Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thức biến

Thức biến

Tác giả: Thích Thiện Siêu. Năm xuất bản: -. Số trang: 399.

Chương 17: Người Tại Gia Tu Phật (Trang 233 - 256)

NGƯỜI TẠI GIA TU PHẬT
 
Tu có nghĩa là sửa. Tu rất khó, khó nhất là tu tại gia. Cho nên có câu: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Ở chùa có nhiều thiện duyên nên tương đối dễ tu. Ở chợ là khó tu một chút vì phải giữ lòng ngay thẳng, không gian manh lường cân tráo đấu: Ở nhà lại khó hơn nữa vì bạn ác rủ rê làm ta dễ bị sa đọa.
Muốn tu tại gia, trước tiên ta phải: “Quy y Tam Bảo”, và khi ta quy y Tam Bảo thì vấn đề lễ bái đối với ta rất quan trọng. Điều thứ nhất trong hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền: “Nhất dạ lễ kính chư Phật”.
Có một lần ở thành Vương xá, đức Thế Tôn thấy một người con trai gia chủ là Thi Ca La Việt (Thiện Sanh) sáng nào cũng hướng 6 phương đảnh lễ trong lúc áo quần đang còn ướt sũng. Đức Thế Tôn hỏi Thi Ca La Việt lễ lạy như thế để làm gì thì y thưa rằng, lễ lạy như vậy là làm theo lời cha dặn trước lúc lâm chung.
Chúng ta đôi khi cũng lễ lạy như vậy, lễ lạy theo thói quen khi bước chân vào chùa, lễ lạy khi nghe tiếng chuông nhưng chúng ta cũng không ý thức lễ lạy để làm gì, và vì sao phải lễ lạy? Hoặc giả chúng ta lễ lạy để cầu xin mua may bán đắt, cầu xin cho con 
cái thi đậu, cầu xin sức khỏe khi có người thân lâm bệnh. Chúng ta thường chỉ biết lễ lạy với tâm nguyện cầu như thế. Chúng ta quên mục đích cao cả khi chúng ta đã “Quy y Tam Bảo” là chúng ta phải học đạo của đức Phật, hành đạo như đức Phật, mục đích là xoay đời sống hung ác của ta thành đời sống từ bi, xoay xấu xa trở thành tốt đẹp. Chúng ta thường hay bạ đâu tính đó, ham kinh doanh, ham làm tiền, ham danh vọng, nên đời sống của chúng ta do đó không an lạc, chúng ta không được giải thoát.
Một lần nọ, có một đệ tử đến cầu xin đức Phật giải thoát cho y khỏi bao đau khổ, phiền não thì đức Phật hỏi y: Ai ràng buộc ngươi? Ai không cho ngươi được giải thoát? Do vậy, chúng ta phải biết quy y Tam Bảo là nương theo Tam Bảo như đức Phật để hành đạo, để tu như đức Phật cho đến khi được Chánh đẳng chánh giác. Cho nên, khi chúng ta đã quy y Tam Bảo thì chúng ta không lạy gốc cây, không lạy bờ sông, không cúng ông táo. Nếu chúng ta vẫn làm như vậy tức là chúng ta đã quên rằng chúng ta đã quy y Tam Bảo. Như vậy, chẳng khác nào anh làm ruộng gieo giống ngoài đồng rồi bỏ đó, không chăm sóc, không tưới bón, không vun quén. Nếu chúng ta quy y Tam Bảo mà chúng ta không tu không học đạo, không hành đạo, nếu chúng ta nhận định sai lạc thì một ngày kia chúng ta phải thối tâm và sa đọa.
Đức Phật có dạy cho chúng ta một bài học như thế này: Của cải không đem lại chân hạnh phúc. Một hôm đức Phật ngồi trên đám cỏ ướt mà không lạnh, không thấy khổ, vì nguyên nhân gây khổ cho đức Phật đã dứt từ lâu, nên đức Phật vẫn an nhiên tự tại. Đức Phật bảo rằng nằm trong nệm ấm chăn êm mà lòng tham, sân, si không dứt, luôn luôn lo sợ mất của  thì vẫn lo sợ như thường.
Chúng ta đôi khi quên mục đích quy y và lễ bái Tam Bảo của chúng ta, và nếu chúng ta lễ bái với mục đích thỏa mãn, lòng tham muốn tầm thường bất chính, thì chúng ta không bao giờ đạt được mục đích kia.
