyên khởi là vọng thức vô minh, mà Ngài từ chơn như duyên khởi đi về thế gian, nên Đức Phật đã chiến thắng được ngũ ấm ma. Nói cho dễ hiểu, trong 21 ngày tư duy ở cội Bồ đề, Đức Phật đã trải qua quá trình thăng hoa tâm linh bằng cách đi từ sinh tử về Niết bàn và từ Niết bàn, Ngài hiện thân trở lại là Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ta bà.
Theo kinh A Hàm, đối với Bồ tát tu từ nhân hướng
nguồn là chơn như tâm. Theo kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát tu từ quả hướng nhân là đã thành Vô thượng Chánh đẳng giác vì thương nhân gian mà trở về thế gian để độ sinh :
Từ chơn tánh hiện thân Đại sĩ
Cõi hồng trần chẳng nhiễm bụi trần.
Vì vậy, từ tâm chơn như hiện thân lại làm người tu trên cuộc đời, đã hoàn toàn chiến thắng tự thân, hoàn toàn sạch nghiệp, thì chắc chắn người này khác với người tu còn mang nhiều nghiệp chướng không tự chiến thắng được ngũ ấm, lại cưu mang thêm nghiệp, dễ bị gẫy đổ nửa đường.
Đức Phật từ kiếp hiện tại trở về nguồn cội và từ tâm chơn như, Ngài trở lại cuộc đời giáo hóa chúng sinh. Hoàn tất Bồ tát hạnh như vậy, Ngài đã chiến thắng hoàn toàn chính mình. Vì vậy, Đức Phật tuyên bố rằng ta đã tìm ra người thợ xây ngôi nhà cũ kỹ này, là nhà ngũ ấm đau khổ. Từ đây ta không xây thêm ngôi nhà đau khổ nào ở trần gian nữa.
Chúng sinh từ ngũ ấm thân duyên khởi thì duyên khởi cái gì ? Thân ngũ ấm chúng ta chịu sự tác động của sắc, thọ, tưởng, hành và thức; nhưng chủ yếu là thọ uẩn và thức uẩn. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra vô số nghiệp chướng trần lao, đó là thọ uẩn. Thực tế khi chúng ta trông thấy một sự việc thì luôn có hai cảm nhận, một là ưa thích thì ta sẽ sinh tâm đắm mến, chấp trước, hai
là không ưa thích thì ta sẽ chán ghét, khổ đau. Chính mắt thấy tai nghe làm chúng ta khổ sở hay vui sướng, gọi là khổ thọ và lạc thọ. Nhưng dù có vui thích, thì sau đó cái khổ sẽ lớn hơn vì chúng ta ham muốn, mà không được thỏa mãn, càng ham muốn càng khổ, cuối cùng nỗi khổ quá lớn là đọa địa ngục. Ngoài ra, khổ vì không chấp nhận, không bằng lòng nhưng không tránh khỏi, nên phải thọ ba khổ, tám khổ cho đến vô số khổ. Đó là những nỗi khổ hiện hữu trên cuộc đời của một kiếp người do chính chúng ta tạo ra cho mình.
Một người không nghiện, nhưng họ tự tập uống rượu, hút ma túy, là tự tạo kết quả khổ đau. Ví như con người ở bản thể sự vật, chưa mang nghiệp, nên không có thiện ác; nhưng vì tập tạo thành thói quen là nghiệp, nên khổ. Nghiệp do huân tập trở thành quen từ một ngày, một tháng, một năm, cho đến một kiếp trải qua, chúng ta chỉ tăng thêm khổ, cuối cùng là địa ngục A tỳ hay vô gián mở ra chào đón ta, tức khổ triền miên, không có thời gian dừng nghỉ, không bao giờ có niềm vui.
Đức Phật dạy mang kiếp con người, phải nhận ra cuộc đời là khổ và tìm ra nguyên nhân của khổ là Tập đế, tức là do tập quán của chúng ta nhiều đời tích tụ lại thành nghiệp của mình. Phật dạy chúng ta diệt cái khổ này, hay chiến thắng một phần cái khổ này. Tất cả những gì chúng ta ham muốn là tập quán hay thói quen, chúng ta tập cắt bỏ một phần là được một phần Pháp thân, đó là chiến thắng dục vọng của mình.
