CƠN SỐT ĐẠI HỌC MIỀN NAM
ĐOÀN VIẾT HOẠT
PHẦN I : ĐẠI HỌC MIỀN NAM ĐI VỀ ĐÂU ?
A. – THỰC TRẠNG CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ TỪ SAU 1954:
Sauk hi đất nước chia đôi trước áp lực của người Mỹ, Pháp dần dần trao trả cho chính phủ Ngô Đình Diệm, những cơ sở hành chánh và giáo dục. Năm 1955 Trường Đại học Hỗn hợp Việt Pháp được trao cho chính phủ miền Nam. Chính phủ Diệm, trong những năm đầu nắm quyền đã cố gắng tìm một đường lối và chương trình giáo dục mới. Tuy nhiên vấn đề giáo dục không thể tách rời vấn đề chính trị; nói đúng hơn đường lối và chương trình giáo dục tùy thuộc vào quan điểm và kế hoạch kiến thiết xã hội. Nói cách khác vấn đề xây dựng
_________________________
* Loạt bài này có mục đích phân tách một cách khách quan nguyên nhân và bản chất của “Cơn sốt đại học miền Nam” hiện tại, với ước vọng cống hiến cho quý vị độc giả những dữ kiện để suy luận. Loạt bài này phần lớn trích trong luận án tiến sĩ của tác giả nhan đề “The Development of Modern Higher Education in Vietnam: A Focus on Cultural and Socio-Political Forces”.
giáo dục không thể tách rời khỏi vấn đề xây dựng, một lý thuyết xã hội.
Vấn đề tìm một chủ thuyết xã hội thích hợp cho nước ta không phải là một vấn đề mới mẻ gì. Kể khi phong trào kháng thực bắt đầu, nghĩa là kể từ đầu thế kỷ Với phong trào canh cải xã hội nước ta rồi. Nhưng canh cải theo đường hướng nào? Những cố gắng tìm câu trả lời của các phong trào Đông du, Canh tân, Pháp Việt đề huề tuy có nồng nhiệt trên trình tự nhưng hoặc còn chập chừng trong ý thức hay lại thỏa hiệp trong thái độ. Những năm tiền 30 nhiều phong trào chính trị dồn dập du nhập vào nước ta, trong số này chủ thuyết Công sản đã tạo được sức thu hút mạnh mẽ nhất một phần nhờ tài của các cán bộ đầu tiên nhưng một phần lớn nhờ lý thuyết này có tính cấp tiến nhất lúc bấy giờ. Nhờ có học thuyết rõ ràng này mà miền Bắc những năm sau 1954 đã có được một khí cụ tinh thần mạnh mẽ để kiến thiết miền Bắc. Tuy nhiên ta cần nhấn mạnh rằng khí cụ ấy có là một ưu điểm cho đất nước ta hay không thì lại là một câu hỏi khác.
Miền Nam sau 1954 thừa hưởng cái di sản vẫn còn chập chững trên ý thức mà lại kém dần nồng nhiệt trong tình tự của những phong trào không Cộng sản thời kỳ tiền 1940. Thêm vào đó là thái độ nhiều khi thỏa hiệp với thực dân và thực tế chính trị gắn liền với những trồi sụt của chính trị Tây phương. Thực trạng này làm bộ mặt chính trị miền Nam không mấy sáng sủa và đòi hỏi những người lãnh đạo ở Saigon thời kỳ sau 1954 phải tìm ra một lối thoát vừa trên ý thức vừa trên trên tình tự.