Ngày xưa có một người thờ vị thần Lã Tổ và đêm ngày sáu thời anh ấy đều đem hương hoa lễ bái kính cẩn, chí thành. Vị thần thấy anh có tâm thành như vậy nên rất cảm động, bèn hỏi anh ấy muốn cầu xin điều gì. Anh đáp là muốn xin thần cho một chén vàng, vì nhà nghèo quá. Vị thần bèn đưa ngón tay hóa phép và một chén vàng hiện ra. Anh ta mừng quá. Vài hôm sau anh ta lại tiếp tục hương hoa lễ bái thành khẩn như trước. Vị thần lại hiện lên và hỏi anh ta muốn cầu xin điều gì nữa. Anh ta liền thưa: Chén vàng nhỏ quá, không đủ để chi dùng, xin thần cho một bình vàng. Ông thần lại đưa một ngón tay ra chỉ và một bình vàng đầy ắp được hiện ra. Anh ta mừng quýnh. Nhưng chẳng bao lâu anh ta nghĩ rằng mình muốn nhiều thứ 
hơn nữa, mà mỗi lần cầu xin thì chỉ được một thứ mất công lễ bái. Lần này anh ta sắm nhiều hương hoa, lễ bái nhiều hơn trước và thành khẩn nhiều hơn trước. Vị thần thắc mắc quá, chẳng biết anh ta còn muốn điều gì nữa đây? Ông hỏi: Con còn muốn cầu xin điều gì nữa? Có phải con muốn Đạo không? Hỏi năm ba lần, anh ta mới thưa rằng, chỉ muốn xin ngón tay làm phép của thần thôi. Vị thần nổi giận, đưa ngón tay chỉ một cái, tức thì nhà cửa, xe cộ, của cải của anh ta cũng đều sụp đổ tan tành.
Thế mới hay, nếu chúng ta lễ bái với mục đích cầu lợi lạc thì không bao giờ được thỏa nguyện, bởi lòng tham của chúng ta vô bờ bến.
Nếu chúng ta không rõ ý nghĩa của lễ bái thì việc lễ bái trở thành vô ích. Vì sợ sệt mà lễ, vì lợi lộc mà lễ thì lễ Phật cũng như lễ gốc cây, bụi bờ không khác. Đằng này chúng ta lễ Phật vì kính trọng đức hạnh cao cả, vì kính phục tâm lượng đại từ đại bi và trí tuệ rộng lớn bao la của đức Phật. Chúng ta đã quy y theo Phật thì tâm lượng ta cũng phải rộng lượng bao la, chúng ta phải có trí tuệ sáng suốt như đức Phật. Chúng ta cố gắng bỏ tánh tham lam, bỏn sẻn, hẹp hòi, nhỏ mọn. Biết rằng đồng tiền không đem lại hạnh phúc tuyệt đối, nó là “một đầy tớ trung thành và đồng thời cũng là một người chủ khắc nghiệt” (Ngạn ngữ phương Tây). Nếu chúng ta không để cho đồng tiền
 làm chủ ta thì đồng tiền mới đem lại hạnh phúc cho ta (Câu chuyện anh chàng nghèo khổ phát tâm cúng dường chiếc áo choàng duy nhất của hai vợ chồng, rồi vừa chạy vừa la  “Thắng rồi thắng rồi”. Gặp lúc vua ngự ngang qua, cho vời lại hỏi cớ sự. Vua khen ngợi tấm lòng quảng đại của anh ấy và thưởng cho  rất nhiều của cải).
Chúng ta lễ Phật là để cảm ân đức của Phật đã giáo hóa chúng ta: đã bày chế ra bao nhiêu pháp môn phương tiện hầu dẫn dắt chúng ta đến Niết-bàn, đến giải thoát. Phá trừ ngã chấp là giáo lý cao quý nhất mà đức Phật dạy cho chúng ta.
Có người chuyên tu đã lâu năm, khi đạt được thần thông, bèn lên thiên đường gõ cửa Thượng đế. Thượng đế hỏi: Ai đó? Người kia đáp: Tôi đây, Thượng đế hỏi: Tôi là ai? Người kia đáp: Tôi là tôi. Thượng đế bảo: Nếu tôi là tôi và ông là ông thì ở đây không có chỗ cho hai người cùng ở, hãy về đi. Người kia trở về tu nữa. Lần sau, khi gõ cửa thiên đường và Thượng đế hỏi: Ai đó? – Tôi – Tôi là ai? Người kia đáp: Tôi là Ngài. Thượng đế bảo: Hãy vào.
Cho nên, khi chúng ta không phân biệt tôi, anh; khi chúng ta không chấp cái “ta” thì bao nhiêu người cũng như một, đều sống chung với nhau, hòa thuận vui vẻ.
Đứa bé mới ra đời chưa biết chi. Đến một tuổi cha mẹ mới đặt cho một cái tên, có khi một cái tên rất xấu xí, và dần dần nó chấp chặt cái tên xấu xí đó là mình. Khi có ai gọi cái tên ấy mà chửi rủa, mắng nhiếc thì nó đau khổ hay nổi sân. Hoặc có ai gọi cái tên ấy mà tán thán, khen ngợi thì nó thấy sung sướng, phấn khởi. Hoặc nghe người khác xưng hô với mình thiếu lịch sự thì nó lại phiền muộn. Vì một cái tên bông lông, không vào đâu mà mình cứ đau khổ, sống chết luân hồi triền miên với nó? Nếu tin hiểu được lời Phật dạy “Vạn pháp đều như hóa như huyễn” thì ta không bao giờ đau khổ, không phiền muộn nữa. Cái danh xưng là giả tạm, cái thân là giả hợp. Nếu chúng ta hiểu được như vậy, tất chúng ta an lạc giải thoát (danh xưng như huyễn vô ngã).
