Đối chiếu Hán văn và Hán Việt
No. 1931
天台四教儀
Thiên Thai 1 tứ giáo 2 nghi 3
四教頌
Tứ giáo tụng
1) Tứ giáo tụng 4
七賢七位藏初機。通教位中一二齊。
thất hiền thất vị tạng sơ cơ 。thông giáo vị trung nhất nhị tề 。
(Bài 1) Thất hiền thất vị là căn cơ tu hành của Tạng giáo, tương đương với nhất vị, nhị vị của Thông giáo.
別信并圓五品位。見思初伏在凡居。果位須陀預聖流。
Biệt tín tinh viên ngũ phẩm vị 。kiến tư sơ phục tại phàm cư 。quả vị tu đà dự Thánh lưu.
Nó tương đương với thập tín của Biệt giáo và ngũ phẩm vị của Viên giáo. Tất cả những cấp bậc tu hành này nó chỉ giúp ta đoạn trừ được kiến hoặc, tư hoặc trong trong phàm vị chưa vào đến thánh vị.
(Bài 2) Tạng giáo tu đà hàm sơ quả vị là dự bị được vào thánh lưu
與通三四地齊儔。并連別住圓初信。
dữ thông tam tứ địa tề trù 。tinh liên biệt trụ/ trú viên sơ tín 。
Tương đương với thông giáo tam địa và tứ địa. Cũng tương đương với biệt giao sơ trụ và viên giáo sơ tín vị,
八十八使正方休。圓別信住二之七。藏通極果皆同級。
bát thập bát sử chánh phương hưu 。viên biệt tín trụ / trú nhị chi thất 。tạng thông cực quả giai đồng cấp 。
Đó là các quả vị của tứ giáo để giúp chúng ta đoạn trừ được 88 loại kiến hoặc của tam giới.
(Bài 3) Viên giáo nhị tín vị đến vị thứ bẩy của tín vị và Biệt giáo nhị trụ vị đến vị thứ bẩy của trụ vị đã đoạn trừ tư hoặc của tam giới, tương đương với A la hán quả của Tạng giáo và thập địa của Thông giáo.
同除四住證偏真。內外塵沙分斷伏。
đồng trừ tứ trụ chứng Thiên chân 。nội ngoại trần sa phần đoạn phục 。
Tất cả những quả vị kể trên của tứ giáo giúp ta đoạn diệt tất cả những phiền não, kiến hoặc, tư hoặc của tứ trụ địa và giúp
ta chứng được chân đế của Thiên Chân (偏真) Niết Bàn. Nó giúp ta đoạn trừ được trần sa hoặc của giới nội và trần sa hoặc của giới ngoại.
八之十信二惑空。假成俗備理方通。齊前別住後三位。
bát chi thập tín nhị hoặc không 。giả thành tục bị lý phương thông 。tề tiền biệt trụ hậu tam vị 。
(Bài 4) tu đến tám, chín, mười trong thập tín của Viên giáo thì đoạn trừ được kiến hoặc, tư hoặc và trần sa hoặc của nội giới và trần sa hoặc của ngoại giới, Đế đây giả quán (假观) đạt thành, tục đế (俗谛) đã hoàn bị, nghĩa là đã biết bệnh biết thuốc, biết làm thế nào làm lợi cho tục thế. Tương đương Biệt giáo trụ vị 8,9,10 và 10 hạnh vị
并連行向位相同。別地全齊圓住平。無明分斷證真因。
tinh liên hạnh/hành/hàng hướng vị tướng đồng 。biệt địa toàn tề viên trụ/trú bình 。vô minh phần đoạn chứng chân nhân 。
và 10 hạnh vị và 10 hồi hướng vị.
(Bài 5) Biệt giáo sơ điạ và Viên giáo sơ trụ chứng được đạo quả bằng nhau, Đều đã diệt trừ được nhất phẩm vô minh và chứng được một phần ba cái đức độ.
