Chương VI
THIỀN ĐỊNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ðến đây, như chúng ta đã biết, con đường giải thoát sinh tử khổ đau là con đường Giới, Ðịnh, Tuệ. Nói gọn là con đường Thiền định với Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là tiêu biểu.
Thế Tôn dạy: " Này các Tỷ-kheo, khi nào các Thầy có giới khéo thanh tịnh và Chánh tri kiến, các Thầy hãy y cứ trên giới, tu tập Tứ Niệm Xứ theo ba cách: Nhiệt tâm, Chánh niệm tỉnh giác và Nhiếp phục tham ưu ở đời" (Tương Ưng Bộ Kinh V, tr.148)
Chúng ta có thể phát biểu rằng: Phật giáo qua quá độ tiến triển đã có nhiều bộ phái ra đời có những hình thức sinh hoạt tu tập khác nhau; tuy nhiên, tất cả nội dung tu tập vẫn hướng về một điểm là làm thanh tịnh ba nghiệp thân, lời và ý, loại trừ tham, sân, si. Chúng ta cũng có thể nói rằng: bất cứ một phương thức tu tập nào đưa vào giải thoát cũng chứa đựng một nội dung Thiền
định (giới, định, tuệ), hay bất cứ bước đi giải thoát nào cũng là bước đi của Thiền, như chính lời Thế Tôn đã dạy "Tứ Niệm Xứ là con đường độc nhất đưa đến giải thoát" (Trung Bộ Kinh I, tr.57). Từ nhận định này, ta đi vào khảo sát sắc thái của Thiền định Phật giáo Việt Nam.
Về lịch sử Phật giáo du nhập Việt Nam có nhiều tài liệu trình bày khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử.
Trước kia, người ta cứ nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam là chính Phật giáo từ Trung Quốc truyền qua. Gần đây các sử gia, học giả đã chứng minh rằng Phật giáo đã có mặt tại Việt Nam trước khi du nhập Trung Quốc. Hẳn dòng Phật giáo này phải từ Ấn Ðộ qua theo đường biển.
Theo các tài liệu đã được nêu dẫn, trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất được tìm thấy là trung tâm Luy Lâu có mặt vào thế kỷ thứ nhất Tây lịch, trước cả trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc. Dù Phật giáo đến Việt Nam bằng con đường nào thì thời gian du nhập vẫn được các nhà nghiên cứu sử đồng ý là vào thế kỷ thứ nhất, thứ hai Tây lịch, và nội dung Phật giáo gây ảnh hưởng ở Giao Chỉ vẫn chỉ là hai nguồn giáo giao nhau: một nguồn Phật giáo từ Trung Hoa và nguồn kia từ Ấn Ðộ.
Nguồn từ Ấn Ðộ theo đường biển do các thương nhân Ấn đem tín ngưỡng nhân gian Ấn và tín ngưỡng Phật giáo của cư sĩ ấn đến. Ðại để là các giáo lý nhập môn như Bố thí và Năm giới (năm giới của Phật tử tại gia), kính ngưỡng ngôi Tam Bảo. Phật giáo qua ảnh hưởng của các thương nhân Ấn thì nặng sắc màu tín ngưỡng hơn là sắc thái định và tuệ. ảnh hưởng này đã lan rộng vào quần chúng bình dân Việt Nam, như chính danh từ "Bụt" (Buddh hay Buddha) đã có mặt trong văn học dân gian Việt Nam (tiêu biểu là danh từ Bụt có mặt trong câu chuyện tấm Cám, cổ tích Việt Nam).
Các tu sĩ Ấn cũng theo thương thuyền đến Giao Chỉ và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Có lẽ nội dung dòng Phật giáo này là Bắc tông, đến từ trung tâm Bắc tông của Ấn Ðộ phát triển ở miền Duyên Hải Ðông Nam Ấn.
Nguồn Phật giáo từ Trung Quốc sang cũng là Bắc tông, giới thiệu hầu hết là các kinh điển Bắc tông, đặc biệt là Thiền Tổ sư Ðạt-mạ truyền bá.
Kết quả của các ảnh hưởng giáo lý Bắc tông đã để lại Việt Nam các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường qua nhiều thế kỷ.
Thể cách tu tập nổi bật là Thiền Công án hay Thiền Tổ sư. Giáo lý mở tông nổi bật là giáo lý Bát-nhã, trực tiếp là kinh Kim Cương Bát-nhã.
Ðây là giáo lý nền tảng của các bộ phái thuộc Bắc tông.
Tôn chỉ của Thiền Công án là "Giáo ngoại biệt truyền; bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật" (truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự, chỉ thẳng vào tâm người, thấy tánh hành Phật) nên việc truyền bá bị giới hạn ở đối tượng tiếp thu và ở mặt phổ biến văn hóa giáo dục Phật giáo trong quần chúng. Thiền này chỉ đặc biệt thích ứng với các căn cơ thông hội, trí tuệ - thường là tầng lớp thượng lưu trí thức của xã hội. Do đó, Phật giáo bấy giờ phát triển rất giới hạn và có một chỗ đứng rất là khiêm tốn trong lòng dân tộc Việt. Mãi cho đến triều đại Lý, Trần, khi mà các vua, tôi trong triều có đủ nhân duyên nghiên cứu sâu rộng giáo lý đức Phật và phát tâm dấn thân tu tập giải thoát thực sự, thì Phật giáo mới tìm thấy một chỗ đứng ảnh hưởng tương đối thích đáng trong xã hội ta, và hưng khởi theo với triều hưng thịnh của dân tộc trong suốt bốn trăm năm lịch sử.
Phật giáo dưới triều Lý, Trần có thể được xem là tiêu biểu cho Phật giáo Việt Nam. Chúng ta có thể khảo sát và tìm hiểu giai đoạn Phật giáo này như là sắc thái đặc biệt của Phật giáo Việt Nam mà dòng Thiền Trúc Lâm là tụ điểm.
Năm 971, Thiền sư Ngô Chân Lưu, Thiền phái Vô Ngôn Thông, được vua Ðinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống với hiệu Khuông Việt Thái Sư, cố vấn một số chính sự cho nhà vua. Phật giáo bấy giờ đã được chấp nhận như là vai trò hướng dẫn và chỉ đạo quốc sự. Tiếp đến, vua Lê Ðại Hành lại mời sư Pháp Thuận và sư Vạn Hạnh cố vấn các quốc sự. Thiền sư Vạn Hạnh tiếp tục cố vấn cho vua Lý Thái Tổ, đầu triều Lý. Các Thiền sư chỉ đóng góp vào chính sự mà không tham dự vào chính quyền, vẫn giữ nguyên cương vị tu sĩ Phật giáo và sống ở chùa riêng mình.
Cứ thử đi vào một số thi ca của các Thiền sư, ta có thể nhìn được nguồn giáo lý mà quý vị đã hấp thụ và dung hóa.
Chẳng hạn về Thiền sư Vạn Hạnh trong vần thi cảm sau đây:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhận vận thịnh suy vô bố ý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Tạm dịch:
Thân cây như chớp "hữu" rồi "vô"
Cây cỏ xuân tươi, thu lại khô
Theo vận thịnh suy lòng chẳng sợ
Thịnh suy đầu cỏ hạt sương phô.