Như vậy để biết, khi lễ Phật, chúng ta nên nguyện gì? “Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não, nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu, nghiệp chướng tất tiêu trừ, thế thế thường hành Bồ-tát đạo”. Đó là tự giác, giác tha? Tự lợi lợi tha. Đó là đem lại an lạc cho mình, cho nhân loại và cho hết thảy chúng sinh. Cái an lạc này là an lạc từ trong tâm mà ra, từ trong lòng mình mà phát ra. Đức Phật chỉ dạy cái an lạc phát ra từ trong lòng mình mới là cái an lạc chân thật, còn cái an lạc từ ngoài mà có thì cái an lạc ấy là giả tạo.
Ta lễ bái 10 phương để làm gì? Và ta lễ ai? Ta lễ tất cả biến pháp giới chư Phật: nhất nhất biến lễ sát trần Phật. Tức ta cầu tất cả đức Phật hộ trì, để cho ta: diệt trừ được bốn nghiệp phiền não (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối); diệt trừ bốn chân lý là do làm ác (tham lam, sân hận, ngã mạn, ngu si); trừ bỏ sáu nguyên nhân phung phí tài sản (cờ bạc, rượu chè, giao du đường phố phi thời, la cà đình đám hí viện, giao du với bạn ác, quen thói lười biếng). Lễ bái với mục đích như vậy mới là chính đáng.
Khi đức Phật dạy cho người tại gia, nếu ai học được đúng đắn thì sẽ trở thành người tốt nhất. Chúng ta đã có nhiều công phu học tập Phật pháp nhưng ít khi nghe được một pháp vừa như ly sữa ngon, ngọt cho trẻ thơ, như bữa ăn ngon cho người lớn, như bữa ăn bổ dưỡng cho người già cả.
Ngài dạy dỗ tất cả chúng sinh không phân biệt, lời dạy chung không bỏ ai, không chọn lựa ai: ai cố gắng nghe, hành trì thì được giải thoát ngon ngọt. Mọi căn cơ đều có pháp môn thích hợp.
Nhân một buổi sáng đức Phật đi khất thực, thấy chàng Thiện Sanh, con trai người gia chủ, hướng sáu phương lễ bái, đức Phật liền dạy: Muốn cho việc lễ bái có ý nghĩa, trước tiên không làm bốn hạnh ác về tham, sân, si, mê. Sau đó, tránh xa 6 nguyên nhân phung phí tài sản mà ở đời ít ai tránh khỏi. Đó là:
1. Đam mê rượu: có 6 điều bất lợi: tài sản bị hao tổn, ưa tranh đấu, tật bệnh dễ xâm nhập, tổn thương danh dự, để lộ thân tàng, trí huệ thương tổn, tâm trí không bình tĩnh (câu chuyện Ưu bà tắc vô tình uống lầm rượu mà phạm mọi giới: ăn cắp gà, sát sanh, tà dâm, nói dối)
2. Du hành đường phố phi thời: không ai che chở cho mình, không ai hộ trì gia đình, tài sản không ai trông nom, bị tình nghi là tác giả các việc ác, nạn nhân các tin đồn thất thiệt, tự rước vào thân nhiều khổ não.
3. La cà đình đám hí viện: tâm mơ tưởng vui chơi, bỏ bê vợ con, xao lãng công ăn việc làm, hao tổn tiền bạc.
4. Đam mê cờ bạc: nếu thắng thì gây thù oán, nếu thua thì tâm sanh phiền muộn, tài sản bị hao thất, gây ra tranh chấp, đánh lộn, lời nói không ai tin, bạn hữu khinh khi, vấn đề cưới gả không được tín nhiệm…
5. Gần gũi bạn ác: đó là những bạn cờ bạc, bạn loạn hành, người nghiện rượu, kẻ bạo động, người lường gạt.
6. Quen thói lười biếng: luôn luôn kiếm cớ để từ chối làm việc (quá nóng, quá lạnh, quá trễ, quá sớm, quá đói, quá no).
Đức Phật dạy phải chọn bạn như thế nào?
Chọn thiện hữu tri thức mà giao du, nghĩa là người bạn lành. Có nhiều loại bạn: bạn rượu, bạn cờ bạc, bạn cơ hội, bạn mồm. Bạn giúp mình lúc hữu sự mới đúng là bạn tốt.
- Bạn ác: bạn đam mê cờ bạc, héo mòn như trăng khuyết, nợ nần như chìm trong bồn nước…
- Bạn như thế nào cho xứng đáng mới đúng là tự giác giác tha?