等妙一覺初二行。進聞三位不知名。
đẳng diệu nhất giác sơ nhị hạnh。tiến văn tam vị bất tri danh 。
Biệt giáo đẳng giác vị chỉ phá được 11 phẩm vô minh, tương đương với Viên giáo sơ hạnh địa cũng chỉ phá được 11 phẩm vô minh. Biệt giáo diệu giác Phật cũng chỉ phát được 11
phẩm vô minh, Viên giáo nhị hạnh địa cũng chỉ phá được 11 phẩm vô minh. Vô minh có 42 phẩm, phải đoạn diệt hết 42 phẩm mới chứng được Cứu Cảnh Cực quả. Viên giáo tiếp tục tiến lên để đoạn trừ những phẩm vô minh còn lại, trong khi đó Biệt giáo ngưng tại chỗ đoạn diệt 11 phẩm vô minh mà thôi, vì vậy Viên giáo tam hành vị là gì, tên nó Biệt giáo cũng chưa nghe qua, thì làm sao Biệt giáo chứng được quả vị đó.
四教儀緣起
Tứ giáo nghi duyên khởi
2) Lời tựa của Tứ Giáo nghi [ Sa môn Tri Giác]
宋修僧史僧統贊寧通惠錄云。
tống tu tăng sử tăng thống tán ninh thông huệ lục vân 。
Đời nhà Tống, tăng sử soạn giả, tăng thống(5) Tán Ninh (6), hiệu là Thông Huê viết rằng:
唐末吳越錢忠懿王治國之暇。究心內典。
đường mạt ngô việt tiễn trung ý Vương trì quốc chi hạ 。cứu tâm nội điển 。
Ở cuối đời nhà Đường, Ngô Việt Vương (7) Tiền Trung Ý (8) sau khi lo việc nước, có thì giờ nhàn rỗi thích nghiên cứu Phật học.
因閱永嘉集有同除四住此處為齊。若伏無明三藏則劣之句。
Nhân duyệt vĩnh gia tập hữu đồng trừ tứ trụ thử xứ vi/vì tề 。nhược phục vô minh Tam Tạng tức liệt chi cú 。
Vì ngài đọc Vĩnh Gia Tập (9) có câu " đồng trừ tứ trụ thử xứ vi tề 。nhược phục vô minh Tam Tạng tức liệt"
不曉問于雪居韶國師。
bất hiểu vấn vu tuyết cư thiều Quốc Sư 。
Ngài không hiểu bèn thỉnh vấn quốc sư (10) Tuyết Cư (11) Đức Thiều (12)
乃云天台國清寺有寂法師善弘教法。必解此語。王召法師至詰焉。法師曰。
nãi vân Thiên Thai quốc thanh tự hữu tịch Pháp sư thiện hoằng giáo Pháp 。tất giải thử ngữ 。Vương triệu Pháp sư chí cật yên 。Pháp sư viết 。
Ngài Đức Thiều thưa rằng: Nghĩa Tịch (13) pháp sư tại Thiên Thai Quốc Thanh Tự giỏi về diễn giảng giáo pháp này, ngài nhất định hiểu câu này. Vương gia bèn sai người đi mời NghĩaTịch pháp sư đên. Nghĩa Tịch pháp sứ thưa rằng :
此天台智者大師妙玄中文。時遭安史兵殘。
thử Thiên Thai trí giả đại sư diệu huyền trung văn 。thời tao an sử binh tàn 。妙法蓮華經玄義
Câu này là lấy từ cuốn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa của Trí Khải Đại Sư. Cuốn này sau cuộc binh biến của An Lộc Sơn và Sử Tư Minh (14)
近則會昌焚毀中國教藏殘闕殆盡。
Cận tức hội xương phần hủy Trung Quốc giáo tạng tàn khuyết đãi tận 。
Và gần đây cuộc hủi diệt Phật giáo của năm Hội Xương (15) của cuối đời nhà Đường đã mất hết rồi.
今惟海東高麗闡教方盛。全書在彼。王聞之慨然。
Kim duy hải Đông cao lệ xiển giáo phương thịnh 。toàn thư tại bỉ 。Vương văn chi khái nhiên 。
Nay chỉ có ở Đông Hải có nước Cao Ly còn bộ sách này vì bên đó đang thịnh hành Thiên Thai Tông. Vương gia nghe xong thở dài.