Ông Ngô Đình Nhu, lý thuyết gia của chế độ ở miền Nam sau 1954, hẳn nhận thấy nhược điểm đó. Ông đã gom góp cái hiểu biết về triết học Đông Tây của mình để bao nó chung
quanh cái trục thần học Thiên chúa giáo mà tạo ra chủ nghĩa Nhân vị. Càng những năm về sau của chế độ, chủ nghĩa này càng đucợ tô điểm thêm phần rực rỡ. Cả hai ông Diệm và Nhu đều tưởng có thể dùng chủ nghĩa Nhân vị làm lợi khi chống lại chủ nghĩa Cộng sản của miền Bắc. Nhưng một đàng chủ nghĩa này tuy gợi hứng từ chủ nghĩa Personalisme của Emmanuel Mounier thực ra lại hầu như phản lại tinh thần căn bản của chủ nghĩa này. Một đàng khác khi được đem ra thực tế để trắc nghiệm chủ nghĩa Nhân vị đã thất bị vì không đưa ra được những phương thức hữu hiệu nào để chống lại ảnh hưởng của Cộng sản.
Chủ nghĩa Nhân vị như hai ông Diệm và Nhu hiểu khác xa chủ nghĩa của ông như một khí cụ chính trị để chống lại chủ thuyết CS và cả ảnh hưởng tư bản, trong khi đó Mounier lại muốn chủ nghĩa Peronalisme của ông “không phải là một hệ thống chính trị… và không nhằm chống lại chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản” (1). Mounier chỉ muốn coi học thuyết của ông như là những suy tư về thân phận con người trong thế kỷ 20. Tinh thần học thuyết của ông tự nó chối bỏ một hệ thống chính trị giáo điều, khuôn phép rồi. Nó mang tính chất triết lý hơn là chánh trị trong khi đó ông Diệm lại cần một học thuyết chính trị để chống lại cả cá nhân chủ nghĩa và “cái gọi là dân chủ nhân dân” với tham vọng tạo một giải pháp thứ ba (2).
__________________________
(1) E.Mounier, Oeuvres, Tome III, 1944-1950 (Paris: Editions du Seuil, 1962), t.203.
(2) Ngô đình Diệm: “Message to the National Assembly on the Founda-tions of the Constitution”. (April 17, 1956), President Ngô đình Diệm on Democracy (Saigon Press Office of the President of the Republic of Vietnam, Oct. 1957) t.14.
Nếu quả hai ông Diệm Nhu thành công như họ mong muốn thì hẳn là một điều đáng tán thưởng rồi. Tuy nhiên làm thế nào để có được một học thuyết “đứng giữa” như thế trong khi cái trục của nó là quan niệm coi Nhân vị như địa vị, giá trị của người trước Thiên chúa, một quan niệm nồng cốt của học thuyết của Mounier, lại là một quan niệm thuần túy Tây phương? Chính vì điểm này mà ông Diệm đã phải đem những quan niệm “Thành và Tín” của Khổng học vào trong cố gắng tổng hợp Đông Tây. Cố gắng này chỉ thành công nếu trong thực tế nó cung cấp cho chế Độ nhựng dự kế thực tiễn và xa dài trong việc kiến thiết xã hội. Nhưng trong thực tế cố gắng này chỉ “ tạo nên một tình trạng mập mờ bao phủ cả chế độ”, đúng như nhận xét của bà Nguyễn Anh Tuấn. (3)
Trong những năm cuối cùng của chế độ chủ nghĩa Nhân vị chỉ còn là một lợi khí cho một chế độ độc đoán.
Những năm sau 1963 miền Nam lại rơi vào tình trạng phi chính trị hiểu theo nghĩa chế độ không biết phải được xây dựng trên một nền tảng xã hội nào. Tình hình quân sự dồn dập, cộng thêm với tính cách bấp bênh của những chánh quyền tạm bợ và nhất là ảnh hưởng của người Mỹ mỗi ngày một mạnh – tất cả đã tạo nên tình trạng chính trị mất phương hướng của miền Nam.
Nếu trên chính trị chế độ miền Nam đã không có một đường hướng rõ rệt thì trên phương diện kinh tế cũng không biết phải phát triển theo phương thức nào. Một cách cụ thể hơn nền kinh tế miền Nam càng ngày càng bị lệ thuộc vào Viện trợ Mỹ.