Bốn hạng người không phải là bạn: đụng vật gì cũng lấy, chỉ biết nói giỏi, khéo nịnh hót, tiêu pha xa xỉ, sợ thế lực, cho ít xin nhiều. Bạn vì mưu lợi: tỏ lộ thân tình trong việc đã qua, hoặc việc chưa đến, mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ, khi có công việc từ bỏ bất lực; đồng ý các việc ác, không đồng ý các việc thiện; trước mặt thì tán thán, sau lưng lại chỉ trích.
Tiêu pha xa xí, cờ bạc rượu chè, vui chơi bê tha, đình đám, du hành đường phố phi thời thì người trí phải tránh.
- Bạn nên theo: người bạn giúp đỡ mình lúc hữu sự, khuyên điều lợi ích, người bạn chung thủy, có lòng thương tưởng tới mình. Mình muốn làm bạn với ai mình cũng cần có bốn điều tốt ấy; khuyên nhủ bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở cho bạn, làm chỗ nương tựa cho bạn khi bạn có điều sợ hãi, giúp bạn 
khi thiếu thốn (câu chuyện Lưu Bình, Dương Lễ). Người bạn trong nạn khổ cũng như lúc vui: thổ lộ tâm tình; giữ gìn những điều bí mật của bạn hoặc tốt hoặc xấu; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn, dám hy sinh thân mạng vì bạn “bần cư náo thị vô nhân vấn; phú tại thâm sơn hữu viễn thân” thời không phải bạn.
Đức Phật là người bạn không mời mà đến: Ngài không chất chứa tiền của, Ngài đã diệt trừ lòng kiêu mạn, làm bạn với tất cả mọi người. Trong sự không nói, Ngài nói rất nhiều; Ngài đã diệt trừ lòng tham, chỉ ăn một bữa ngọ (khất thực buổi sáng, không khất thực buổi chiều), bình đẳng không lựa chọn. Có người chỉ trích Ngài chỉ đi khất thực, không làm lấy mà sống. Ngài đáp rằng, Ngài cũng đang gieo trồng: trong việc khất thực, Ngài gieo hạt giống từ bi; Ngài cũng cày bừa: cái cày là tinh tấn, cái bừa là nhẫn nhục, con trâu là thiền định; Ngài cho bạn nghe những điều chưa được nghe, chỉ cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên.
Bạn tốt không hoan hỷ khi bạn mình gặp nạn; hoan hỷ khi bạn mình gặp may mắn, cản ngăn khi nghe người khác nói xấu bạn mình.
Người biết tích lũy tài sản như con ong, như đụn mối. Tiền của chia thành bốn phần: Một phần để tiêu 
pha, hai phần để làm vốn, một phần để dành khi gặp tai biến, khó khăn, làm việc từ thiện, cúng dường.
Bạn như hoa, bạn như cân là không phải bạn. Bạn như hoa là bạn vì danh vọng, vì giàu có, vì lợi lộc. Bạn như cân là bạn luôn luôn đòi hỏi sự cân xứng cả hai bên. Cân qua cân lại, giúp qua giúp lại mới làm bạn.
Bạn như đất mới đúng là bạn tốt: tâm thành thiết tha, giúp cho bạn mình được lợi ích, không ganh tỵ, hoan hỷ (như đám đất). Ngược lại, khi bạn sa cơ, nghèo khổ, mình vẫn như xưa, không bỏ bạn, đó mới là người bạn chân thật. Bạn tốt thì không dẫn dắt mình vào đường hư hỏng, biếng nhác. Không nên gần gũi những người mà mình không coi như bạn thân thiết. Mình làm bạn với ai cũng vậy, thiệt tâm giúp đỡ bạn, khi bạn bị thất sủng mình không bỏ. Đó là bước đầu cơ bản để đi đến việc lễ bái sáu phương có ý nghĩa.
Sáu phương đó là: 1. Phương Đông chỉ cho cha mẹ; 2. Phương trên chỉ tôn sư (Sa-môn, Bà-la-môn); 3. Phương Nam chỉ sư trưởng; 4. Phương Bắc chỉ bạn bè; 5. Phương Tây chỉ vợ chồng; 6. Phương dưới chỉ người giúp việc.
Chúng ta phải liên quan tới sáu phương diện mới sống được; sáu phương tương quan mật thiết với chúng ta. Nếu cắt đứt với sáu tương quan này thì 
chúng ta không thể sống được. Mình sống đây là sống tương quan với 6 hạng người; vậy ta cư xử thế nào cho đúng, theo lẽ phải, theo luật pháp?
- Phương Đông: làm con phải phụng dưỡng cha mẹ, có bổn phận hầu hạ sớm tối, bảo vệ tài sản của cha mẹ, lo tang khi cha mẹ qua đời. Cha mẹ nuôi con với tình thương, con cũng phụng dưỡng cha mẹ với tình thương; sớm viếng tối thăm, cung kính giữ gìn truyền thống gia đình.