即為遣國書贄弊使高麗求取一家章疏。
Tức vi khiển quốc thư chí tệ sử cao lệ cầu thủ nhất gia chương sớ 。
Vương gia bèn viết một quốc thư, sắm lễ vật và sai sứ gia qua nước Cao Ly để thỉnh xin một bản sao của các kinh sách
高麗國君乃勅僧曰諦觀者報聘以天台教部還歸于我,觀既
Cao lệ quốc quân nãi sắc tăng viết đế quán giả báo sính dĩ Thiên Thai giáo bộ hoàn quy vu ngã quán ký
Vua Cao Ly ra lệnh cho nhà sư Đế Quán (16) mang bản sao của cuốn sách của Thiên Thai giáo đem về Trung Quốc.
至,就稟學寂公于螺溪終焉.大教至是重昌矣。
Chí tựu bẩm học tịch công vu loa khê 。chung yên đại giáo chí thị trọng xương hĩ 。
Ngài Đế Quán cũng ở lại theo ngài Nhất Tịch tu học tai Loa Khê. Nhờ vậy mà giáo phái Thiên Thai lại được chấn hưng.
觀能探索大本錄出四教儀之文成二卷。
Quán năng tham tác/sách đại bản lục xuất tứ giáo nghi chi văn thành nhị quyển 。
Ngài Đế Quán tận học các bộ sách lớn của Trí Khải đại sư và soạn ra cuốn Tứ Giáo Nghi, cuốn này gồm hai cuốn: Quyển thượng và quyển hạ.
其上卷明一家判教立義。
kỳ thượng quyển minh nhất gia phán giáo lập nghĩa 。
cuốn thượng nói về định nghĩa phán giáo của các môn phái,
下卷明南北諸師宗途異計。
hạ quyển minh Nam Bắc chư sư tông đồ dị kế 。
Cuốn hạ nói về những đường hướng khác biệt của các đại sư trong thời Nam Bắc Triều năm 386-589).
後至孤山圓法師校勘刊板但行今上卷之文者蓋由辭句簡要義旨易明。
hậu chí Cô sơn viên Pháp sư giáo khám khan bản đãn hành kim thượng quyển chi văn giả cái do từ cú giản yếu nghĩa chỉ dịch minh 。
Sau đến đời nhà Tống, tại Cô Sơn có ngài Trí Viên (17), ngài cho tái bản quyển thượng vì ngài thấy cuốn này lời văn giản dị dễ hiểu, nó giúp cho học giả hiểu được những đại cương về tứ giáo, thật là một lợi ích lớn.
學者誠資之可了其一化大綱豈曰小補之哉。
học giả thành tư chi khả liễu kỳ nhất hóa đại cương khởi viết tiểu bổ chi tai 。
Nó giúp cho học giả hiểu được những đại cương về tứ giáo, thật là một lợi ích lớn.
下卷則破斥南北古師文義浩漫故得以緩之。
Hạ quyển tức phá xích Nam Bắc cổ sư văn nghĩa hạo mạn cố đắc dĩ hoãn chi 。
Còn quyển hạ thì bàn về sự khác biệt về các môn phái của các đại sư ở đời Nam Bắc Triều. Sự bàn cãi dài dòng tạm khoan cho khắc chư, tái bản và ấn hành.
如此文末指云自從此下略明諸家判教儀式。
như thử văn mạt chỉ vân tự tòng thử hạ lược minh chư gia phán giáo nghi thức 。
Từ đoạn văn cuối này chúng ta có thể thấy được đại khái cuổn hạ là nói về các môn phái
抑可見後卷之大略也。王為寂師建伽藍螺溪之上。
ức khả kiến hậu quyển chi Đại lược dã 。Vương vi tịch sư kiến già lam loa khê chi thượng 。
diên giải về giáo lý của mình ở thời Nam Bắc Triều. Vương gia xây một tu viên cạnh Loa Khê cho ngài Nghĩa Tịch
曰定慧院進號淨光大師。
viết định tuệ viện tiến hiệu Tịnh Quang Đại sư 。
gọi tu viện là Tịnh Tuê Viện, phong ngài là Tịnh Quang Đại Sư.
追諡九祖并東還教藏悉付於師。教門中興實基於此。
Truy thụy cửu tổ tinh Đông hoàn giáo tạng tất phó ư sư 。giáo môn trung hưng thật cơ ư thử 。
Truy phong chín vị tổ trước đây của Thiên Thai Tông và trao cho ngài tất cả những kinh điển thỉnh từ nước Cao Ly về, Thiên Thai Tông từ đó lại được trung hưng.