_______________________________
(3) Mme Nguyễn Anh Tuấn, Les Forces Politiques du Sud Vietnam Depuis les Accords de Genève, 1954 (Louvain : Université Catholique de Lou-vain, Faculté des Sciences Economiques, Sociales et Politiques, 1967), 192
Chỉ có những năm dưới chế độ họ Ngô mới có một vài chương trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên việc phát triển kinh tế không bao giờ được nghiên cứu một cách có kế hoạch, khoa học và hữu hiệu. Kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1957-1961) không bao giờ được công bố chính thức. Mãi cho tới năm 1962 những dữ kiện thống kê cần thiết cho việc hoạch định chương trình kinh tế đã hoặc hoàn toàn không có hoặc nếu có lại không xác thực. Vì thế ủy ban hoạch định kế hoạch 5 năm lần thứ hai đã phải phàn nàn rằng :
“Trong điều kiện như vậy, nếu muốn hoạch định một cách khoa học thì không có căn bản vững chắc”(4) Vì thiếu hoạch định khoa học nên những mục tiêu đề ra trong các kế hoạch này thường rất mơ hồ và quá to lớn đến nỗi chính những người đề ra cũng nhận không thể có “tham vọng” hoàn tất sau thời kỳ 5 năm của kế hoạch.
Đã không có đường lối và kế hoạch rõ rệt, tình trạng tài chánh lại không bao giờ sáng sủa. Từ 1957 tới 1961 trong số 17 tỷ thu vào thì có 7 tỷ do ngoại viện. Lý do rõ rệt nhất là vì cán cân chênh lệch quá mức giữa số nhập và số xuất cảng. Năm 1960 chẳng hạn miền Nam xuất cảng 84 triệu đô la trong khi nhập cảng 239 triệu, viện trợ Mỹ phải cung cấp 179 triệu để bù đắp sự thâm thủng này (5). Nhập cảng nhiều như thế nhưng lại chỉ thiên về những hàng tiêu thụ chứ không thiên về nguyên liệu sản xuất. Năm 1956 hàng tiêu thụ chiếm 82,9% tổng số hàng nhập cảng (6).
_________________________
(4) VNCH, Nha TGĐ. KH, Đệ nhị kế hoạch ngũ niên 1962-1966 (Saigon : Nha TGĐ, n.d.), t.5.
(5) Milton C. Tayor, “South Vietnam : Lavished Aid, Limited Progress” Foreign Affairs, Vol. 34 (Pall, 1962), t. 253.
(6) David C. Cole, “Economic setting” trong Richard Wadswoth Lindohm (ed), VN: The First 5 Year, An International Symposiam (East Lan-sing : MSU Press, 1959), t. 188.
Viện trợ Mỹ chịu trách nhiệm về tình trạng nhập cảng này vì viện trợ này chỉ cốt nhằm hạn chế mức độ lạm phát. Năm 1959, 3/4 số tiền viện trợ được dùng để hỗ trợ việc nhập cảng các hàng hóa tiêu thụ. Đường lối viện trợ này tuy có giúp cho ngân sách khỏi thiếu hụt nhưng lại không đặt căn bản cho một kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài. Thêm vào đó, viện trợ Mỹ lại có tính cách vụn vặt và tùy thuộc sự cắt giảm hàng năm của Quốc Mỹ. Chương trình viện trợ năm 1957 chẳng hạn gồm 93 dự án khác nhau, từ dự án cung cấp sách giáo khoa cho các trường tiểu học cho tới dự án cải tổ Phủ Tổng thống (7). Tính cách vụn vặt này đã bóp chết các đồ án phát triển kinh tế dài hạn của miền Nam vì kinh tế miền Nam lệ thuộc viện trợ này. TÌnh trạng này đã khiến một cố vấn Mỹ khi trở về nước đã phê bình bằng những lời lẽ gay gắt: “ Sau sáu năm hưởng viện trợ Mỹ ồ ạt, Việt nam đã trở thành một nước đi ăn xin thường trực (a Permanent mendicant)” (8).