Cha mẹ cũng có năm bổn phận đối với con cái? Cưới vợ gả chồng, dạy nghề nghiệp cho con, ngăn ngừa con giao du với bạn xấu, con hư là cha mẹ có một phần trách nhiệm; trao của cải sự nghiệp cho con khi đúng thời. Lòng thương không sáng suốt làm cho con hư hỏng. Chọn nơi xứng đáng làm vợ làm chồng cho con. Ngày xưa các bậc cha mẹ chọn nơi môn đăng hộ đối, để lại lời than trách của con cái, xúi dục con vào đường tỳ thiếp. Không nên vì tham lam mà đưa đẩy con vào con đường xấu xa. Ân và oán là do trong gia đình mà ra, khéo tu là hạnh phúc, không tu là dây oan.
Như vậy là phương Đông được che chở, không có chi sợ hãi.
- Phương Nam: Ta phải phụng sự Sư trưởng như phụng sự cha mẹ: “Tiên học lễ hậu học văn”: chào 
hỏi thăm viếng ân cần, hầu hạ Sư trưởng, hăng hái học tập. Ngược lại, Sư trưởng có bổn phận huấn luyện đệ tử như mình đã được huấn luyện, thương đệ tử, khen đệ tử khi đệ tử học giỏi, đảm bảo nghề nghiệp cho đệ tử.
Như vậy phương Nam được che chở, không có chi sợ hãi.
- Phương Tây: Đối với vợ, chồng phải kính trọng, không bất kính thủy chung, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ, khuyên răn giáo dục vợ khi vợ hỗn hào, như chuyện anh chàng sau đây: Có một chàng kia gặp chị vợ quá hỗn hào, luôn chửi mắng chồng, nguyền rủa chồng khi có điều gì không vừa ý. Anh ta mới đi mua về một cái hòm để trong nhà. Chị vợ hỏi: Mua hòm để làm gì? Anh ta đáp là mua về để chôn anh khi anh chết, vì có thể anh chết thình lình chưa biết khi nào. Và mỗi lần chị vợ chửi rủa chồng thì anh ta đánh thình thịch trên quan tài và khóc rống lên: Chàng ơi, sao chàng chết đi, chàng nỡ bỏ thiếp bơ vơ một mình, không ai giúp đỡ, không ai trông nom, bảo vệ thiếp?”. Anh ta cứ khóc thảm thiết cho đến khi chị vợ ngưng mắng mỏ, anh mới thôi khóc. Và vài ba lần như vậy, chị vợ suy nghĩ lại, thấy mình hỗn hào với chồng quả thật là điều không nên. Kể từ đó, không bao giờ chị ta mắng mỏ chồng nữa. Đó là một cách giáo dục vợ, đem lại kết quả tốt đẹp.
Vợ đối với chồng cũng phải làm hết bổn phận: khéo đón tiếp bà con bên chồng, trung thành với chồng, giữ gìn của cải, khéo léo làm mọi công việc trong gia đình.
Như vậy, phương Tây được an ổn, che chở không chi sợ hãi.
- Phương Bắc: Không lường gạt bạn thì được bạn bè thương tưởng; che chở bạn, bảo vệ tài sản cho bạn và ta luôn trở thành chỗ nương tựa của bạn, không tránh xa khi bạn gặp khó khăn. Kính trọng gia đình bạn.
Như vậy phương Bắc được che chở lẫn nhau, không ai sợ ai.
- Phương dưới: Đối với người giúp việc ta phải lo lắng ăn uống và trả tiền lương đầy đủ. Bắt họ làm việc nhiều mà trả lương ít coi như mắc nợ người ta vậy. Chăm sóc họ khi có bệnh hoạn, ốm đau. Có miếng ăn ngon nên chia xẻ cho họ, thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép; đối xử tốt thì người giúp việc trở thành bạn với mình, nếu không đối xử đúng đắn, người giúp việc dễ trở thành người thù đối với mình.
Ngược lại, đối với chủ, người giúp việc phải thức dậy sớm hơn, trước khi chủ thức dậy và đi ngủ sau chủ, tự bằng lòng với các vật chủ cho, khéo đảm đang công việc, không phải làm cho qua loa, lấy lệ. Đem danh tiếng tốt 
về cho chủ. Như vậy, chủ xứng đáng mà tớ cũng xứng đáng, và phương dưới được che chở không có chi mà sợ hãi.
- Phương trên: Đối với Sa-môn, Bà-la-môn phải có lòng từ, hành động tốt về thân, khẩu và ý. Mở rộng cửa để đón Sa-môn và Bà-la-môn, cúng dường vật dụng cần thiết. Sa-môn và Bà-la-môn đối với chúng ta thì có lòng thương tưởng chúng  ta, ngăn không cho làm điều ác, cảnh giác khuyên răn, khuyến khích làm điều thiện, làm cho thanh tịnh những điều đã nghe. Thương xót chúng sinh với tâm từ bi. Là thiện tri thức của chúng ta, dạy chúng ta những điều chưa nghe, chưa biết, làm  cho rõ ràng để thực hiện cho được, đó là pháp thanh tịnh tâm làm cho chúng ta hoàn thành đạo nhân thừa.