Trước tiên, đối với những ham muốn vô lý, cái nào bỏ được thì nên bỏ ngay, sẽ có giải thoát liền. Một số thầy tu bị nghiệp hút thuốc lá, cần phải bỏ thói quen này để giải thoát, chiến thắng được ác nghiệp. Khi còn tu học ở Nhật, trời lạnh, bạn rủ hút thuốc lá cho ấm. Tôi nhận ra rằng tại sao lại tập thói quen nguy hiểm này, nên tìm cách khác làm cho cơ thể được ấm, chẳng hạn như dùng thực phẩm giàu năng lượng như sô cô la. Người tu phải khắc phục những nghiệp tập quán không tốt, không có lợi cho việc tu hành, khắc phục cho đến cuối cùng không lệ thuộc xã hội và thiên nhiên, mới được giải thoát, hay tự chiến thắng những ác nghiệp của chính mình.
Không lệ thuộc thiên nhiên là không bị sự chi phối của bốn tướng : đói, khát, nóng, lạnh. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường có cảm giác đói và khát. Theo tôi, có hai thứ đói, đói thiệt và đói ảo. Đói thiệt là khi cơ thể chúng ta thiếu những chất cần thiết nuôi sống, nhưng đói ảo thuộc về thói quen. Ăn hoài thành thói quen ăn, nhưng thực chưa đói. Có những người ngoài ba bữa ăn, lúc nào họ cũng ăn và ăn đủ thứ, là người ăn tạp. Tôi thực tập thấy rõ điều này. Sáng thức dậy, cảm thấy đói, muốn ăn, trưa chiều cũng vậy; nhưng sau tôi phát hiện cái đói này do ảo giác, vì một hôm, bác sĩ dặn sáng không được ăn để thử máu, thì qua giờ đó, tôi không ăn mà cũng chẳng thấy đói. Từ đó tôi nhận thấy với trữ lượng chất dinh dưỡng trong cơ thể, chúng
ta sống được cả tuần không cần ăn và tôi quán sát thấy được cái đói thật hay đói giả. Người tu ba ngày hay một tuần ăn một lần vẫn sống được. Vì vậy, đói khát của chúng ta là ảo, là nghiệp mà thôi.
Chúng ta tập theo quy trình Phật dạy là bỏ bữa ăn chiều, cho đến bỏ luôn bữa ăn sáng, một ngày chỉ ăn một bữa và tham thiền nhập định nhiều hơn. Khắc phục được cái đói ảo, thấy rõ cơ thể không cần nhiều thức ăn như chúng ta tưởng, nhưng vì chúng ta đói mắt, đói tâm. Đối với những người ăn nhiều, bị dư chất đạm, đi không nổi và bị nhức khớp, người ta chữa trị bằng cách không cho ăn và bắt nằm vô cát nóng để rút bớt những độc tố tích tụ do ăn quá nhiều tạo thành, thì khỏe mạnh trở lại một cách đơn giản. Tu hành, cần khắc phục nghiệp, chiến thắng mình, đầu tiên là chiến thắng việc ăn và uống.
Uống nhiều cũng quen thành tật, sáng thức dậy phải uống một lít nước. Uống như vậy thì hư thận, vì bắt thận làm việc liên tục; nếu không, thì phải tập luyện cho ra mồ hôi là tự hành hạ mình. Tự chiến thắng mình là không tự hành hạ mình, thì tập ít uống nước, không ra mồ hôi, không bắt thận lọc nước. Thiền sư không ra mồ hôi nhiều vì không uống nước nhiều.
Đối với nóng lạnh, thân chúng ta cũng phải chiến thắng. Trời chưa lạnh, nhưng vì sợ lạnh, vội vàng mặc áo ấm đề phòng, làm tế bào da trở nên lười biếng, không làm việc lâu ngày thành liệt, nên có gió độc là bị cảm liền.
Trước kia, tôi cũng rơi vào tình trạng này, lúc nào cũng sợ lạnh, nhưng bị cảm liên tục. Khi sang Nhật tu học, Thiền sư dạy khác, trời lạnh bắt tắm nước lạnh. Điều này rất thực tế, vì trời lạnh, chúng ta có cảm giác lạnh, nước lạnh xối vô là lỗ chân lông nổi gai ốc, tức da tự đóng kín lại, không cho cái lạnh thâm nhập. Tuy nhiên, người đang ấm, phải tắm tay chân trước để các lỗ chân lông tự động đóng kín đã. Khắc phục được đói khát nóng lạnh, sẽ nhận thấy cơ thể chúng ta là cỗ máy kỳ diệu. Khi khí lạnh bên ngoài cao hơn nhiệt độ cơ thể, lỗ chân lông tự đóng lại và bên ngoài nhiệt độ nóng hơn cơ thể, lỗ chân lông tự mở ra. Khắc phục được nóng lạnh đói khát là giải thoát ngay thân tứ đại.
Còn Thọ, Tưởng, Hành và Thức uẩn, chúng ta phá luôn. Đối với Thọ uẩn, chúng ta phá tương đối dễ. Phật dạy không cho sáu căn tiếp xúc sáu trần thì không sinh ra tội lỗi. Chúng ta đóng kín sáu căn, mắt không nhìn, tai không nghe, mũi không ngửi, lưỡi không nếm, thân không xúc chạm, làm sao sinh ra Thức và Tưởng. Kinh nghiệm cho thấy người ẩn tu trong thiền thất, trong hang đá một thời gian dài, thì đối với mọi việc trên cuộc đời, họ không biết, nên không có vui buồn, là tự dẹp được Thọ uẩn, hay ngó lơ cuộc đời là xả thọ. Kinh nghiệm riêng tôi, việc tốt hay xấu cũng bỏ qua; vì việc tốt giữ lại sẽ sanh tâm tham đắm, việc xấu tồn trữ thì sẽ khổ đau.
Thọ uẩn mất, Tưởng uẩn cũng không còn, vì không có sự tiếp xúc và Tưởng mất, tâm chúng ta đứng yên,
nên Hành mất; Hành mất thì Thức cũng mất. Bấy giờ, tâm vắng lặng gọi là ngũ uẩn giai Không, tức ta quên mình có thân tứ đại, là rơi vô pháp Không của Phật, hay Bát nhã. Không bị Thọ,Tưởng, Hành, Thức chi phối, chúng ta an trụ trong bể Không, nên nhìn đời chính xác. Như vậy, trí Bát nhã sinh ra từ tâm vô nhiễm, từ Không tâm, nên thấy khách quan là thấy như Phật thấy. Phật thấy chúng sinh không có đau khổ, nhưng họ tự tạo ra đau khổ. Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả rằng trong tam giới không có sinh tử, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che nên sanh các tánh ham muốn khác nhau, tạo tội sai biệt, mới có đau khổ.
Từ Không tâm của Bát nhã quán chiếu cuộc đời, chúng ta diệt được ngũ uẩn, tâm lắng yên thì thân tướng giải thoát hiện ra, người nhìn thấy ta mới phát tâm Bồ đề. Sám Quy Mạng đã dạy rằng : "Kỳ hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ đề tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ”
Hiện tướng giải thoát là Pháp thân hiện, vì Pháp thân cũng là thân ngũ uẩn. Ngài Huyền Giác cũng dạy : Ngũ uẩn sanh thân tức Pháp thân. Cũng thân này, nhưng tu hành giải thoát, thân này trở thành Pháp thân, vì người nhìn thấy ta cũng được giải thoát theo; như vậy là thân này thuyết pháp. Thiền sư đắc đạo không nói, nhưng sự hiện hữu của các Ngài làm cho chúng sinh hết đau khổ là thân tứ đại thuyết pháp chuyển hóa được tâm khổ đau của người khác.
Và Thọ, Tưởng, Hành diệt thì tâm hồn chúng ta yên tĩnh, tức là Định Pháp thân sanh ra. Khi đã có hai phần Pháp thân làm nhân, do định sinh huệ, nên nhìn chính xác hơn là Huệ Pháp thân và Giải thoát tri kiến Pháp thân.
Trên bước đường tu, Đức Phật từng bước chứng đắc năm phần Pháp thân. Từ khi còn là sa môn đi khất thực, Ngài đã chiến thắng ngũ uẩn thân và đến khi thiền định ở Bồ đề đạo tràng, Ngài đạt đến đỉnh cao, quán sát cùng tột ngũ uẩn, thấy được thật tướng các pháp, thành tựu quả vị Toàn giác và thành Phật rồi, Ngài hiện thân Phật, nên ai trông thấy thân tướng hảo trang nghiêm thanh tịnh của Ngài đều được giải thoát. Nghĩa là Đức Phật đã chiến thắng hoàn toàn tự thân. Bước theo dấu chân Phật, các vị Thánh hiền, các bậc chân tu thật học cũng đều chiến thắng một phần tự thân.
Tôi kỳ vọng rằng tất cả chúng ta được duyên lành sống trong ánh sáng trí tuệ và tâm từ bi của Đức Phật cùng chư vị Bồ tát, Thánh hiền, nên cố gắng thực tập tinh ba Phật pháp để thành tựu được một phần Pháp thân dùng làm tư lương trên con đường tiến đến Phật quả, không cô phụ công ơn giáo dưỡng của Phật, Bồ tát và Thầy Tổ.