而韶公適與智者同姓,乃又毘贊宗乘且居隣佛隴人咸疑其為智者
nhi thiều công thích dữ trí giả đồng tính nãi hựu Tì tán tông thừa thả cư lân Phật lũng nhân hàm nghi kỳ vi trí giả
Ngài Đức Thiều và ngài Trí Khai cùng họ, như vậy có họ hàng xa với nhau, hai thầy đều là người ở vùng Phật Long (18), người ta nghi rằng ngài Đức Thiều là ngài Trí Khải tái sinh chăng.
後身云。
hậu thân vân 。
四明草菴法師道因教苑遺事云。
tứ minh thảo am Pháp sư đạo nhân giáo uyển di sự vân 。
Đời nhà Minh, Thảo Am (19), Đạo Nhân pháp sư trong cuốn Giáo Uyển Di Sự viết rằng :
昔智者禪師剏放生池於海涯。
tích Trí giả thiền sư 剏phóng sanh trì ư hải nhai 。
Ngày xưa ngài Trí Khải làm hồ phóng sinh ở gần biển
其放之也必為授歸戒說大法。然後縱之海中。智者滅後。
kỳ phóng chi dã tất vi thọ quy giới thuyết đại pháp 。nhiên hậu túng chi hải trung 。trí giả diệt hậu 。
khi ngài phóng sinh các loại cá, ngài đều làm phép tam quy và thuyết pháp cho các cá trước khi thả ra biển. Ngài Trí Khải nhập diệt
至唐末中國天台之道浸息。
Chí đường mạt Trung Quốc Thiên Thai chi đạo tẩm tức 。
Đến cuối đời nhà Đường thì giáo phái Thiên Thai Tông đi vào thời sa sút
而海東高麗新羅諸國盛弘此教扶宗繼忠法師云。智者緣在此方。
Nhi hải Đông cao lệ Tân La chư quốc thịnh hoằng thử giáo phù tông kế trung Pháp sư vân 。Trí giả duyên tại thử phương 。
Trong khi đó ở phía Đông Hải các nước như Cao Ly, Tân La, (20)... thì giáo phái này đang thịnh hành. Đại sư Phù Tông (21), Kế Trung nói rằng : Ngài Trí Khài có duyên ở vùng Đông Hải
而教敷于海東者。
Nhi giáo phu vu hải Đông giả 。
vì vậy giáo phái của ngài phát triển mạnh ở vùng này .
此必放生池中諸魚聞教稟戒報生者爾然聞此說者。頗譏以為誕殊。不知教理有憑也。
thử tất phóng sanh trì trung chư ngư văn giáo bẩm giới báo sanh giả nhĩ nhiên văn thử thuyết giả 。phả ky dĩ vi đản thù 。bất tri giáo lý hữu bằng dã 。
phải chăng đó là những cá ngài phóng sinh, được nghe ngài thuyết pháp nay đầu thai làm người thuyết giảng lại giáo lý của ngài. Có nhiều người cho rằng chuyện này là hoang đường.
流水十千天子即脫魚報。豈外此乎。
Lưu thủy thập thiên Thiên Tử tức thoát ngư báo 。khởi ngoại thử hồ 。
Nhưng kinh có kể chuyên Lưu Thủy trưởng giả (22) được mười ngàn thiên tử đến tạ ơn vì ngài đã cứu các cá trong ao khô. Nếu đem so sánh hai câu chuyện này thì có khác gì đâu.
明萬曆九年冬沙門智覺於淨業堂校梓
Minh vạn lịch cửu niên đông Sa Môn trí giác ư tịnh nghiệp đường giáo tử
Đời Vạn Lịch nhà Minh, năm thứ chín mùa đồng, sa môn Trí Giác (23) Khảm định khắc in tại Tịnh Nghiệp đường.
刻天台四教儀引
Khắc Thiên Thai tứ giáo nghi dẫn
3) Lờì tựa khắc in Thiên Thai Tứ Giáo Nghi.
Cư sĩ Phùng Mộng Trinh
客歲拙園成名其堂曰淨業屬臥痾餘日因從
Khách tuế chuyết viên thành danh kỳ đường viết tịnh nghiệp chúc ngọa A dư nhật nhân tùng
Năm ngoái Tịnh Nghiệp Đường và vườn vừa xây xòng, tôi ở đó dưỡng bệnh.
三四淨侶。掩關結夏其中。三時禮課求生西方。
Tam tứ tịnh lữ 。yểm quan kiết hạ kỳ trung 。tam thời lễ khóa cầu sanh Tây phương 。
Cùng ba bốn vị tu sì bế quan (24) kết hạ (25). Ngày ba lần đọc kinh lễ Phật để cầu sau này được vãng sinh Tây phương,
宴坐焚香研精藏典。
Yến tọa phần hương nghiên tinh tạng điển 。
Ăn xong đốt hương đọc các kinh điển.
鐘磬間發白雲乍留鳥低飛而親人。草蔓生而沒徑。
chung khánh gian phát bạch vân sạ lưu điểu đê phi nhi thân nhân 。thảo mạn sanh nhi một kính 。
tiếng chuông tiếng mõ, mây trắng lơ lửng, chim bay đến thân thiện, cỏ mọc che cả lối đi
(袖-由+臾) 遺巍闕機息,漢陰意欣欣甚適也,已僧真覺者。
(tụ , do, du ) di nguy khuyết ky tức hán uẩn ý hân hân thậm thích dã dĩ tăng chân giác giả 。
Ta bỗng quên cả những tham vong trong lòng, tâm hồn thanh thản của thánh hiền bèn xuất hiện. Đang lúc đó thầy Chân Giác vừa từ Võ Lâm (26) đến,
自武林來進余以天台之學。余首肯焉為留旬日。剖析教觀大旨。
tự vũ lâm lai tiến dư dĩ Thiên Thai chi học 。dư thủ khẳng yên vi lưu tuần nhật 。phẩu tích giáo quán Đại chỉ 。
Thầy bàn với ta về Phật học của Thiên Thai Tông. Thầy ở lại nhiều ngày phân tích những điểm chính về các quan niêm của giáo phái này,
余若有悟入者遂合掌佛前願世世奉揚台宗
dư nhược hữu ngộ nhập giả toại hợp chưởng Phật tiền nguyện thế thế phụng dương đài tông
Ta như đã ngộ được Phật pháp của tông phái này, bèn chắp tay trước Phật nguyện đời đời kiếp kiếp hoành dương Thiên Thai Tông.
淨佛國土。蓋淨侶同時發心永為主伴矣。
Tịnh Phật quốc độ 。cái tịnh lữ đồng thời phát tâm vĩnh vi chủ bạn hĩ 。
và Tịnh Thổ Phật Quốc. Các tăng lữ cùng dự buổi học cũng phát nguyện sẽ mãi làm bạn giúp ta trên đường tìm đạo.
台教源流具四明磐公所譔佛祖統紀。
đài giáo nguyên lưu cụ tứ minh bàn công sở soạn Phật tổ thống kỉ 。
Nguồn gốc của Thiên Thai tông có ghi trong quyển Phật Tổ Thống Kỷ của thầy Tứ Minh Trí Bàn (27) công soạn viết.
而四教儀者則高麗沙門諦觀稟法華玄文而錄出者也。
nhi tứ giáo nghi giả tức cao lệ Sa Môn đế quán bẩm Pháp Hoa huyền văn nhi lục xuất giả dã 。
Còn cuốn Tứ Giáo Nghi thì do người Cao Ly sa môn Đế Quán soạn lục từ cuốn Pháp Hoa Huyền Nghĩa
書凡二卷。上卷明一家判教之義。
thư phàm nhị quyển 。thượng quyển minh nhất gia phán giáo chi nghĩa 。
Cuốn sách này gồm hai cuốn, cuốn thượng giảng về các định nghĩa về phân chia các giáo phái trong đạo Phật.
下卷明南北諸師宗途異計。今所傳者上卷耳。
hạ quyển minh Nam Bắc chư sư tông đồ dị kế 。kim sở truyền giả thượng quyển nhĩ 。
Cuốn hạ nói về các đường hướng khác nhau của các tông sư của đời Nam Bắc Triều. Nay chỉ còn lại cuốn thượng mà thôi.
言約義該實為台教之關鑰。學者了此則一化大綱思過半矣。
ngôn ước nghĩa cai thật vi đài giáo chi quan thược 。học giả liễu thử tức nhất hóa đại cương tư qua bán hĩ 。
Trong sách này nói rõ về các định nghia then chốt về sự phân chia các giáo phái, giáo môn. Nếu học giả hiểu được những đại cương này thì đã học được qua nửa học thuyết này rồi.
南天竺沙門蒙潤有集註三卷。
Nam Thiên Trúc Sa Môn mông nhuận hữu tập chú tam quyển 。
Nam Thiên Trúc sa môn Mông Nhuận (28) có viết cuốn Tạp Chú ba cuổn [về cuốn Tứ Giáo Nghi ]
亦精核可喜近吳中有刻本焉。
diệc tinh hạch khả hỉ cận ngô trung hữu khắc bổn yên 。
cũng khảo cứu về học thuyết này rất hay, sách này gần đây được tái bản tại Ngô Trung.
掩關凡兩月既出則復濫世罔遂不能保淨戒。啖酒肉近妻子如曩時。
yểm quan phàm lượng nguyệt ký xuất tức phục lạm thế võng toại bất năng bảo tịnh giới 。đạm tửu nhục cận thê tử như nẵng thời 。
Nhập quan hai tháng nay vừa xuất quan đã trở lại những thói xấu cũ, không thể giữ những tịnh giới, uống rượu ăn thị, gần với thê thiếp như ngày xưa.
客有幼迷於他鄉者。一旦人告之曰子之家在某所。
khách hữu ấu mê ư tha hương giả 。nhất đán nhân cáo chi viết tử chi gia tại mỗ sở 。
Có một người từ nhỏ lưu lạc tha hương, một hôm có người cho ông biết rằng quê ông ở nơi nọ
父兄宗族墳墓田宅種種可念也。
phụ huynh tông tộc phần mộ điền trạch chủng chủng khả niệm dã 。
cha ông dòng họ, mồ mả tổ tông, nhà cửa ruộng vường ở quê ông... như thế nào.
其人即留滯不能遽返。豈作他鄉人哉。今歲春。
kỳ nhân tức lưu trệ bất năng cự phản 。khởi tác tha hương nhân tai 。kim tuế xuân 。
Nhưng người này nghe xong ở lại không lên đường về thăm quê quán mình, phải chăng người này muốn làm người tha hương đất khách mãi chăng? Mùa xuân này
余且以一命棄青山行有日矣。因追前志捨貲刻四教儀一卷。
dư thả dĩ nhất mạng khí thanh sơn hạnh/hành/hàng hữu nhật hĩ 。nhân truy tiền chí xả ti khắc tứ giáo nghi nhất quyển 。
ta cũng bỏ chuyến đi về quê Thanh Sơn [thăm nhà] đã nhiều ngày rồi. Vì muốn lây tiền chuyến đi Thanh Sơn để khắc in cuốn Tứ Giáo Nghi
并科文行于世同志者。
tinh khoa văn hành vu thế đồng chí giả 。
và những bài liên quan để ấn hành, để chia sẻ với quý vị có cùng một chi hướng.
其遂執鑰洞關以窮海藏。令一家教觀如日輪當午川流赴壑。
kỳ toại chấp thược đỗng quan dĩ cùng hải tạng 。lệnh nhất gia giáo quán như nhật luân đương ngọ xuyên lưu phó hác 。
để mãn nguyện người cất giữ cuốn sách quý này, để nhừng giáo lý của tông phái này lại sáng chói như mặt trời giữa trưa, mãi lưu lại cùng núi sông
即余留滯他鄉可藉以懺悔矣。其勉之哉。其勉之哉。
tức dư lưu trệ tha hương khả tạ dĩ sám hối hĩ 。kỳ miễn chi tai 。kỳ miễn chi tai 。
Làm như vậy dù ta không về quê ở lại tha hương cùng có thể sám hối chuộc tôi một phần nào chăng? Hãy làm như vậy! Hãy làm như vậy!
壬午春佛歡喜日病居士馮夢禎譔
nhâm ngọ xuân Phật hoan hỉ nhật bệnh cư sĩ Phùng Mộng Trinh soạn
Xuân nhâm ngọ, ngày Phật hoan hỷ (29), người cư sĩ bệnh Phùng Mộng Trinh (30) soạn viết.