Như vậy, phương trên che chở. Hai bên trở thành nơi nương tựa cho nhau, che chở cho nhau.
Trên đây là pháp lễ bái đầy đủ sáu phương theo kinh Thiện Sanh và để kết luận, đức Phật nói bài kệ:
“Cha mẹ là phương Đông        Sư trưởng là phương Nam
Vợ chồng là phương Tây         Bạn bè là phương Bắc
Nô bộc là phương dưới            Sa-môn, Bà-la-môn
Có nghĩa là phương trên         Cư sĩ và gia đình
Đảnh lễ phương hướng ấy       Kẻ trí giữ giới luật
Từ tốn và biện tài                   Khiêm nhường và  nhu thuận
Nhờ vậy được danh xưng      Dậy sớm không biếng nhác
Bất động giữa hiểm nguy                Người hiền không phạm giới
Nhờ vậy được danh xưng                 Nhiếp chúng tạo nên bạn
Từ ái tâm bao dung                        Dẫn Đạo khuyến hóa
Đạo Nhờ vậy được danh xưng        Bố thí và ái ngữ

Lợi hành bất cứ ai                         Đồng sự trong mọi việc
Theo trường hợp xử sự                  Chính những nhiếp pháp này
Khiến thế gian xoay quanh            Như bánh xe quay lăn
Vòng theo trục xe chính              Nhiếp sự này vắng mặt
Không có mẹ hưởng thọ              Hay không cha hưởng thọ
Sự hiếu kính của con                   Do vậy bậc có trí
Đối với nhiếp pháp này              Như quán sát chấp trì
Nhờ vậy thành to lớn                  Được tán thán khen ngợi”.
Tròn bổn phận đối với sáu phương, tức là lễ bái sáu phương, hợp với giáo lý đức Phật là từ tốn và biện tài.
Đức tính “từ tốn” là không tranh thắng với ai, không vội vã “biện tài” là muốn lợi ích cho mình và cho người khác thì tìm những lời nói năng khéo léo, dùng tài hùng biện để thuyết phục người, lời nói đủ ý nghĩa, đúng căn cơ để chuyển tâm người.
Căn bổn trong chúng sinh là: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Mạn có 7 thứ: 1. Mạn: cứ đem tâm so sánh hơn thua trong ý nghĩ mình hơn người; 2. Ngã mạn: vì ỷ mình mà lấn lướt người; 3. Quá mạn: mình bằng 
người mà cho là hơn; người hơn mình mà cho là bằng; 4. Mạn quá mạn: người hơn mình nhiều, mà cho mình là hơn người; 5. Tăng thượng mạn: chưa chứng thánh quả mà cho mình đã chứng; 6. Ty liệt mạn: mình thua người nhiều mà nói rằng thua ít; 7. Tà mạn: người tu về tà đạo được chút ít thần thông, học hiểu biết đôi chút việc quá khứ, vị lai, rồi khinh khi lấn lướt người khác.
Muốn chuyển tâm phàm của chúng sinh thành tâm thánh thì người ta phải tu học đức tính từ tốn và biện tài của đức Phật.
Ta còn phải học tính “bất động trước hiểm nguy” của đức Phật nữa, nghĩa là phải tu tập để không sợ hiểm nguy. Nếu ta phá được ngã chấp và ngã sở thì ta mới bất động trước nguy hiểm, và nếu còn chấp ngã và ngã sở thì cái khổ càng dày vì cứ sợ thiệt hại mất mát. Vì sao nhà ta cháy thì ta đau đớn khổ sở, còn vì sao nhà người khác cháy mà ta vẫn an nhiên như không xảy ra việc gì?
Khi ta chấp một cái danh hư huyễn làm ta, thì ta cứ đau khổ liên miên khi cái danh xưng ấy bị gièm xiểm.
Xưa có một vị thiền sư đang tụng kinh thì có tên trộm lẻn vào và dí dao vào lưng, hỏi: - Tiền để đâu? Thiền sư liền đưa tiền ra và bảo tên trộm: Đừng có lấy hết, hãy để lại một ít để đóng thuế. Tên trộm được tiền ra về. Thiền sư gọi giật lại, hỏi: Sao không cảm 
ơn khi người ta cho mình tiền của? Tên trộm liền cảm ơn… Vài hôm sau tên trộm bị bắt giải lên huyện. Ông huyện cho mời Thiền sư đến và hỏi: Thiền sư bị mất trộm bao nhiêu? Thiền sư đáp không bị mất trộm. Ông huyện bảo Thiền sư: Sao đã tu hành mà còn nói dối? Vì tên trộm cũng khai là đã lấy tiền của Thiền sư. Thiền sư đáp: Tên trộm đã được Thiền sư cho tiền và y đã cám ơn, chớ không lấy trộm… do đó, tên trộm đã được tha về.
Thế mới biết, đối với của cải mà mình đã xả rồi thì mình không còn sợ bị hiểm nguy. Mình dùng cái ngã của mình để tu hành, nên gặp nguy hiểm mình không sợ. Còn coi nặng cái ngã và ngã sở thì còn mang nhiều đau khổ. Việc này rất cao siêu và khó học tập, nhưng nếu ta cố gắng tinh tấn học tập thì thế nào cũng đạt được kết quả mong muốn.