Đây là những năm tiền 1963, còn những năm sau 1963 tình trạng kinh tế lại tệ hại gấp nhiều lần vì tình hình quân sự gia trọng và vì những thay đổi chính phủ liên tiếp. Sự lệ thuộc vào viện trợ Mỹ còn gai tăng gấp bội và ngày nay người ta chỉ còn trông mong vào thời hậu chiến mà thôi.
B. ĐẠI HỌC HAY HỌC ĐẠI ?
Văn hóa mơ hồ, kinh tế lệ thuộc, nên nền giáo dục mất chỉ đạo. Đại học miền Nam không biết đi về đâu và cho tới những năm gần đây cố dẫy dụa để sống còn và tìm một chiều hướng mới.
Trong những năm đầu của thời kỳ hậu 1954, đại học miền Nam trải qua một giai đoạn chuyển tiếp. sau nhiều do dự và
__________________________
(7) Bernard B. Fall, Le Viet Minh: La Re1publique De1niocratique du VN 1954-1960, (Paris : Max Le Clere et Cie., 1960), t.243
(8). Tayor, op.,cit, t 256
miễn cưỡng người Pháp cuối cùng phải chuyển giao quyền quản trị Đại học Hỗn hợp Việt Pháp, tức Đại học Hanội cho chính phủ Saigon. Vào năm đại học này được chính thức chuyển giao cho chính phủ Việt nam và được đổi tên là Viện Đại học Quốc gia Việt nam. Năm 1957 một viện Đại học thứ hai ra đời tại Huế, nên viện Đại học Quốc gia đổi tên là viện Đại học Saigon.
Việc chuyển giao quyền quản trị đại học từ tay người Pháp sang tay người Việt đánh dấu một khúc quanh quan trọng trên đường phát triển đại học Việt nam vì từ nay đại học phải được thay đổi để mang đặc tính Việt nam. Để đạt mục tiêu này cần hoàn tất hai công việc. Một là chuyển ngữ từ Pháp sang Việt ngữ, hai là thiết lập một chương trình học có tính chất Việt nam.
Việc chuyển ngữ ở đại học tại miền Nam tiến hành chậm chạp và gặp nhiều khó khăn vì tuy người Pháp đã nới tay cai trị Việt nam nhưng ảnh hưởng văn hóa của họ còn quá nặng. Trong khi cho mãi tới năm 1951 Việt ngữ mới được dùng lần đầu tiên tại các lớp đệ thất trung học mà ở bậc đại học, trường đại học Văn khoa được mở lần đầu tiên năm 1952 đã muốn dùng Việt ngữ làm chuyển ngữ rồi. Năm 1956 chương trình học bằng Việt ngữ đầu tiên được mở tại trường Đại học Luật khoa. Cũng theo đà này năm 1957 khi Viện Đại học Huế mới mở, Việt ngữ cũng được dùng làm chuyển ngữ. Tuy thế tại Sàigòn, Pháp ngữ vẫn tiếp tục được thịnh hành trong giới giáo sư Đại học. Tại các lớp cao ở Đại học, Pháp ngữ vẫn được dùng làm chuyển ngữ cho mãi tới năm 1966. Chẳng hạn như các luận án tại Đại học Khoa học Sàigòn vẫn còn viết bằng Pháp ngữ vào năm 1966 (9).
______________________
(9) VNCH, Chỉ nam Sinh viên Đại học Saigon’, 1966 (Saigon : VĐH Saigon, n.d.), tt. 155-184.
Chính sách mập mờ thiếu dứt khoát của chính phủ làm việc chuyển ngữ không được tiến hành có kế hoạch nhanh chóng. Mãi tới 1961, mà chính phủ mới chỉ “khuyến cáo các Khoa trưởng và Giám đốc dùng Việt ngữ làm chuyển ngữ” (10). Chỉ tới năm 1965 Bộ Giáo dục mới ra lệnh phải dùng Việt ngữ cho tất cả các lớp, các phân khoa Đại học, chỉ trừ những lớp ngoại ngữ thôi (11).
Về vấn đề thiết lập một học trình có tính chất Việt nam cũng không được tiến hành có kế hoạch. Tuy chính phủ miền Nam có phần nào ý thức tầm quan trọng của vấn đề này, nhưng trong thực tế ta không thấy có một sáng tạo văn hóa nào. Chính ngành Giáo dục bị ảnh hưởng bởi tính chất mù mờ của lý tưởng chính trị nên cũng chỉ bao gồm những danh từ trống rỗng, nhiều khi tự mâu thuẫn nhau. Ăn nhịp với đường lối chính trị của chủ thuyết Nhân vị, trên văn hóa giáo dục những người trách nhiệm chủ trương phải “dung hòa” văn hóa Đông Tây (12).
Việc “dung hòa” văn hóa Đông Tây có thành công trong những năm qua không, hẳn chúng ta đều thấy rõ. Có điều là trong những năm đầu thập niên 1960 chủ trương “dung hòa” này có lẽ đã cho những người bị ảnh hưởng văn hóa Pháp có một lối thoát êm đẹp vì không phải đột ngột dứt bỏ một nền văn hóa mà họ đã bị ảnh hưởng khá sâu đậm. Hơn nữa, chủ trương dung hòa văn hóa thế giới chỉ bộc lộ ảnh hưởng của chính
___________________________
(10) R.of VN, Dep of NE, Report on The situation and Progress of National Education in VNduring the School Year 1960-1961 (Saigon, the Dep, : 1961), t.3.
(11) Chỉ nam Sinh viên Viện Đại học Saigon, t. 44.
(12) Diễn văn của TT. Giáo dục trong ngày tiếp nhận trường Đại học Hanoi, theo Văn hóa Nguyệt san, Bộ mới, số 3 (6/1955), t. 393.
trị vào văn hóa vì giai đoạn này chính là giai đoạn mà Việt nam bị quốc tế hóa rõ rệt. Trong chiều hướng này phải chăng việc “dung hòa văn hóa Đông Tây” chỉ là một bước để mở cửa cho văn hóa Mỹ bắt đầu du nhập Việt nam ?
Cho nên chủ trương này chỉ có giá trị nếu có sáng tạo và chủ động, nếu không chỉ là một cách trốn tránh trách nhiệm văn hóa dân tộc của những nhà lãnh đạo quốc gia đầy tinh thần vọng ngoại, để chỉ đưa đến một tình trạng va8nhoa1 giáo dục chắp vá chứ không phải tổng hợp.
Điều này chứng tỏ rõ rệt khi ta nhìn vào chương trình học tập tại các trường đại học ở miền Nam, nhất là tại trường đại học Văn khoa, nơi phải được coi là trung tâm văn hóa và tinh thần cho nền giáo dục ở miền Nam. Chương trình học tại trường này nặng về văn hóa ngoại quốc, nhất là văn hóa Tây phương mà quá nhẹ về văn hóa Việt nam. Năm 1966, trong số 27 chứng chỉ chỉ có 5 chứng chỉ là hoàn toàn liên quan tới Việt nam; có thêm 2 chứng chỉ khác hơi liên quan tới Việt nam. Còn lại các chứng chỉ kia gần như chia đều cho văn hóa Pháp, Anh, Mỹ, Trung hoa và Ấn độ. Cua về Việt nam chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng số cua của trường này năm 1966 (13). Trường đại học Văn khoa Sàigòn quả xứng đáng là nơi “dung hòa văn hóa Đông Tây” vì chương trình học đã được “chia đều” cho các nền văn hóa quan trọng trên thế giới.
Chỉ khi nào Đại học miền Nam thiết lập được một chương trình giáo dục và nghiên cứu đứng đắn về văn hóa và văn minh Việt nam lúc đó đại học mới đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội Việt nam. Khi chấp nhận một chính sách văn hóa giáo dục chắp vá những người có trách nhiệm ở miền Nam trong đầu
_________________________
(13) Chỉ nam Sinh viên đại học Saigon, 1966, tt. 201-202, tt. 212-214.
thập niên 1960 hoặc đã vô tình sa vào âm mưu của người Pháp muốn tìm cách trì hoãn sự sụp đổ ảnh hưởng văn hóa của họ ở miền Nam, hoặc lẩn tránh việc khai quật và sáng tạo văn hóa dân tộc, hoặc chỉ tự đưa mình theo thác lũ chính trị quốc tế. Dù thế nào chăng nữa tình trạng dung hòa mập mờ này chỉ làm cho đại học miền Nam thêm mất phương hướng. Vì thế ta sẽ không ngạc nhiên khi có công tìm kiếm mà không thấy có đoạn nào nói rõ đường lối và mục đích của Viện đại học Sàigòn
trong các chỉ nam của trường này. Thực ra trong thực tế có Viện đại học Sàigòn không ? hay đây chỉ là một danh xưng chung cho các phân khoa đại học rải rác trong thành phố, mỗi phân khoa hoàn toàn tách biệt theo đúng hệ thống tổ chức từ thời Napoléon để lại ?
Hơn nữa, khuynh hướng văn hóa mơ hồ này chỉ biến đại học miền Nam thành những pháo đài ngày một kiên cố của từng lớp trí thức thành thị trưởng giả và sa lông. Nền giáo dục mỗi ngày một từ chương và khoa cử không kém gì nền giáo dục thưở xưa trước khi tiếp xúc với Tây phương. Đại học mỗi ngày một xa lìa thực trạng nghèo khổ, chết choc, bất công và suy đồi của xã hội. Ngay khi tiếp nhận Viện đại học Hànội từ tay người Pháp, vị Tổng trưởng Giáo dục thời đó đã lên tiếng đả kích tinh thần “quốc gia cực đoan” mà theo ông chỉ biến đại học thành “một nền đại học bình dân”. Nguyện vọng của ông là làm cho đại học “có thể so sánh được với nền đại học tại các nước Âu Mỹ” (14). Nguyện vọng này sẽ dẫn tới gì nếu không phải là tới việc thành lập tại Việt nam một nền đại học hải ngoại Par excellence của Tây phương ?
_______________________
(14) Văn hóa Nguyệt san, Bộ mới, số 1 (4-1955), t. 135.
Một nền đại học vụ về kiến thức từ chương, khoa cử và trưởng giả như thế thì làm sao góp phần vào việc phát triển xã hội được. Mà thực ra tình trạng của đại học chỉ phản ảnh trung thực trạng mù mờ về tư tưởng, độc đoán về chính trị và trì trệ về kinh tế của xã hội miền Nam như ta đã phân tích ở trên. Đặc biết nhất là ảnh hưởng của một nếp suy tư mung lung và một chương trình kinh tế không sản xuất và lệ thuộc ngoại viện. Ảnh hưởng này đã tạo nên một “ao tù đại học” khiến cho giáo sư đại học chỉ biết nhai lại một mớ kiến thức cũ khó tiêu cho một xã hội đầy biến động đang trên đà lột xác khó tiêu cho một xã hội đầy biến động đang trên đà lột xác như xã hội ta, còn sinh viên chỉ biết cắm đầu ngấu nghiến để lại nhả ra các kiến thức từ chương và trưởng giả đó. Đại học thiếu nghiên cứu, không phát kiến, mất chủ động, để trờ thành nạn nhân của sự nhảy vọt về sĩ số và của các chính sách giáo dục tùy hứng của chính phủ. Tình trạng này kéo dài tới những năm cuối của thập niên 1960. Vào những năm cuối của thập niên 1960 nhiều yếu tố mới xuất hiện bắt đầu ảnh hưởng vào sự phát triển đại học ở miền nam mở một khúc quanh mới cho đại học miền Nam. Trong bài sau chúng ta sẽ phân tích những yếu tố này.
(Còn tiếp)
ĐOÀN VIẾT HOẠT
PHẦN II : NHỮNG ẢNH HƯỞNG MỚI
PHẦN III : NHỮNG BẾ TẮC VÀ ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
LỜI KÊU GỌI
Trong dịp đầu năm Nhâm Tý, tôi có phổ biến lời kêu gọi các Phật tử, các Học giả ủng hộ tiền in tập III, Trường Bộ Kinh của tôi. Tập này dày trên 800 trang, gồm 358 trang tiếng Pa2li cộng hơn 400 trang Việt dịch đối chiếu. Mãi cho đến nay, chúng tôi đã nhận được sự hưởng ứng như sau:
Bạc mặt : 47.000$
Chi phiếu : 17.000$
Đại đức Hộ Giác và nhóm
Phật tử chùa Phổ Quang : 150.000$
Tiền in tổng cộng tốn gần 1.200.000$. Và tôi chỉ có thể bắt đầu in khi nhận được ít nhất là 500.000$. Vậy một lần nữa, tôi xin có lời kêu gọi thiện chí đóng góp của từn vị. Một cá nhân hay Ban Tu Thư của Viện bỏ ra 1.200.000$ in thì không nổi. Nhưng mỗi người chỉ đóng góp 1.000$ thôi, cần 1.000 người như vậy thì có thể in tập sách này rất dễ dàng. Không những sự đóng góp của quý vị giúp phổ biến lời Phật dạy một cách rộng rãi, quý vị cũng giúp tôi hoàn thành tập IV Trường Bộ Kinh mà nay tôi dịch đã gần xong, chỉ còn ba Kinh chót nữa xong Trường Bộ Kinh (Digha Nikàya) gồm tất cả 34 bộ Kinh rất quan trọng.
Tu Thư Sưu khảo Vạn Hạnh cũng xin thông báo là hiện Ban Tu Thư đang in quyển Kiến Trúc Phật Giáo của Giáo sư Nguyễn Bá Lăng và quyển Thắng Pháp Tập Yếu Luận tập II của tôi dịch đã xong, và quyển Các Tông phái của Đạo Phật của Juniro Takakusu Đại đức Tuệ Sỹ cũng đã dịch xong, chỉ chờ đủ tiền in là có thể bắt đầu. Viện không sợ thiếu Kinh sách Phật giáo để in, Viện chỉ sợ in xong phát hành không được, vì từ trước đến nay, có truyền thống cho rằng Kinh sách Phật in là để ấn tống và để tặng. Tặng một lần và một số ít thì còn có thể được. Tặng luôn và ai cũng đòi tặng thì các nhà Xuất bản Phật giáo phải dẹp tiệm tất cả. Chúng ta chỉ cần thay đổi quan niệm, thay đổi thái độ một chút là giúp các tác giả sách báo về Phật giáo và các nhà Xuất bản Kinh sách Phật giáo một cách dễ dàng. Đừng chờ đợi tặng sách nữa. Hãy tự mình bỏ tiền ra mua. Chúng tôi chỉ cần 1.000 độc giả mua sách là đủ tiền vốn để in quyển khác. Vậy quý vị hãy tự động quyết định xem mình là một trong số 1.000 người ấy. Một cử chỉ thật giản dị, thật đẹp đẽ giúp phổ biến lời Phật dạy cùng khắp mọi phương. Rất mong quý vị thay đổi thái độ và giúp chúng tôi in kịp tập III, Trường Bộ Kinh vào ngày Phật Đản sắp đến.
T.T THÍCH MINH CHÂU