Thấy cuộc đời (hay các pháp) là mỏng manh,
vô thường, nhưng Thiền sư Vạn Hạnh vẫn thanh thản, nhẹ nhàng, an tỉnh nhìn dòng đời vô thường đi qua. Nói theo ngôn ngữ của Thiền, Thiền sư đã Chánh niệm tỉnh giác nhìn đời. Do đó cái nhìn đầy hương đạo giải thoát đó, Thiền sư mới tự tại ra phò vua giúp nước, giúp dân.
Cái nhìn ấy phản ảnh rất trung thực với cái nhìn các pháp được trình bày trong năm bộ kinh Nikàya và trong bốn A-hàm, nó cũng là cái nhìn chính thống của Kim Cang Bát-nhã, như những gì được nói ở bài kệ cuối của kinh Kim Cang:
Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệt như điển
Ưng tác như thị quán
(Hết thảy các pháp được tác thành
Như mộng như huyễn, như bọt nước
Như sương mai, như ánh chớp
Nên khởi lên cái nhìn như thế)
Kinh Pháp Cú, kệ số 170 (Tiểu Bộ Kinh) chép:
Hãy nhìn như bọt nước
Hãy nhìn như ảo ảnh
Nên nhìn đời như vậy
Sẽ không thấy thần chết.
Ðây là cái nhìn sự vật mang tính truyền thống Phật giáo.
Sư Pháp Thuận, chỉ với hai câu thơ, họa tiếp hai vần thơ của Lý Giác như đã nêu trước đây (cuối chương III) cũng nói lên sự hấp thụ và dung hóa cùng một giáo lý truyền thống ấy:
Sư Pháp Thuận tiếp:
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trảo bãi thanh ba
Hình ảnh ngỗng trắng trên dòng nước là hình ảnh của con người trên dòng sinh tử . Ðôi chân hồng bơi, đây là Chánh niệm tỉnh giác của các Thiền sư vào đời, giúp đời mà không vướng trần bụi. Chánh niệm tỉnh giác đi qua vùng sanh tử qua đôi chân hồng qua bên kia bờ không vướng mắc dòng nước mà để lại dòng nước sau lưng.
Ðấy cũng là những biểu hiện nét Thiền rất là truyền thống. Chịu ảnh hưởng tinh thần Phật giáo của các danh Tăng kể trên, triều Lý đã là một thời vàng son của lịch sử: Bắc thắng Tống, Nam bình Chiêm, phát triển văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và quốc phòng tốt. Bấy giờ Ỷ Lan Thái Phi đã thay vua Nhân Tông nhiếp chính thành công, biểu hiện tinh thần dân chủ rất cao (thế giới phương Tây cho đến ngày nay mới có các nhà nữ lãnh đạo ở chức vụ đầu nhà nước).
Ðến đời Trần, Phật giáo còn được phát triển mạnh hơn. Các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô
Ngôn Thông và Thảo Trường đã được thống nhất vào Thiền phái Trúc Lâm (xem "Phật giáo Việt Nam Sử Luận", Nguyễn Lang, 1973, Sài gòn).
Thường thì các nhà nghiên cứu sử cứ gọi chung các nhà Thiền sư khai nguồn Trúc Lâm là Trúc Lâm Tam Tổ: Ðiều Ngự Giác Hoàng - Trần Nhân Tông (đệ nhất tổ), Pháp Loa (đệ nhị tổ) và Huyền Quang (đệ tam tổ). Thực ra phải kể từ Hiện Quang Thiền Sư, đến Trúc lâm Quốc Sư (Thiền sư Viên Chứng, thầy của vua Trần Thái Tông), rồi thứ đến vua Trần Nhân Tông (Ðiều Ngự Giác Hoàng), Pháp Loa và Huyền Quang.
Biểu hiện tiêu biểu nhất cho sắc thái Thiền Trúc Lâm Yến Tử là biểu hiện qua tư tưởng và hành động của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Bài tựa của Thiền Tông Chỉ Nam ghi vua Thái Tông bỏ ngôi báo vào Yên Tử xuất gia. Trúc Lâm Quốc Sư bảo: "Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật...". Quốc Sư đã khuyên vua trở về ngôi vị: "Ðã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình được nữa. phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua trở về thì vua không về làm sao được?". Quốc Sư cho rằng vua có thể vừa trị dân vừa tu học.
Qua các lời ngắn ngủi trên, Quốc Sư đã nói lên tiếng nói vừa tích cực nhập thế hộ đời, vị tha của Phật giáo Việt Nam, vừa Chánh niệm tỉnh giác, rời khỏi chấp thủ ngã.
Trần Thái Tông đã thực hiện đúng theo lời khuyên của Quốc Sư.
Nay, Thiền Tông Chỉ Nam và Kim Cương Tam Muội kinh, sáng tác của nhà vua, đã bị thất lạc, ta chỉ có thể đi vào tìm hiểu sắc thái con đường tu tập của các vua qua Khóa Hư Lục.
Thái Tông giới thiệu Tứ đại và Ngũ uẩn là vô ngã. Cảnh tỉnh người đời thấy vô thường, khổ và vô ngã của thân sắc và đời sống để thúc liễm thân tâm. Tiếp theo, nhà vua giới thiệu về Giới, Ðịnh và Tuệ. Nội dung rất phù hợp với giáo lý Nguyên thủy. Trên đường tu tập Giới, Ðịnh, và Tuệ ấy, vua đề bạt một phương thức sám hối lục căn rất thiết thực: vừa giúp hành giả xóa tan các mặc cảm tội lỗi, vừa xua tan các dao động tâm lý, vừa đánh tan tham, sân, si ở các địa bàn hoạt động chính của chúng. Phương thức sám hối lục căn ấy, một mặt nói lên tính sáng tạo riêng của Phật giáo Việt Nam trong sinh hoạt Thiền định, vừa thể hiện đúng giáo lý truyền thống, mặc khác đưa vào việc tu tập thêm một hình thức sinh hoạt tôn giáo để quân bình tâm lý rất là thiết thực và đầy trí tuệ. Nhà
vua hoàn toàn không giới thiệu các nghi lễ phiền phức, các tế đàn tốn kém, cũng không đi vào các thần chú của Mật tông. Sắc thái của nếp sống đạo của nhà vua là thế. Vua vận dụng khả năng và nỗ lực của chính mình để chuyển đổi các tâm lý tham, sân, si thành không tham, không sân, không si để vào sâu định và tuệ giải thoát. Vận dụng tu tập trong đời sống xã hội, ngay giữa trách nhiệm xây dựng và phát triển xứ sở và bảo vệ đất nước.
Tinh thần sống đời và đạo ấy được nuôi dưỡng tốt cho đến cuối đời Trần. Ðấy là dòng Thiền rất là Việt Nam mà rất phù hợp với giáo lý truyền thống, dù hướng phát triển còn giới hạn và còn ít nhiều chịu ảnh hưởng Thiền Công án của Trung Hoa.
Ðến đời vua Trần Nhâ Tông thì sắc thái Phật giáo Việt Nam, nói rõ là sắc thái Trúc Lâm Yến Tử biểu hiện rõ ràng. Sinh tiền, nhà vua là một hoàng tử có sắc thân đẹp, uy nghi. Tâm tuệ thông minh lại chuộng đời sống xuất gia. Lúc tại ngôi, vua đã cùng với Hưng Ðạo Ðại Vương và các tướng nhà Trần hai lần đánh tan hai đạo quân Mông Cổ, đạo quân đã từng đánh bại cả Châu Âu. Ở ngôi vua 20 năm, đến năm 41 tuổi thì nhường ngôi cho Anh Tông và xuất gia ở Yên Tử.
Tinh thần của Ðiều Ngự Giác Hoàng (vua Nhân Tông) thì rất siêu thoát, mà sự tướng biểu
hiện bên ngoài thì rất cung cách oai nghi. Chính đây mới là sự biểu hiện cả hình thức lẫn lộn nội dung rất Việt Nam, tách ra khỏi nét quá phóng khoáng tự do của các Thiền sư Trung Quốc, nhưng lại đến gần với phong cách của chư đại đệ tử của Thế Tôn dưới thời Thế Tôn còn tại thế. Cũng chính đây mới là phong cách của vị Tăng thống lãnh đạo Phật giáo đưa sự phát triển Phật giáo lên cao điểm.
Trong thời gian xuất gia, Ðiều Ngự thường đi chu du hoằng hóa và thường quan tâm đến một số vấn đề quốc sự, đặc biệt là mối bang giao Việt-Chiêm.
Nhà vua là một mẫu người Việt thông sáng rất tích cực phục vụ đời vừa rất thiết tha yêu giải thoát, đã đóng góp vào đời, những thành quả lẫy lừng trong lịch sử, mà cũng đã xây dựng đạo rực rỡ hơn lúc nào.
Lịch sử Việt Nam đòi hỏi cao độ sự đóng góp xây dựng của toàn dân và đoàn kết keo sơn của dân tộc để tồn tại độc lập và phát triển hùng cường. Trong hướng phát triển với yêu cầu đó của lịch sử, Phật giáo Việt Nam hẳn phải có hướng đi thích đáng như hướng đi của Thiền phái Trúc Lâm. Do đó, đòi hỏi phát triển mạnh Thiền học và tu tập Thiền định theo truyền thống vừa Phật giáo Việt Nam vừa Phật giáo Nguyên thủy.
Sinh thời, Ðiều Ngự đã thực hiện đoàn kết triều đình, thống nhất Tam giáo (Phật, Lão, Nho), và kết hợp toàn dân qua Hội Nghị Diên Hồng. Tất cả đều sống đạo đức và hết lòng bảo vệ xây dựng xứ sở. Ðiều Ngự đi đến đâu cũng khuyên dân chúng tu Thập thiện giới (có nghĩa là giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý tốt đẹp theo giáo lý Phật giáo).
Nhận thức của Ðiều Ngự về đạo giải thoát rất là cơ bản và chính xác. Thái độ sống đạo thì rất là tự nhiên và thông lợi như mấy vầng thơ sau đầy của Ðiều Ngự đã nói rõ:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề, thốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Tạm dịch:
Sống đời vui đạo hãy tùy duyên
Hễ đói thì ăn, mệt nghĩ liền
Trong nhà có ngọc đừng tìm kiếm
Ðối cảnh tâm không, hỏi chi Thiền.
Hai câu thơ đầu nói lên thái độ sống rất tự nhiện, thích ứng hoàn toàn với hoàn cảnh xã hội mình đang sống, chấp nhận hiện tại với tinh thần không chấp thủ.
Hai câu thơ cuối chỉ hướng sống quay trở về chính mình, nương tựa chính mình, chính trí tuệ
của mình (giác tính), bằng nỗ lực của mình trở về với tính giác (ngọc báo cất giữ trong mình) mà không cầu xin, vọng ngoại. Ðấy là biểu hiện tinh thần tự độ của Phật giáo, vừa biểu hiện tinh thần tự chủ, độc lập, tự cường của dân tộc. Giải thoát an lạc, hạnh phúc nằm ở nơi mình, nơi thái độ sống nhìn đời mà không dấy khởi tham, sân, si của mình (vô tâm ở đây có nghĩa là không có phản ứng tâm lý tham, sân, si đối với ngoại cảnh). Nhìn cảnh mà không tham, không sân, có nghĩa là giải thoát khỏi tham, sân. Tham, sân là nhân chính dẫn vào khổ đau sinh tử. Giải thoát khỏi tham, sân là ý nghĩa và là nội dung của giải thoát khổ đau. Sống là đi từng bước giải thoát như thế, từng bước làm chủ tâm lý mình ra khỏi tham, sân. Con đường sống ấy có nghĩa là con đường giải thoát. Không tham, không sân là không chấp thủ, không vướng mắc ngoại cảnh, là ý nghĩa đích thực của Thiền. Nhìn đời như thế quả là cái nhìn Chánh niệm tỉnh giác đích thực của Phật giáo Nguyên thủy.
Sắc thái Thiền đặc biệt Việt Nam ở đây là thể hiện Chánh niệm tỉnh giác rất linh hoạt đi vào xã hội cứu đời, mà không nghiêng nặng về thái độ trầm tư hoặc tưởng hành Thiền định ở nơi tịch mịch xa cách đời như có một số quan điểm chủ trương. Phương cách ứng dụng tu tập này của Ðiều Ngự vừa phù hợp với hoàn cảnh đất nước ta,
vừa khế hợp với lời dạy của Thế Tôn về Thiền định Tứ Niệm Xứ, rằng có thể hành chánh niệm tỉnh giác và Thiền quán trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).
Ðiều Ngự thường cảnh tỉnh môn đồ về vô thường của cuộc sống để khiến họ nỗ lực tinh tấn thực hiện giải thoát ngay trong hiện tại, bằng chính con người Năm uẩn giới hạn này. Thiền quán về vô thường là sắc thái giáo lý rất truyền thống mà ta thường gặp ở các kinh Nikàya và A-hàm. Pháp Thiền quán và Thiền định của Ðiều Ngự cũng như giáo lý của Nguyên thủy, có thể thực hiện bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào: đối tượng để nhìn, quan sát và phân tích có thể là hơi thở, có thể là mây trời, là cơm, là cháo, là cái chén, cái thìa ... như lời dạy của Ðiều Ngự dưới đây:
" Này quý vị, thời gian qua đi mau chóng, mạng sống con người trôi chảy không ngừng, tại sao hằng ngày biết ăn cháo, ăn cơm mà không biết tham khảo ngay về vấn đề cái chén, cái thìa?" (Việt nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, 1973, tr.317).
Và:
Thân như hơi thở qua luồng phổi
Kiếp tợ mây luồng đỉnh núi xa
Chim quyên kêu rã bao ngày tháng
Ðậu phải mùa xuân dễ luống qua.
(Thân như hô hấp tị trung khí
Thế tợ phong hành lĩnh ngoại vân
Ðỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân).
(Ibid. tr. 317)
Ðúng như giáo lý Phật giáo truyền thống, thấy vô thường là thấy vô ngã, thấy vô thường là thấy khổ đau. Thấy tính vô thường, khổ đau là vô ngã, của sự thật là thấy Pháp; thấy Pháp là thấy Phật. Hệt như thấy Duyên khởi là thấy Pháp, và thấy Pháp là thấy Phật. Thấy vô thường và khổ đau thì sẽ rời khỏi tham ái, và chấp thủ. Do rời tham ái và chấp thủ, hành giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðấy là đường vào giải thoát mà hành giả có niềm tin và hy vọng thực hiện được giữa những trách nhiệm và bổn phận ở đời.
Tự thân Ðiều Ngự đã thực hiện nếp Thiền nói trên và đã đóng góp rất ý nghĩa cho lịch sử của Phật giáo Việt Nam và lịch sử dân tộc Việt Nam. Ðấy là một bài học lịch sử rất quý giá cho hậu thế, cho những vị có trách nhiệm phát huy Phật giáo tại Việt Nam.
Ở Tuệ Trung Thượng Sĩ, có một nét đặc thù khác: Thượng Sĩ là một cư sĩ, sống đời sống gia đình, có tước Vương (Hưng Ninh Vương), đã từng trấn giữ đất Hải Dương và giữ chức Tiết độ sứ trấn hải đảo Thái Bình, có công hai lần ngăn giặc Bắc
xâm lăng, nhưng đã đắc đạo Thiền, và đã được vua Trần Thánh Tông là Thượng Sĩ (Bồ-tát). Ðã là thầy trực tiếp dạy đạo Thiền cho vua Trần Nhân Tông. Nói đặc thù là nghĩa đặc thù đối với xã hội Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam. Thực ra, ở thời đức Phật tại thế đã có rất nhiều nam, nữ cư sĩ đắc đạo từ Tu-đà-hoàn đến A-na-hàm quả. Có một số cư sĩ đặc biệt đắc quả A-la-hán trước khi xuất gia. Nét đặc thù thứ hai ở Thượng Sĩ, khác với Ðiều Ngự Giác Hoàng, là tánh phóng khoáng tự tại bộc hiện cả đến hình thức sinh hoạt bên ngoài. Tuệ Trung Ngữ Lục ghi lại một mẫu chuyện rằng: Lúc dùng cơm chung với Hoàng hậu Thiên Cảm (mẹ vua Nhân Tông), Thượng Sĩ dùng luôn cả thức ăn mặn khiến Hoàng hậu kinh ngạc hỏi: "Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?" Thượng Sĩ đáp: " Phật là Phật, anh là anh, anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh".
Khi vua Nhân Tông hỏi về tông chỉ Thiền để biết chỗ giác ngộ của Thượng Sĩ, Thượng Sĩ đã ngõ: "Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ một ai khác" (Ibid, tr. 279).
Ðấy là nỗ lực của tự thân để làm bộc hiện tuệ giác giải thoát và Thiền định, như chính đức Thế Tôn đã dạy nhiều lần cho các vị Tỷ-kheo rằng:
"Hãy là ngọn đèn, hãy là nơi nương tựa cho chính mình, đừng tìm một nơi nương tựa nào khác".
Hay:
"Ngươi là nơi nương tựa cho chính ngươi, ai khác có thể là nơi nương tựa?"
Pháp Cú XII, 4.
Trường bộ Kinh III, tr. 101, ghi lời Thế Tôn xác định ý nghĩa "trở về chính mình, nương tựa chính mình, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, làm chỗ nương tựa" chính là ý nghĩa thực hành Thiền định Tứ Niệm Xứ.
Tông chỉ ấy đúng là việc trở về chính mình và trú trên Chánh niệm tỉnh giác đi ra khỏi các lậu hoặc tham, sân, si ...
Ðọc đến tập Tuệ Trung Ngữ Lục ta sẽ có dịp thưởng thức những tư tưởng thâm trầm của Thượng Sĩ. Những lời lẽ bên ngoài vẻ táo bạo nhưng bên trong thực sự là cái gì hiền dịu của dòng sữa Pháp. Phải có một nhận thức khá sâu sắc và một thái độ tìm hiểu đầy cẩn trọng mới có điều kiện đọc Ngữ Lục của Thượng Sĩ, bấy giờ mới có thể rời khỏi hình thức ngôn ngữ khái niệm để đi vào thực tại mà Thượng Sĩ muốn nói. Những lời lẽ đối đáp với các vị hỏi đạo đã có nhiều công phu tu tập chỉ là những lời nói gián tiếp, giúp họ đi ra khỏi thế giới khái niệm để thấy thực tại, do vậy có nhiều lời dạy nghe có vẻ là lạ, bí hiểm.
Bên cạnh các lời lẽ có vẻ là lạ ấy, Thượng Sĩ
vẫn nói đạo với ngôn ngữ thông thường, vẫn nói về vô thường và tỉnh giác Chánh niệm. Cái gọi là Thiền Tâm là cái nhìn sự vật vô thường mà giác tỉnh, dập tắt tham, sân, si trong lòng mình, như những gì Thượng Sĩ diễn đạt trong bài ngẫu tác sau đây:
Chợt Hứng
Ðoan trang ngồi tịnh lặng không lời
Nhìn ngắm non sông vệt khói trôi
Ấy lúc chân cồn tâm tự bặt
Cứ gì niệm xét với Thiền soi
(Trúc Thiên dịch)
Ngẫu Tác
Ðường trung đoan tọa tịch vô ngôn
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên
Tự thị quyện thời tâm tự tức
Bất quan nhiếp niệm bất quan Thiền.
(Tuệ Trung Ngữ Lục, Tu Thư vạn Hạnh, 1968)
Ở đây có nghe văng vẳng những lời cảm hứng ngộ đạo của Trưởng lão Tăng kệ và Trưởng Lão Ni kệ vọng về, và có thấp thoáng những bóng hình giải thoát của các Thành đệ tử của Thế Tôn.
Với Thượng Sĩ, đạo không phải cái gì để hỏi,
để bàn bạc, để tìm kiếm, mà là để sống. Sống đạo có nghĩa là sống đời mà giác tỉnh, mà xả bỏ các vọng niệm (tham, sân, si... ). Nói cách khác đi, đạo chính là đời được loại bỏ các phiền não.
Một vị Tăng hỏi: Thế nào là Ðạo?
Thượng Sĩ đáp: "Ðạo không có trong câu hỏi, Câu hỏi không có trong Ðạo" (Ibid., tr.23).
Hỏi và trả lời là của thế giới khái niệm mà không phải là của Thực tại. Ðạo thay Thực tại chính nó thì khác với khái niệm.
Cái nhìn chân xác và thiết thực này của Thượng Sĩ giúp người đời trở về với các hành động thiết thực đưa mình và người đi ra khỏi các phiền não và vọng tưởng. Thượng Sĩ đã từng khuyên hàng học giả thức tỉnh điều đó.
Bảo cho hàng học giả
Mịt mù học giả hướng nào dong?
Gạch ngói mài chỉ uổng phí công
Thôi chớ cửa người nương dựa nữa
Ánh xuân một điểm khắp trời bông.
(Ibid., tr. 155)
Thị học
"Học giả phân phân bất nại hà
Ðồ tương linh đích khổ tương ma
Báo quân hưu hỷ tha môn hộ
Nhất điểm xuân quan xứ xứ hoa".
Thiền của Trúc Lâm Yên Tử tiêu biểu Thiền Việt Nam là thế! Sống về với chính mình trong hiện tại và tại đây trên cuộc đời này: giác tỉnh đi ra khỏi tham, sân, si trong các công việc tích cực xây dựng, bảo vệ xứ sở và hạnh phúc của toàn dân.
Qua một số điểm vừa được trình bày ở trên, từ đầu Chương VI cho đến đây, chúng ta đã có thể đi đến mốt số nhận định:
1. Kinh điển Phật giáo dưới triều đại Lý, Trần được phổ biến thì có giới hạn: chỉ phổ biến một ít kinh điển Bắc tạng và Thiền Công án trong một số tầng lớp nhân dân giới hạn.
2. Vấn đề giảng dạy Kinh, Luật, Luận cho chư Tăng và Phật tử vẫn còn giới hạn.
3. Hình thức nói Ðạo (Bát-nhã và Thiền) vẫn còn chịu ảnh hưởng của các Thiền Sư Trung Hoa.
4. Thiền định được biểu hiện như một pháp môn còn xa cách quần chúng Việt Nam.
5. Dù nằm trong các giới hạn đó, Phật giáo Lý Trần đã nỗ lực tạo nên một sắc thái Việt Nam và tương đối đã thành công trong nỗ lực này: Ðó là sắc thái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
6. Qua sắc thái Việt Nam đặc thù ấy, Phật giáo
đã thực hiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết được toàn dân và hàng ngũ lãnh đạo.
7. Hình ảnh hưng thịnh của Phật giáo đi theo với sự hưng thịnh xứ sở dưới triều đại Lý, Trần là một bài học lớn của lịch sử, có thể chỉ hướng cho các công cuộc chấn hưng Phật giáo về sau.
8. Các vua quan triều Lý, Trần là những nhà lãnh đạo giỏi, tổ chức xã hội và quốc phòng giỏi, đã thành công rực rỡ trong việc giữ nước và dựng nước, lại là những người thiết tha yêu chuộng đạo Phật, yêu chuộng con đường giải thoát, đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Việt Nam rằng: không ai còn có thể hồ nghi về tính chất nhập thế tích cực của Phật giáo, và tính hữu hiệu trong việc đóng góp xây dựng xứ sở hùng cường của Phật giáo, nghĩa là không ai có thể hồ nghi về giá trị đích thực của Phật giáo trong vấn đề giải thoát cá nhân và kiến tạo xã hội.
9. Sắc thái đặc biệt của Phật giáo Việt Nam chính là sắc thái Thiền mà không phải Tịnh hay Mật: Ðó là con đường tu học Giới-Ðịnh-Tuệ, giác tỉnh tính vô thường, vô ngã và khổ đau của các pháp mà rời khỏi tham ái và chấp thủ.
10. Tinh thần giáo dục đặc biệt mà Thiền định Phật giáo đã để lại trong lịch sử là tinh thần tự chủ, tự cường, tự tri, tự giác, không vọng ngoại,
tinh thần vô chấp, phóng khoáng, vị tha, dung hợp và trí tuệ.
Sau các nhận định ấy chúng ta thấy rằng: với tinh thần đạo của Thiền Trúc Lâm Yên Tử cọng thêm vào sự truyền bá giáo lý sâu rộng bằng các phương tiện hiện đại, và truyền bá Thiền định truyền thống (Như Lai Thiền) phổ biến sâu rộng trong quần chúng thì hẳn là Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục có những đóng góp đầy ý nghĩa cho lịch sử dân tộc.
*
* *
Dù cho ngững đặc trưng như đã nêu, Thiền học Việt Nam vốn cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thiền Hoa trong giáo lý, trong các hình thức sinh hoạt, trong lối ứng cơ tiếp vật, tu tập, giáo hóa, truyền thừa. Thiền Trung Hoa hay Thiền Tổ Sư, Thiền Công án đã tạo một sắc thái mới, đặc thù trong cả một khu vực châu Á gồm các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật bản và Triều Tiên. Do đó, việc giới thiệu Thiền Công án qua một số Công án và một vài nhận định tưởng cũng cần thiết cho một số bạn đọc, hay ít ra, cũng có thể được xem như một phần phụ lục của cuốn sách nhỏ này.
*
* *
PHỤ LỤC (I)
KINH NIỆM XỨ
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn sống giữa những người Kuru, tại Kamsàsadamma, một đô thị của dân Kuru. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" và các vị ấy đáp: "Bạch Ngài, chúng con đây." Thế Tôn thuyết giảng như sau:
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, thắng vượt phiền muộn bi thương, diệt trừ khổ đau sầu não, đạt đến chánh đạo, chứng đắc Niết-bàn, đó là Bốn niệm xứ.
Bốn niệm xứ ấy là gì? Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán tâm thể trong thân thể(1), tinh cần, liễu hội và chú tâm, thắng vượt tham dục, và sầu não trong cuộc đời này; vị ấy sống mà quán cảm thọ trong cảm thọ, tinh cần, liễu hội và chú tâm, thẳng vượt tham dục và sầu não trong cuộc đời này; vị ấy sống mà quán tâm thức trong tâm thức(2), tinh cần, liễu hội và chú tâm, thẳng vượt tham dục và sầu não trong cuộc đời này; vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức (hay pháp)
trong đối tượng tâm thức, thẳng vượt tham dục và sầu não trong cuộc đời này.
I. QUÁN THÂN THỂ
1.Niệm tâm và sự hít thở:
Này các Tỷ-kheo, sau khi đã đến khu rừng, đến một gốc cây hay đến một nơi trống trãi, ngồi xuống theo thể kiết già, giữ thân thể ngay thẳng và sự chú tâm sẵn sàng(3). Chú tâm, vị ấy hít vào, và chú tâm, vị ấy thở ra, hít vào dài, vị ấy biết, "Tôi hít vào dài", thở ra dài, vị ấy biết "Tôi thở ra dài", hít vào ngắn, vị ấy biết "Tôi thở vào ngắn", thở ra ngắn, vị ấy biết "Tôi thở ra ngắn".
"Cảm nghiệm cả toàn thân (hơi thở), tôi sẽ hít vào" vị ấy tập như thế, "An tịnh sự hoạt động của thân thể (thân hành), tôi sẽ thở ra", vị ấy tập như thế.
Như một người thợ tiện khéo léo, hay một người đang học nghề tiện, khi quay một vòng dài, biết rằng "Tôi quay dài", hoặc khi quay ngắn, biết rằng "Tôi quay ngắn". Cũng y như thế, một Tỷ-kheo khi hít vào dài, biết rằng "Tôi hít vào dài" hoặc khi thở ra dài, biết rằng "Tôi thở ra dài", hoặc khi hít vào ngắn, biết rằng "Tôi hít vào ngắn", hay khi thở ra ngắn, biết rằng "Tôi thở ra ngắn". "Cảm nghiệm toàn cả thân thể như thế, tôi
sẽ hít thở vào", vị ấy tập như thế. "Cảm nghiệm toàn cả thân thể như thế, tôi sẽ thở ra". Vị ấy tập như thế, "An tịnh sự hoạt động của thân thể, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập như thế.
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra ngoài, vị ấy mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài(4). Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi(5) trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các hoại diệt(6) trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt(7) trong thân thể. Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa "có thân thể đây"(8), đến mức cần thiết để cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo sống mà quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
2. Các tư thế của thân thể:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi đang đi, biết rằng "Tôi đang đi", khi đang đứng, biết rằng "Tôi đang đứng", khi đang ngồi, biết rằng, "Tôi đang ngồi, khi đang nằm xuống, biết
rằng "Tôi đang nằm xuống", hoặc thân thể vị ấy được đặt trong tư thế nào, vị ấy biết thân thể ấy đúng như thế ấy.
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài(9). Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán yếu tố hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong thân thể(10). Hoặc tâm niệm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có thân thể đây", đến mức cần thiết đủ cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
3. Niệm tâm với sự liễu hội (tỉnh giác):
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi đang đi tới và khi đang đi lui, vận dụng sự liễu hội về điều mình đang làm; khi đang nhìn ngay vào và khi đang quay nhìn đi, vị ấy vận dụng sự liễu hội về điều mình đang làm, khi đang co cúi và khi đang
ưỡn duỗi, vị ấy vận dụng sự liễu hội về điều mình đang làm; khi đang mang y bát, vị ấy vận dụng sự liễu hội về điều mình đang làm; khi đang ăn, uống, nhai, nếm, vị ấy vận dụng sự liễu hội về điều mình đang làm; khi đang đại tiểu tiện, vị ấy vận dụng sự liễu hội và điều mình đang làm; khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm, đang ngủ, đang thức, đang nói và đang im, vị ấy vận dụng sự liễu hội điều mà mình đang làm.
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể, bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong thân thể. Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có thân thể đây" đến mức cần thiết để cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo mà quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
4. Quán tưởng về sự ghê tởm thân thể:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo
quán tưởng về chính cái thân thể này, được bao bọc bằng da và đầu cả những thứ dơ dáy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, mà suy nghĩ rằng: "Trong thân thể này đây có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mỡ đặc, mỡ nước, nước miếng, nước nhờn, nước khớp xương, nước tiểu".
Này các Tỷ-kheo, cũng giống như một bao tải có hai nắp đựng đầy các loại hạt như lúa, gạo lứt, đậu xanh, đậu mè, gạo và một người có mắt tốt, sau khi mở bao ra, nên quán tưởng rằng: "Ðây là lúa, đây là gạo lứt, đây là đậu xanh, đây là đậu bò, đây là mè, đây là gạo". Này các Tỷ-kheo, cũng như thế, một Tỷ-kheo quan tưởng về chính cái thân thể này được bao bọc bằng da, và đầy những thứ dơ dáy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, mà suy nghĩ rằng: "Trong thân thể này có tóc, lông, móng, ... nước tiểu".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà
quán các yếu tố hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu sinh khởi và hoại diệt trong thân thể. Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có thân thể đây", đến mức cần thiết để cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo mà sống quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
5. Quán tưởng về Tứ đại:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán tưởng về chính cái thân thể này theo như các tư tưởng thế mà nó được đặt để, sắp xếp, về mặt Tứ đại: "Trong thân thể này, có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại"(11).
Này các Tỷ-kheo, cũng giống như một người đồ tể khéo léo hay một người đang học nghề đồ tể, sau khi đã giết một con bò và xẻ nó ra từng phần, đang ngồi giữa ngã tư đường; cũng như thế, một tỷ-kheo quán tưởng chính thân thể này, theo như các tư thế mà nó được đặt để, về mặt Tứ đại: "Trong thân thể này, có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà
quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi trong thân thể, hoặc vị ấy mà sống các yếu tố hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong thân thể. Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có thân thể đây", đến mức cần thiết để cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
6. Chín phép quán nghĩa địa:
1/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết để đã một, hai, ba ngày, trương sình, xanh thâm, vaụ thối rã, bị vứt bỏ trong bãi tha ma, rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể mình như thế: "Thật vậy, thân thể này của ta đây cũng cùng một bản chất như thế, rồi sẽ trở thành như thế, và sẽ không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà
quán các yếu tố sinh khởi trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong thân thể, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong thân thể. Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có thân thể đây", đến mức cần thiết để đủ cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, vị ấy sống tự tại và không chấp trước một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán thân thể trong thân thể như thế đấy.
2/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha ma, đang bị quạ, diều hâu, kên kên, chó, dã can hay các loài giòi bọ khác nhau ăn, rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể của mình như thế này: "Thật vậy, thân thể này của ta đây, cũng cùng một bản chất như thế, rồi sẽ trở thành như thế, và sẽ không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong...
3/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha ma mà chỉ còn là một bộ xương với (một tí) thịt và máu (dính trong đó), được nối lại bằng gân, rồi vị ấy liên hệ với chính thân thể của mình như thế này: "Thật vậy, thân thể này của ta đây cũng cùng
một bản chất như thế, rồi sẽ trở thành như thế, và cũng không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong...
4/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha ma và chỉ còn là một bộ xương, còn dính máu và không còn thịt, được nối lại bằng gân, rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể của mình như thế này: "Thật vậy, thân thể này của ta đây cũng cùng một bản chất như thế và sẽ không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong...
5/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha ma và chỉ còn là một bộ xương không có thịt và máu, được nối lại bằng gân, rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể của mình như thế này: "Thật vậy, thân thể này của ta đây cũng cùng một bản chất như thế, rồi sẽ trở thành như thế và sẽ không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong...
6/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha
ma và chỉ là những cái xương rời, rải rác khắp mọi phía - chỗ này một xương bàn tay, chỗ kia một xương bàn chân một xương ống chân, một xương đùi, xương sống, xương chậu, xương sọ - rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể của mình như thế này: "Thật vậy, thân thể này của ta đây cũng cùng một bản chất như thế, rồi sẽ trở thành như thế và sẽ không thoát khỏi điều ấy".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán thân thể trong thân thể bằng cách hướng vào bên trong...
7/ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cũng như một Tỷ-kheo thấy một xác chết bị vứt bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn là những cái xương trắng bệch như màu vỏ ốc...
8/ ... chỉ còn là những cái xương, đã hơn một năm, nằm trong một đống...
9/... chỉ còn là những cái xương mục rã hết và trở thành bụi, rồi vị ấy liên hệ với chính cái thân thể của mình như thế này: "... "
II. QUÁN CẢM THỌ
Và này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán cảm thọ trong cảm thọ như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi thể nghiệm một cảm thọ vui thích thì biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ vui thích"; khi thể nghiệm một cảm thọ phiền khổ, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một
cảm thọ phiền khổ", khi thể nghiệm một cảm thọ không vui thích, không phiền khổ, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm cảm thọ không vui thích không phiền khổ"; khi thể nghiệm một cảm thọ vui thích thuộc vật chất, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ vui thích thuộc vật chất"; khi thể nghiệm một cảm thọ vui thích thuộc tinh thần, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ vui thích thuộc tinh thần"; khi thể nghiệm một cảm thọ phiền khổ thuộc vật chất, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ phiền khổ thuộc vật chất"; khi thể nghiệm một cảm phiền khổ thuộc tinh thần, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ phiển khổ thuộc tinh thần"; khi thể nghiệm một cảm thọ không vui thích không phiền khổ thuộc vật chất, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ không vui thích không phiền khổ thuộc vật chất"; khi thể nghiệm một cảm thọ không vui thích không phiền khổ thuộc tinh thần, vị ấy biết: "Tôi thể nghiệm một cảm thọ không vui thích không phiền khổ thuộc tinh thần".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán cảm thọ trong cảm thọ bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán cảm thọ bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán cảm thọ trong cảm thọ bằng cách hường vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà
quán các yếu tố sinh khởi trong cảm thọ, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong cảm thọ, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong cảm thọ(12). Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Họ cảm thọ đây", đến mức cần thiết để cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán cảm thọ trong cảm thọ như thế đấy.
III. QUÁN TÂM THỨC
Và này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán tâm thức trong tâm thức như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi tâm có tham dục, biết rằng tâm có tham dục; khi tâm không tham dục, biết tâm không tham dục, khi tâm có sân hận, biết rằng tâm có sân hận, khi tâm không có sân hận biết rằng tâm không có sân hận; khi tâm có si muội biết rằng tâm có si muội; khi tâm không có si muội biết rằng tâm không có si muội; khi tâm có ở trong trạng thái nhu thiếp, biết tâm trong trạng thái thu thiếp(13); khi tâm ở trong trạng thái tán loạn, biết tâm ở trong trạng thái tán loạn(14); khi tâm ở trạng thái phát triển(15) biết tâm ở trạng thái phát triển; khi tâm ở trạng thái chưa phát triển, biết rằng tâm ở trạng
chưa phát triển(16), khi tâm ở trạng thái có một trạng thái khác cao hơn nó(17), biết tâm trạng ở trạng thái cao hơn nó(18); khi tâm ở trạng thái không có một trạng thái nào khác cao hơn nó; khi tâm ở trạng thái định(19), biết rằng tâm ở trạng thái định; khi tâm ở trạng thái chưa định... ; khi tâm ở trạng thái giải thoát... ; khi tâm ở trạng thái chưa giải thoát, biết ở trạng thái chưa giải thoát(20).
Theo như thế, vị ấy mà sống quán tâm thức trong tâm thức bằng cách hướng vào bên trong... bằng cách hướng ra bên ngoài,... bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống quán các yếu tố sinh khởi trong tâm thức,... các yếu tố hoại diệt trong tâm thức,... các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong tâm thức. Hoặc niệm tâm vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có tâm thức đây", đến mức cần thiết đủ cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo mà sống quán tâm thức trong tâm thức như thế đấy.
IV. QUÁN ĐỐI TƯỢNG TÂM THỨC (PHÁP)
1. Năm triền cái:
Và bày các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà
quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức thuộc Năm triền cái.
Này các Tỷ-kheo, khi có ái dục, một Tỷ-kheo biết: "Trong tôi có ái dục"; hoặc khi không có ái dục, vị ấy biết "Trong tôi không có ái dục". Vị ấy biết ái dục chưa sanh khởi nay sanh khởi như thế nào, vị ấy biết ái dục đã sanh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết ái dục đã bị khử diệt và không sanh khởi trong tương lai như thế nào.
Khi có sân hận, vị ấy biết: "Trong tôi có sân hận", hoặc khi không có sân hận, vị ấy biết: "Trong tôi không có sân hận".vị ấy biết sân hận chưa sanh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết sân hận đã sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết sân hận đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Khi có hôn trầm và thụy miên, vị ấy biết: "Trong tôi có hôn trầm và thụy miên"; hoặc khi không có hôn trầm và thụy miên, vị ấy biết: "Trong tôi không có hôn trầm và thụy miên". Vị ấy biết hôn trầm và thụy miên chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết hôn trầm và thụy miên đã sinh khởi nay khử diệt như thế nào, và vị
ấy biết hôn trầm và thụy miên đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Khi có trạo hối, vị ấy biết: "Trong tôi có trạo hối", hoặc khi không có trạo hối, vị ấy biết: "Trong tôi không có trạo hối". Vị ấy biết trạo hối chưa sinh khởi, nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết trạo hối sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết trạo hối đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Theo như thế, vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi trong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy
sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong đối tượng tâm thức(21). Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có đối tượng tâm thức đây"; đến mức cần thiết đủ cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức như thế đấy.
2. Năm uẩn:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức vào Năm uẩn(22).
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về Năm uẩn như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nghĩ: Ðây là sắc, đây là sự sinh khởi của sắc, và đây là sự hoại diệt của sắc. Ðây là thọ, đây là sự sinh khởi của thọ, và đây là sự hoại diệt của thọ. Ðây là tưởng, đây là sự sinh khởi của tưởng và đây là sự hoại diệt của tưởng. Ðây là hành, đây là sự sinh khởi của hành, và đây là sự hoại diệt của hành. Ðây là thức, đây là sự sinh khởi của thức và đây là sự hoại diệt của thức.
Theo như thế, vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức, trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong, hoặc vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách
hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởitrong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt torng đối tượng tâm thức(23). Hoặc tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có đối tượng tâm thức đây", đến mức cần thiết đủ cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại không chấp trước vào một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức như thế đấy.
3. Sáu nội xứ và sáu ngoại xứ:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về sáu nội xứ và sáu ngoại xứ.
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo biết con mắt và sắc, và biết kiết sử sinh khởi tùy thuộc vào hai thứ này (mắt và các hình sắc)(24) vị ấy biết kiết sử đã sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, vị ấy biết kiết sử đã khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Vị ấy biết tai và các thanh và biết các kiết sử sinh khởi tùy thuộc vào hai thứ này, vị ấy biết kiết sử chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết kiết sử đã sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết kiết sử đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Vị ấy biết mũi và các mùi hương, và biết kiết sử sinh khởi tùy thuộc vào hai thứ này, vị ấy biết kiết sử chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết kiết sử đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Vị ấy biết thân và các đối tượng của sự xúc chạm, và biết kiết sử sinh khởi tùy thuộc vào hai thứ này, vị ấy biết kiết sử chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết kiết sử đã sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết kiết sử đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Vị ấy biết ý thức và các đối tượng của ý thức, và biết kiết sử sinh khởi tùy thuộc vào hai thứ này, vị ấy biết kiết sử chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết kiết sử đã sinh khởi nay bị khử diệt như thế nào, và vị ấy biết kiết sử đã bị khử diệt sẽ không sinh khởi trong tương lai như thế nào.
Theo như thế, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong tâm thức bằng cách
hướng về bên trong, hoặc vị ấy sống quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng ra bên ngoài, hoặc vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi trong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố hoại diệt trong đối tượng tâm thức, hoặc vị ấy sống mà quán các yếu tố sinh khởi và hoại diệt trong đối tượng tâm thức(25). Hoặc niệm tâm của vị ấy được xác lập với ý nghĩa: "Có đối tượng tâm thức đây", đến mức cần thiết cho sự hiểu biết và chú tâm như thế, và vị ấy sống tự tại và không chấp trước một thứ gì trong cuộc đời. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về sáu nội xứ và sáu ngoại xứ như thế nào.
4. Bảy giác chi:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong tâm thức về bảy giác chi.
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong tâm thức về Bảy giác chi như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, khi có Niệm giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Niệm giác chi", hoặc khi không có Niệm giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi không có
Niệm giác chi", và vị ấy biết Niệm giác chi chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, và Niệm giác chi đã sinh khởi nay phát triển viên mãn như thế nào.
Khi có Trạch pháp giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Trạch pháp giác chi", ...
Khi có Tinh tấn giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Tinh tấn giác chi"...
Khi có Hỷ giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Hỷ giác chi",...
Khi có Khinh an giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Khinh an giác chi", ...
Khi có Ðịnh giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Ðịnh giác chi", ...
Khi có Xả giác chi, vị ấy biết: "Trong tôi có Xả giác chi", ...
Theo như thế, vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong(26)...
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về Bảy giác chi như thế đấy.
5. Tứ đế:
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về Tứ đế.
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về Tứ đế như thế nào?
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo biết đúng theo thực tại: "Ðây là khổ", vị ấy biết đúng theo thực tại: "Ðây là sự chấm dứt khổ"; vị ấy biết đúng theo thực tại: "Ðây là con Ðường dẫn đến sự chấm dứt khổ".
Theo như thế, vị ấy sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức bằng cách hướng vào bên trong,... (như phần trước). Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống mà quán đối tượng tâm thức trong đối tượng tâm thức về Tứ đế như thế đấy.
* * *
Thực vậy, này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này, theo cách này, trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả vị sau: quả vị Chánh trí ngay trong kiếp này đây, hoặc quả vị Bất hoàn(28) nếu còn đôi chút dư báo trong hiện tại.
Này các Tỷ-kheo, đừng nói chi đến bảy năm, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này, theo cách này trong sáu năm... trong năm năm... bốn năm… ba năm… hai năm… một năm…Vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này, theo cách này, trong bảy tháng...
trong sáu tháng... trong năm tháng ... trong bốn tháng ... trong ba tháng ... trong hai tháng... trong một tháng... trong nửa tháng..., vị ấy cũng có thể chứng trong một hay hai quả vị sau: quả vị Chánh trí ngay trong kiếp này đây, hoặc quả vị Bất hoàn, nếu còn đôi chút dư báo trong hiện tại.
Này các Tỷ-kheo, đừng nói chi đến nửa tháng. Vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này, theo cách này, trong một tuần, vị ấy cũng có thể chứng một trong hai quả vị sau: quả vị Chánh trí trong kiếp này đây, hoặc quả vị Bất hoàn, nếu còn đôi chút dư báo trong hiện tại.
Vì như thế nên ta nói: "Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, thắng vượt phiền muộn bi thương, diệt trừ khổ đau sầu não, đạt đến Chánh đạo, chứng đắc Niết-bàn, đó là Bốn Niệm Xứ".
Thế Tôn thuyết dạy như thế. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ thọ trì lời dạy của Ngài.
CHÚ THÍCH
(1) Sự lập lại trong các phần câu "quán thân thể trong thân thể", "cam thọ trong cam thọ"v.v... là để nhắc nhở cho hành gia sự quan trọng của việc giữ ý thức rõ ràng xem sự chú ý nhằm hướng thẳng vào đối tượng đã được chọn lược riêng có còn được ta giữ hay đã bị lạc vào phạm vi của một pháp quán khác rồi. Chẳng hạn, khi đang quản một quá trình nào đó thuộc thân thế, hành giả vô tình có thể
bị đẩy lệch sang sự khảo sát về những cảm thọ liên hệ với quá trình thuộc thân thế ấy. Người ấy nên tỉnh giác rằng mình đã xa rời đối tượng ban đầu mà đi vào pháp quán cảm thọ.
(2) các từ Pàli "tâm" (citta) và các "đối tượng tâm thức" (dhama, pháp) đã được phỏng dịch nhẹ nghĩa hơn, lần lượt là "trạng thái của tâm" và " các nội dung tâm thức" để nêu ra ý nghĩa của chúng một cách rõ ràng hơn.
(3) Nguyên nghĩa là "đặt niệm tâm trước mặt".
(4)"Bằng cách hướng vào bên trong" vị ấy quán sự hít thở của chính mình, "bằng cách hướng ra bên ngoài", vị ấy quán sự hít thở của người khác, "bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài", vị ấy quán hơi thở của chính mình và của người khác, một cách liên tiếp mà chú ý không bị gián đoạn. Những trường hợp tiếp theo sau cũng nên được hiểu theo như đoạn này.
(5) Các yếu tố sinh khởi (samudaya-dhamma) tức là những điều kiện nguyên khởi của thân thể-hơi thở, là thân thể trong toàn bộ của nó, mũi và ý thức (tâm).
(5) Những điều kiện hoại diệt của thân thể hơi thở, là sự hủy diệt thân thể và mũi, và sự ngưng hoạt động của tâm thức.
(7) Quán cả hai thứ, liên tiếp nhau.
(8) Nghĩa là, chỉ có những quá trình vô ngã về thân thể hiện hữu mà không có một ngã, linh hồn hay một bản chất ẩn dấu. Phần câu liên hệ trong các pháp quán tiếp theo nên được hiểu theo như thế.
(9) Không bị ràng buộc vào tham dục và tà kiến (quan điểm sai lầm).
(10) tất cả các pháp quán về thân thể, ngoại trừ pháp quán trước đây, đều có các yếu tố sinh khởi: vô minh, tham ái, nghiệp, thức ăn và đặc tính sinh khởi nói chung, và các yếu tố hoại diệt; sự chấm dứt vô minh, tham ái, nghiệp, thức ăn và đặc tính hoại diệt nói chung.
(11) Những thứ được gọi là "đại" (các thành phần)này là những tính chất cơ bản của vật chất, được truyền thống Phật giáo giải thích là sự rắn chắc (đất), sự dính bám (nước), tính tỏa nhiệt (lửa) và sự chuyển vận (gió hay không khí).
(12) các yếu tố sinh khởi ở đây là: vô minh, tham ái, nghiệp và cảm giác thuộc giác quan, rồi đặc tính của sinh khởi nói chung; các yếu tố hoại diệt là: sự chấm dứt bốn thứ trên, và đặc tính của hoại diệt nói chung.
(13) chỉ trạng thái tâm cứng nhắc, lười biếng.
(14) Chỉ các trạng thái tâm móng động, lung loàn (trạo cử).
(15) Cái tâm của các Thiền định thuộc cõi Sắc và Vô sắc.
(16) Cái tâm thông thường thuộc cõi Dục.
(17) Cái tâm thuộc cõi Dục nhưng có những trạng thái tâm thức cao hơn nó.
(18) Cái tâm thuộc cõi Sắc và Vô sắc, không còn có trạng thái tâm thức nào cao hơn nó.
(19) Tạm thời được giải thoát khỏi các ô nhiễm (lậu hoặc), hoặc nhờ thực hành có phương pháp về Tuệ giải thoát khỏi những trạng thái bất thiện riêng lẽ bằng sức mạnh của những trạng thái đối nghịch với chúng (thiện) hoặc nhờ các Thiền định (thàna).
(20) Các yếu tố sinh khởi ở đây gồm có vô minh, tham ái, nghiệp, thân và tâm (danh sắc) và đặc tính của minh khởi nói chung, các yếu tố hoại diệt là: sự chấm dứt vô minh, ... và các đặc tính của hoại diệt nói chung.
(21) Các yếu tố sinh khởi ở đây là những điều kiện tạo nên các triền cái, như vọng tưởng (suy nghĩ sai lầm)... các yếu tố hoại diệt và những điều kiện loại trừ các triền cái, chẳng hạn chánh tưởng (suy nghĩ đúng).
(22) Năm nhóm này gồm thành cái gọi là ngũ tính. Do nhận chúng làm đối tượng đế chấp trước nên cuộc sống vẫn cứ còn mãi trong sinh tử luân hồi.
(23) Các yếu tố sinh khởi và hoại diệt thược Năm thu uẩn; về sắc, đã được nêu như thế ở phần các tư thế của thân thể (chú thích số 10); về thọ đã được nêu như thế ở phần quán cảm thọ (chú thích số 12); về thức, đã được nêu như thế ở phần quán tâm (chú thích số 20).
(24) thông thường, người ta liệt kê mười kiết sử (Samyojana) chính; thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục, sân, hữu, ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử, vô minh.
(25) Các yếu tố sinh khởi của 10 nội ngoại xứ thuộc vật lý là vô minh, tham ái, nghiệp, đồ ăn và đặc tính của sinh khởi nói chung; các yếu tố hoại diệt...(20); các yếu tố của đối tượng thuộc về ý giống như các yếu tố thuộc cảm thọ (chú thích số 12).
(26) Chính những điều kiện đưa đến sinh khởi và hoại diệt của các giác chi (các yếu tố của chứng ngộ) gồm các yếu tố sinh khởi và hoại diệt nêu ở đây.
(27) Các yếu tố sinh khởi và hoại diệt của Tứ đế cần được hiểu là sự khởi lên và diệt mất của Khô, Tập và Đạo, còn Diệt đế không gồm trong phép quán này vì nó không sinh khởi cũng không hoại diệt.
(28) Đó là không quay trở lại thế giới giác quan này nữa. Đây là cấp độ cuối cùng trước khi chứng Thành quả tối hậu.
*
* *