Người giúp việc vấp té, lỡ tay làm bể bát cổ. Bà chủ hỏi: Con té có đau không? Như vậy là bà  có đức độ bao dung, biết thương người mà không tiếc của.
Xưa có một thầy lang giỏi nổi tiếng. Có một người kia có mẹ già bệnh nặng, cứ chầu chực mấy ngày liền mà không rước được thầy lang. Y bèn quỳ giữa đường mà đón xe thầy ngang qua. Thầy lang buộc lòng phải đến chữa bệnh cho mẹ y. Thầy cho hai thang thuốc và bảo y ngày hôm sau cho thầy biết kết quả. Hôm sau y đến thưa thầy rằng mẹ y đã bớt bệnh nhiều, nhưng chắc
 chết. Thầy ngạc nhiên hỏi: Sao bớt bệnh mà lại chắc chết? Thuốc thầy chưa bao giờ làm cho ai chết cả. Y thưa: Mẹ y không phải chết vì bệnh mà chết vì mất của, tiếc của. Nguyên mẹ y đã để dưới gối một lượng vàng, mà nay không còn nữa. Nếu tìm lượng vàng không ra thì mẹ y chắc chết. Thầy lang liền mở tủ, lấy một lượng vàng, bảo y cầm về đưa cho mẹ y. Hôm sau, mẹ y lành bệnh, giũ chiếu giường đem phơi nắng, thì lại thấy lượng vàng của mình văng ra, biết mẹ con mình đã nghi oan cho thầy lang, hai mẹ con liền đem vàng đến trả và lạy tạ, xin sám hối tội lỗi.
Thầy lang đã có đức đại lượng bao dung, chịu mang danh ăn cắp, chịu mất một lượng vàng, chỉ muốn cứu sống một mạng người.
Muốn dẫn Đạo, để khuyến hóa Đạo ta phải có lòng quảng đại bao dung, và muốn nhiếp phục chúng sinh quay về với Phật pháp, ta cần thực hành theo tứ nhiếp pháp.
Tứ nhiếp pháp là những gì? Ấy là: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
1. Bố thí nhiếp: có 3 cách bố thí: tài thí, pháp thí, vô úy thí.
a. Tài thí: có nội tài (bố thí chính ngay thân mạng mình, cho máu để tiếp người bệnh) và ngoại tài (cho tiền bạc của cải). Tài thí có nhiều cách: định kỳ thí, 

cấp thời bố thí (một miếng khi đói bằng một gói khi no), hợp lực bố thí (kêu gọi hợp lực cùng nhau làm, vì một mình không đủ phương tiện), kính cẩn bố thí (kính cẩn đối với người mình bố thí).

Bố thí thì cần xét đến: tâm bố thí, của đem bố thí, và người mình bố thí. 1. Tâm phải là tâm thanh tịnh nghĩa là trong sạch không phải cầu danh, hoan hỷ khi đang bố thí và mừng rỡ khi đang bố thí; 2. Của bố thí phải là thanh tịnh, nếu là của không trong sạch (ví dụ: của ăn cướp) thì không phước đức; 3. Xứng cảnh thí: 3 thứ ruộng phước: kính điền (người đáng tôn trọng) ân điền (người có ân với mình như cha mẹ, sư trưởng); đi điền (người đáng thương xót).

Khó có người giàu có như ông Cấp Cô Độc đem vàng trải ở Kỳ Viên, nhưng người nghèo cũng có thể bố thí được. Như anh kia thấy người ta cúng dường trai tăng, anh chỉ kiếm ra được một ít đậu, bèn đứng vào một bên góc nhà. Lúc người ta đang tác bạch, thì thấy đậu rải đầy bàn ăn, mọi người đang tìm hiểu thì đức Phật thấy anh đang ngồi trong góc phòng. Đức Phật gọi anh ta là “Ngài đại thí chủ”, mọi người đều mời anh ra cùng dự chung. Anh ta chỉ bố thí với tâm thành khẩn, không kể mình thấp hèn.

Có chị ở giúp việc cho người ta, rất muốn cúng dường đức Phật. Chị nghèo quá, chỉ kiếm được một miếng bột bèn gói trong lá, đem nướng và mong được 

cúng dường đức Phật nhưng chỉ sợ đức Phật không nhận. Không ngờ đức Phật nhận và bốc ra ăn liền trước mặt chị. Chị ta sung sướng hết sức.

b. Pháp thí: Trong khi tài thí giúp đỡ xác thân thì pháp thí có công năng giúp đỡ pháp thân, huệ mạng. Nếu không có pháp nuôi dưỡng thì pháp thân héo mòn (liệt tuệ), trái lại thì pháp thân tăng trưởng. Việc pháp thí rất khó vì nếu ta không biết pháp, không học pháp thì lấy đâu để pháp thí? Cho nên, đức Phật thường bảo đệ tử đem giáo lý của đức Phật phổ biến cùng khắp. Đối với người đau khổ về tinh thần thì cần pháp thí.

Có một chị đi lấy chồng, lâu lắm mới có được mụn con. Khi con mới lên ba thì chồng qua đời, và sau đó ít lâu, đứa con bỗng chốc bị trúng gió và chết mất. Chị ta đau đớn vô cùng và không tin là con mình đã chết. Chị bồng con đi xin thuốc chữa. Với tâm sầu khổ, chị đến gặp đức Phật và xin đức Phật cứu sống con chị. Đức Phật bảo chị đi xin hột cải của nhà nào mà nhà đó từ trước đến nay chưa có người thân chết, đem về để đức Phật cứu con chị. Chị đến từng nhà xin hột cải; nhưng chị hỏi trong nhà đã có ai chết chưa, thì người nào cũng đáp là nhà đã có người chết. Và cuối cùng chị đã đến một nhà vừa có con nhỏ chết. Chị ta liền giác ngộ, bèn đem con về chôn cất. Hôm sau chị đến bạch Phật rằng việc đức Phật dạy bảo chị đã làm xong, và xin đức Phật chứng minh cho.

Như vậy là đức Phật đã dạy pháp để chị ta tự tu, tự chứng, nếu lúc bấy giờ giảng giáo lý thì không hợp, trong lúc chị ta đang đau khổ. Trong khi đi xin hột cải thì chị ta đã trực tiếp chứng ngộ được lý vô thường của vạn vật.
Chúng ta học đạo là để chất chứa Phật pháp, ngõ hầu khi gặp tai biến mà tiêu dùng, như cất chứa tiền của vậy.
c. Vô úy thí: là đem cái không sợ ra thí cho chúng sinh. Ta không giết hại vật thì vật gần ta không sợ hãi, ta không lấy cắp thì người khác không sợ ta lấy cắp của người. Vả lại còn biết hy sinh giúp người cứu vật trong lúc tai nạn nguy biến.
2. Ái ngữ nhiếp: tùy theo căn tính chúng sinh mà khôn khéo nói năng, an ủi khuyên lơn, nhơn nơi tình thế  mà khiến họ sanh lòng thương mến, rồi từ đó họ mới theo ta mà học đạo. Lời nói khéo léo, ôn tồn, nhẹ nhàng đem lại an lạc cho tâm ta cũng như mọi người.
Có anh kia đi cày, ngủ trưa quên cột trâu. Có một con hổ từ trên núi đi xuống. Trâu đến đánh thức chủ dậy để báo động. Mất ngủ anh kia bèn đánh đuổi trâu. Trâu kia sợ hổ ăn thịt chủ, bèn chồm lên mình chủ để đỡ cho chủ. Anh đi cày giận quá, cho là trâu 
trở chứng, liền bỏ buổi cày dẫn trâu về. Dọc đường gặp đức Phật, trâu khóc. Đức Phật vỗ về trâu, lấy lời dịu ngọt dỗ dành khiến trâu hết đau khổ, và làm cho anh đi cày giác ngộ.
Ái ngữ nhiếp là không phải lấy lời dịu ngọt để nịnh hót cốt làm lợi cho mình. Ái ngữ ở đây cốt lợi cho người khác.
3. Lợi hành nhiếp: làm những việc có lợi cho người khác để giúp họ bỏ ác làm thiện, bỏ tà theo chánh. Bất cứ việc nhỏ hay lớn, nếu biết làm thì mới có giá trị lớn. Kinh Lăng Nghiêm: Ngài Trì Địa Bồ-tát chuyên đi sửa đường, sửa cầu, gánh đồ giùm cho mọi người.
Hòa thượng kể câu chuyện đã có lần cùng với quý thầy đi qua một cánh đồng. Nắng gắt và khát nước, mọi người dừng lại nghỉ chân ăn uống. Nhân ăn xoài, quý thầy ương những hột xoài tại chỗ. Mấy năm sau có việc, Hòa thượng cùng với quý thầy lại đi qua chỗ cũ, thấy mấy cây xoài đã bắt đầu có quả ăn. Đó cũng là một việc lợi hành mà ít ai để ý  làm theo.
4. Đồng sự nhiếp: Cùng làm một việc với người khác. Tùy theo mỗi người làm một việc nhưng cùng nhằm vào một mục đích (ví dụ: xây dựng gia đình, cùng nhau đẩy một chiếc xe lên dốc, nếu không cùng đẩy là không đồng sự).
Có đồng sự thì nói gì người ta cũng nghe mình.
Có bốn sự nhiếp này thì thế giới hòa bình, gia đình an lạc, bốn nhiếp sự này vắng mặt thì con cái không hiếu kính với cha mẹ, anh em không sống hòa hiệp với nhau. Làm được bốn nhiếp sự này, thì được xã hội ngợi khen, mọi người tán thán.
/25
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »