Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 3 (Năm 1972)

Tư Tưởng Số 3 (Năm 1972)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1972. Số trang: 109.

Chương 3: 3. Những Di Tích Kiến Trúc Danh Tiếng Triều Lý (Trang 51 - 68)

NHỮNG DI TÍCH KIẾN TRÚC
DANH TIẾNG TRIỀU LÝ
 
NGUYỄN BÁ LĂNG
 
 
Cho đến nay ai cũng phải công nhận là Phật giáo Việt nam toàn thịnh dưới triều đại nhà Lý và các vua triều này đã hết lòng phò trợ Phật giáo, dựng chùa xây tháp khắc nước, không thời nào sánh kip nhưng ngót ngàn năm, trải qua bao cuộc tang thương,  binh, hỏa lảo hoại, Những công trình kiến trúc xưa chẳng còn lại được bao nhiêu. Trong số còn lại, lại bị tu sửa canh tân nên chỉ còn dăm ba ngôi chùa còn giữ lại ít nhiều đường nét triều Lý, môt hai ngọn tháp hoặc tàn tích đặc biệt may mắn là còn bảo tồn được hình trạng kiến trúc và kiểu thức nguyên thủy của thời đại văn hóa này, rực rỡ và độc đáo nhất trong lịch sử Việt nam.
            Những di tích quí báu đó là mấy ngôi chùa và những ngọn tháp cùng những sản phẩm  đố đất nung như sau:
Tại miền ngoại ô phía Tây Hà nội, người ta thấy nhiều những đồ gốm, những hòn gạch, những viên ngói, những mảnh sành mảnh sứ trang hoàng tinh vi, rực rỡ và kiểu thức thì độc đáo, nên nhân vùng này có di tích thành Đại la mà các nhà bác học của trường Viễn đông bác cổ gọi là kiểu thức Đại la. Nhưng dần dần người ta thấy tại nhiều nơi khác trong miền Trung châu Bắc việt cũng có những vật như thế và tuy nhận ra rằng phần lớn là những thành phần trang trí kiến trúc như gạch hoa, ngói men, những đề tài trang hoàng trên nóc mái, nhưng có nhiều cái vẫn không xác định được vị trí hay công dụng như thế nào. Phải chờ đến khi phát hiện ra ngọn tháp Bình sơn rồi tháp chùa Phật tích và cả một số tháp nung, nhiều thắc mắc mới được giải đáp.
            Trước hết tại vùng Đại la và Thăng long xưa, người ta thấy nhiều cây tháp nung mầu gạch đỏ, kiểu cách tương tự như những cây tháp nung đời Đường tại Bát vạn sơn (chùa Tiên du tình B ắc ninh) (1). Tháp thường gồm có bảy tầng, tầng dưới to, trên nhỏ dần. Thân tháp tầng dưới cùng mỗi mặt rộng khoảng 15cm. Tại giữa mỗi mặt có một hình Phật ngồi trong ô cửa sổ tò vò. Phần thân tháp hai bên trang trí bằng một nền vân hoa thị bốn cánh. Mỗi tầng cách nhau bằng ba đợt gờ đỡ một vành mái ngói âm dương, tất cả đều uốn cong vênh lên bốn góc.
            Ta có thể đoán rằng đây là một di tích còn lại trong số 84.000 cây tháp mà vua Lý Thần Tôn đã đặt mở hội khánh thành năm 1129 hay 1132 ? tại gác Thiên phù nơi góc tây nam Dâm đàm (Hồ tây). Cũng ở những nơi đây người ta tìm thấy những mảnh, những đoạn tháp nung hình dáng thắt nở rõ rệt hơn, và trang
____________________________
( 1). Những tháp nung này tương truyền do Cao Biền cho làm 84.000 cây. Mỗi cây cao chừng 50cm, gồm năm tầng, hình vuông; mỗi mặt và tại mỗi tầng có in một hình Phật ngồi trong ô cửa sổ ở chính giữa.
hoàng hoa mỹ hơn. Có đoạn là tầng dưới của một cây tháp đặt trên một nền bệ tòa sen hai tầng cánh hoa chân bệ có dính những hình lá bồ đề chạy theo một đường dài khắp bốn mặt. Thân tháp cũng trang hoàng bằng những hình hoa thị bốn cánh, hai bên cửa vào ở mỗi mặt có hai pho tượng Kim cương mang trụ giáp như những võ tướng đứng chống gươm giữ cửa. Bên trên thay vì làm vành mái thì có những gò chỉ thát rồi nhô ra như hình cổ đẳng để đỡ những tầng trên thu nhỏ hẳn lại.
            Có những mảnh tháp cho ta thấy thân tháp trang hoàng bằng những ô hộc nhỏ ở hai bên khung cửa tò vò tại nơi chính giữa. Trong mỗi ô này có một hình Phật nhỏ. Đây là kiểu tháp Thiên Phật. Có những mảnh tháp cho ta thấy dấu tích những cái mào trang trí hình lá bồ đề, gắn trên mỗi đầu ngói tròn thành một hàng ngang dài nơi diềm mái, và thấy cái chop tháp có khi là một búp hoa sen.
THÁP CHÙA PHẬT TÍCH
            Trong những năm 1937 và 1940 trường Viễn đông bác cổ đào nền chùa Phật tích tại huyện Tiên du, tỉnh Bắc ninh, và tìm thấy một nền tháp vuông mỗi chiều rộng 8m 50, nhiều vật điêu khắc trên sa thạch và nhiều gạch nung lớn nhỏ khác nhau, đều một màu đỏ tươi khắc hàng chữ : “Lý triều, đệ tam đế, Long thụy Thái bình đệ tứ niên” (1057). Những vật bằng đá đào được gồm : một tượng Bồ tát, một pho tượng Kim cương, mấy pho tượng Ca lăng tần già hay Nghi thần (Kinnari : thiên nữ đầu người mình chim chơi nhạc khí), nhiều đá tảng trạm vòng cánh sen và những nhạc công, hai mảnh tảng đá chân cột và những bộ “còn sơn chồng đấu”.
            Những đồ vật này đều chạm trổ tinh vi như mặt thêu trên đá, diễm lệ như đồ trang sức và sinh động như thấy hiển hiện trước mắt đoàn vũ công vừa  nhảy vừa hòa tấu rộn ràng.
Tương truyền ngày xưa trên nền chùa Phật tích có một ngọn tháp cao đến nỗi từ kinh đô (Thăng long) cũng trông thấy. Sau cây tháp đổ người ta thấy còn lại một pho tượng Phật bằng đá bèn làm chùa để thờ gọi là chùa Phật tích hay Vạn phúc.
            Theo tấm bia chính của chùa thì năm thứ tư, Long Thụy thái bình (1057) vua Lý Thánh Tông sắc dựng một ngọn bảo tháp cao mười trượng (42 thước) và tạc một pho tượng mạ vàng cao sáu thước (2,4m). Ngày nay sau cuộc tàn phá vì chiến tranh khoảng năm 1947, còn lại ở giữa nền chùa pho tượng Di Đà ngồi trên tòa sen, mưa nắng đã róc hết lớp sơn phủ ngoài để lộ nguyên mặt đá mầu xám trắng và những nét điêu khắc sắc sảo tinh vi. Ngoài ra còn có những con rồng mảnh mai, mình rắn, mũi dài miệng rộng kiểu thủy quái Makara của Mỹ thuật Ấn độ và Nam dương cùng những đường thủy ba và vân núi chập chùng trang hoàng nơi chân bệ. Tượng tác lớn bằng người thật và chiều cao gồm cả bệ tòa sen vào khoảng 2,5m. Vậy rõ ràng là pho tượng nói trong bia và những đồ đào được là tàn tích cây tháp của vua Lý Thánh Tôn.
THÁP SỨ BÁT TRÀNG  (?)
 
            Hình dung cây tháp như thế nào, ta có thể căn cứ vào những vật đã đào được giống những thành phần trang trí trên cây tháp nung “Sứ trắng Bát tràng” cao 1,05 thước (không kể phần gẩy khuyết ), hình như tìm thấy ở Đại la (sưu tập Đỗ Đình Thuật), mà phục nguyên công trình kiến trúc này với một tỷ lệ to lớn gấp bội : Trước hết tháp có một tòa bệ đài sen chạm trổ lộng lẫy rồi đến tầng nhất, tầng cao lớn quan trọng hơn cả và cũng  nhiều dề tài trang trí hơn, gồm có tượng Kim Cương mang giáp trụ đứng nẩy ra như một vành khăn ở bên trên trán.
NGUYỄN BÁ LĂNG
Cạnh góc cửa tháp có gờ trụ vuông để nhắc lại những dàn cột trong kiến trúc bằng gỗ với những bộ “con sơn chồng đấu” đỡ tầng mái. Mỗi bộ “chồng đấu” có một tiên nữ (Ca lăng tần già) xòe cánh đậu bên trên và trong khoảng trống giữa hai  bộ đấu có chạm một hình lá sồi hay lá bồ đề. Diềm mái tận cùng tầng tháp chạm hoa dây lá cuốn chạy quanh bốn mặt. Những tầng trên kém quan trọng và nhỏ thấp dần dần để tận cùng bằng một cái chóp thấp.
THÁP BÁO THIÊN
 
Cùng lúc dựng tháp ở núi Phật tích (hay Lạn kha), vua Lý Thánh Tôn còn cho dựng cây tháp Đại thắng tư thiên, gọi tắt là tháp Báo thiên trong chùa Sùng khánh tại kinh thành Thăng long (1). Tháp Báo thiên chắc còn vĩ đại, lộng lẫy hơn tháp Phật tích và các tháp ở Việt nam từ trước đến nay. Khởi công năm 1057, tháp được xây cao 20 trượng, chia ra làm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình tựa ngọn núi (2) chót vót trên nền trời Đế đô.
Trấn áp Đông tây củng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kinh thiên bút
Kim cổ nan ma lập địa chùy
Phong bãi chung linh thời ứng đáp
Tinh di đăng chúc dạ quang huy
Ngã lai dục tỷ đề thi bút
Quản lãnh xuân giang tác diễn trì.
Phạm Sư Mạnh
 
______________________
(1) Địa điểm ở chỗ nhà thờ lớn Hà nội ngày nay.
(2) Trần Bá Lãm : La Thành cổ tích vịnh (triều Lê).
Tạm dịch vần :
            Trấn áp đông tây giúp đế kỳ
            Vọt cao một tháp vẻ uy nghi,
            Chống trời chẳng động non sông bút
            Tháp vững bao đời vẫn chẳng suy
            Gió thổi chuông ngân vang ứng đáp,
            Đêm sao, đèn đuốc sáng lưu ly.
            Đến đây những muốn câu thơ sánh
            Nhận lãnh sông xuân làm nghiễn trì.
            Tháp này là đệ nhất danh thắng của chốn đế kỳ trải bao triều đại, cho đến khi Vương Thông nhà MInh bị Bình Định Vương vây hãm bèn phá hủy tháp để lấy đá làm vật liệu chống cự, năm 1414. Nền tháp còn to rộng như cả một quả đồi, có thời dùng làm nơi họp chợ, đến năm Giáp dần (1791) khi rỡ ra để lấy gạch đá xây thành còn “ thấy tám pho tượng Kim cương, chia đứng trấn bốn cửa, những tượng người tiên, chim muông cho đến những giường ghế chén bát không kể xiết đều bằng đá cả. Những hòn gạch hoa hòn nào cũng khắc những chữ “Lý gia tam đế, Long thụy Thái bình tứ niên tạo”. (1)
THÁP CHÙA DIÊN HỰU và ĐỌI SƠN
 
            Năm Long phù thứ năm (1105) vua Lý Nhân Tôn cũng cho xây trước chùa Diên hựu (chùa Một cột) hai ngọn tháp sứ trắng. Nay đào tìm trong đất chùa còn nhặt được những hòn gạch nguyên lành bằng đất trắng, cạnh chạm rồng và hoa lá, nét sắc sảo tinh vi, tất cả đều phủ men trắng. Năm thứ chín Hội tường Đại khánh (1118) vua dựng trên núi Long đội (nay thuộc tỉnh Hà nam) ngọn Sùng thiện Duyên linh bảo tháp. Sự tích tháp như sau :
______________________
(1) Tùng niên. Tang thương ngẫu lục : Tháp Báo thiên.
SỰ TÍCH CHÙA ĐỌI SƠN (1)
            “Ngày tháng năm, năm thứ chin đời Hội tưởng Đại khánh (1118) vua thứ tư nhà Lý, thủa bấy giờ thiên hạ thái bình, vua ngự thuyền đi chơi, xuống qua làng Đội sơn, trông thấy núi mọc chìa ra bờ sông, hình đá lởm chởm, mà trên núi lại phẳng phắn, mới sai đậu thuyền ở đó, đòi các quan theo hầu lại mà hỏi rằng: “Trẫm muốn làm chùa ở đây, các quan nghĩ thế nào ?” Các quan tâu rằng : “núi này ngày xưa có một ông tu hành đắc đạo, rồi thiêu mình để thành Phật, người ta lấy xương để vào một cái hòm mà thờ trong cái chùa ở núi ấy; nay hoàng đế có lòng làm phúc mở rộng lớn ra, xin đặt tên cho cái núi này là núi Long đội”.
            Vua lấy làm bằng lòng. Lúc ấy mới khởi công làm, sai người xem hướng, trước mặt trông xuống sông Kinh, lúc im gió thì nước phẳng như tấm lụa biếc, sau lưng dựa vào núi Điệp; khi tạnh mua thời đá xanh như mầu chàm, bên tả gần đồng bằng, bên hữu có nước chảy. Mà những người thợ hết lòng dâng cách khéo, dân cố sức đến làm việc công, chạm đá làm cột, xây nên cái tháp ba từng cao ngất trời, mở ra bốn mươi cửa thông gió, (2) vách chạm ổ rồng, cột treo nhạc vàng; trên ngọn làm một người tiên bưng cái mâm hứng sương từng trên lá chỗ để cái hòm đựng sương, từng dưới làm tám ông cầm gươm, từng giữa làm một ông Phật Như lai, dựng cờ phướng, cắm lộng vàng ; thềm với sân có từng bậc lên xuống hai bên tả hữu có nhà hành lang.
_____________________________
(1) Trích Recueil de texts nouveaux… par A. Cheon Hanoi. Impreme-rie F.H. Schneider 1903. Bài này không ghi xuất xứ từ đâu ra. Có lẽ là một bài dịch văn bia chùa.
(2) Tháp Ba tầng, 40 cửa ! Ở đây có sự ghi nhầm số tầng hoặc số cửa chăng ?
Vã lại bực thềm thử hai, thời bên tả làm một cái nhà vuông cao, có hai con rồng nằm chầu, có tám ông tướn đứng hầu, bên hữu là nhà để khám thờ Phật, bực dưới nữa thời làm cái gác cao. Ở đàng trước, treo một cái chuông đồng, và buộc một cái rùi lớn xây tường chung quanh, mở hiên bốn mặt, bắc cầu làm đường, trồng thông hai dẫy, riêng một bầu giới, mở ra cõi Phật, để cầu nguyện cho nhà nước lâu dài, đức vua tràng thọ.
Tính từ lúc khởi công là năm thứ 9 đời Hội tường Đại khánh đến năm thứ hai đời Thiên phù Duệ vũ (1121) mới xong, vua đặt tên cái tháp rằng : Sùng thiện duyên linh bảo tháp, nghĩa là cái tháp quý để làm sự lành cầu sống lâu.
Khi đã làm xong rồi, mới mở hội thời quân quan chật đường, ngựa xe như nước, khói hương quanh cả núi khe giống khí mù, cờ phướn khắp cả đường xá như giáng đỏ, tiếng chuông tiếng trống tựa sấm vang, tiếng khánh tiếng mõ hình nước réo. Các bà trong cung kéo ra, các người bốn phương họp lại; trước cửa thời bầy trò chơi, trong chùa thì bầy đàn chay, hội các sư lại mà tụng kinh cúng Phật, và phát gạo cho kẻ đói, ban tiền cho người nghèo, các bách thần ở trên thiên đình và dưới thủy phủ điều giáng hạ, cùng những người ở dương gian với hồn âm phủ cũng lai lâm. Cho nên Tiên Phật độ trì, giời đất phù hộ được mọi sự, lâu ngôi trị nước sớm đẻ con trai, họ hàng thịnh vượng, xã tắc lâu dài, các đứng tiên hoàng khi ngự cõi tiên điều lên đất Phật, các ông hoàng thân đều khiêm nhượng cấy cấy được mùa muôn dân giàu thịnh, trong cõi yên lành, ngoài biên không có giặc cướp, trong nước không có rối loạn. Lớp ấy các quan có làm bài văn để khắc vào cái bia ở chùa ấy, bà Thái hậu cúng vào chùa 72 mẫu ruộng, có chỉ tha
thuế cả. Đến sau phải giặc Minh tàn phá, phong cảnh không được như trước. Qua năm Tân mão nhà Mạc các quan và các làng sở tại đấy mới chữa nhà bia và cửa với tường lại. Năm thứ hai đời vua Cảnh Hưng nhà Lê, ông tổ sư đời thứ nhất ở chùa ấy làm gác chuông, các động thập điện, nhà tiền đường, nhà tổ, nhà hậu, va đúc thêm một quả chuông nữa, cùng tô ông Phất Tứ Phủ, Phật Di Đà, Phật Quan Âm, Phật Di Lặc, 18 tượng La Hán”. Sauk hi tháp bị quân Minh phá năm 1413 nay còn lại tám ông Kim cương “cầm gươm” giống kiểu tượng Kim cương tìm thấy ở nền chùa Phật tích (Bắc ninh).
THÁP BÌNH SƠN
 
            Nhà Lý dựng nhiều bảo tháp, hầu hết bị rỡ phá nay rất may mắn mà còn lại một cây tương đối toàn vẹn gọi là tháp Then tại chùa Vĩnh khánh, làng Bình sơn, huyện Lập thạch, tỉnh Vĩnh yên, bởi vì vị trí hẻo lánh của vùng này.
            Tháp xây vuông toàn bằng gạch nung gia, màu đỏ xẫm. Chiều cao nay còn ngót 15m, chân rộng dư 4m, ngọn thu lại còn 2m. Lòng tháp trống rỗng, thông suốt từ nền đến ngọn, nhưng mặt ngoài tháp chia làm 11 tầng đứng trên hai cấp bệ và một tòa sen. Bệ dưới đơn giản nhưng cũng có một hàng gạch cao 12 phân, trạm thành một đường lá cúc uốn đi uốn lại mềm mại, sắc sảo. Đoạn đến phần bệ cổ đẳng (1) thân chia ra thành những ô dài, chạm sư tử hí cầu khá linh hoạt. Bên trên là đường lợi chuông và đường gờ mặt bệ trạm hạt ngọc bầu dục viền cánh hoa. Trên bệ là tòa sen gồm ba từng cánh sen to nổi, từng dưới úp sấp, hai tầng trên lật ngửa, cách nhau bằng một nẹp ống như bó chắc lấy tòa sen.
            Từ đây trở lên là thân tháp, bắt đầu bằng tầng thứ nhất, tầng này cao 3m, quan trọng hơn cả, mỗi mặt có một khuông cửa
chữ nhật chém cạnh hai góc trên. Chỉ có cửa phía tây bỏ ngỏ, còn cửa ba phía bít kín. Trên mỗi khuôn cửa có đắp “trương tai” (lá nhĩ) kiểu độc đáo vừa dẻo vừa mạnh trang trí bằng hình hoa lá và hạt ngọc viền cánh hoa.
            Mỗi bên cửa có 3 ô chữ nhật đứng, viền cánh sen, trong mỗi ô có ba vòng tròn, trong trạm rồng uốn khúc rất uyển chuyển. Trên hàng ô chữ nhật và cửa là một vòng đai đỡ hai tầng “con sơn chồng đấu” chạc ba phỏng theo kiểu kiến trúc Trung hoa. Khoảng giữa những bộ chồng đấu điểm một hình lá sòi có lá cuốn trong lòng. Hàng “con sơn” đỡ năm hàng gạch xây nhô ra thành một tầng mái. Trên mái nầy là bệ của tầng nhì có một hàng cánh sen lật ngữa đỡ thân tháp. Tầng này trở lên các tầng trên thân ngắn hẳn đi, đều có ở mỗi mặt một khuôn cửa sổ tò vò nhưng đều bít kín, mỗi bên cửa chạm bốn ô chữ nhật viền cánh sen, trong lòng in hình một cây tháp nổi, ba tầng rất tỉ mỉ. Phía trên cũng có một hàng con sơn chồng đấu nhưng thanh nhỏ dần và khoảng cách giữa hai bộ con sơn cũng điểm hình lá sòi. Trên hàng con sơn là tiếp ngay tầng mái gạch. Tầng mái này như các tầng trên cũng gồm nhiều gờ gạch xây trồi ra nhưng tới gờ trên cùng dùng làm diềm mái thì trạm trổ nhiều bằng những hình hoa cuốn bẻ ra hai mặt.
            Các tầng trên cứ tiếp tục nhắc lại như vậy nhưng thấp nhỏ dần đến tầng thứ 11 này là tầng cuối thì chỉ còn cao 1m,20 vài diềm mái còn rộng non 2m. Chóp tháp xưa như thế nào, nay không được biết vì đã đổ từ lâu. Tại chân tháp người ta có nhặt được những miếng ngói âm dương kiểu ống trúc mà ở trên những hòn ngói úp, gần nơi đầu diềm có gắn những cái mào trang trí hình lá bồ đề. Kiểu này không hề thấy trang trí trên những mái Trung hoa, nhưng có thể thấy trang trí trên
những mái đền chùa của các xứ Đông Nam Á thuộc văn hóa Ấn độ.
            Ngoài ra điều đáng để ý là tháp xây bằng nhiều khổ gạch khác nhau vì gạch xây để trần không tô hồ, cần đáp ứng theo những thành phần kiến trúc và đề tài trang trí nên chỗ đai, gờ, diềm, gạch phô cạnh mỏng, trái lại tại thân tháp, cần những nền phẳng cho những hình chạm rộng lớn hơn nên người xưa đã gắn những phiến gạch hoa lên mặt tường tháp xây gạch thường. Đây là điểm kỹ thuật đặc biệt của tháp. Tháp tuy cũng chịu ảnh hưởng của kiến trúc Chàm về ý niệm xây cất bằng gạch để trần như các tháp khác đời Lý nhưng lại khác tháp Chàm về điểm các tháp Chàm mặt xây gạch đều cỡ rồi điêu khắc, trực tiếp ngay vào. Tháp Bình sơn đã có những phiến gạch điêu khắc, hoặc dập khuôn trước rồi mới đem sắp ghép lại gắn vào thân tháp bằng những cái móc tương truyền làm bằng chì mà nay còn thấy những lổ chân hổng. (1)
            Ý niệm dựng tháp và hình dung phỏng theo Trung hoa cũng như một số đề tài trang trí như con sơn chồng đấu, tượng Kim cương, con rồng, nhưng không phải vì thế mà tháp không có những đường nét uy nghi gợi cảm riêng với những gờ, đai, thân, bệ, chỗ nhô ra, chỗ dật vào cắt chiều cao dài của tháp thành những tầng đoạn rất cân xứng, tháp được trang trí vừa chừng mực, vừa phong phú, vừa đượm vẻ mỹ thuật điêu khắc Chàm. Tóm lại kiến trúc sư nghệ sĩ xây tháp đã tỏ ra có một khiếu thẩm mỹ tinh tế, có cân nhắc, suy tính kỹ càng, trong tác phẩm này tượng trưng cho sự phối hợp hai nguồn văn hóa chính là Trung hoa và Chiêm thành để tạo ra một sắc thái văn hóa Việt nam tồn tại cho đến cuối đời Trần, Hồ.
_____________________
(1) Cơ đẳng : Phần thụt vào như các bàn, đẳng án xưa, dưới  mặt và trên thân hoặc chân bàn.
Cách Bình sơn 10km người ta tìm thấy ở Kim tôn một di tích tháp bằng gạch kiến trúc và điêu khắc tương tự như tháp Bình sơn và ở các nơi khác như Đa giá (Ninh bình), chùa Đọi (Hà nam), chùa Phả lại (Bắc ninh), chùa Cói (Vĩnh yên)… những vật hạng kiến trúc mà ngoài đề tài điêu khắc, trang hoàng kể trên còn có những hình hoa cúc, hoa sen nhìn ếch nằm gọn trong lòng cành lá cúc mốc (1) cuộn tròn những vân dây leo lá cuốn uốn éo vòng đi vòng lại, những đồng tử múa may, những chim thần Garuda (ảnh hưởng Chàm) tất cả đều có vẻ sinh động, nồng nhiệt đặc biệt của một thời đại huy hoàng.
CHÙA MỘT CỘT
            Di tích còn lại từ triều Lý nổi danh nhất ngày nay là chùa Một cột có tên chữ là Nhất trụ tự hay Liên hoa đài. Sự tích đã nói ở đoạn trên “Nhà Lý bồi đắp Phật giáo” (2) ngoài ra còn có vài thuyết nói khác nhau ít nhiều. Ngôi chùa này không phải nguyên vẹn từ năm 1049 triều vua Lý Thái Tôn. Thành phần mà ta có thể tin được là nguyên vẹn từ triều này thì chỉ có cây cột đá gồm hai khúc tròn chồng khớp nhau đường kính 1m,20 đội tòa chùa bên trên như thể một cái cuống đưa đóa hoa sen nổi trên mặt một hồ nước vuông nhỏ mỗi bề rộng khoảng 16m. Tòa chùa đã sửa đi chữa lại nhiều lần, đại lược suốt các triều đại và vào những năm 1101, 1105, 1838, 1864, 1912, 1955. Hồ nước cũng thay hình đổi dạng, còn tường rào hoa bao quanh mới xây khoảng năm 1923. Cầu thang mới xây vào khoảng đầu thế kỷ này. Kiểu thức như ngày nay được thấy có thể cho là gần đời Hậu Lê hơn là thời Lý vì những ngói lợp, vì những hình đắp trên mái và cả những nét chạm trổ trên bộ giàn trò (sườn nhà). Tuy nhiên tám bộ xóc nách (con sơn) to mập bằng gỗ, tỳ vào thân trụ đá để đỡ một tòa chùa vuông vức mỗi cạnh sàn đo
_____________________
 (1) Hình lá giống như những dấu phẩy, móc nét mập mạp.
(2) Xem Kiến Trúc Phật Giáo Việt nam tập I. Nguyễn Bá Lăng. Tu Thư Đại học Vạn Hạnh. Saigon 1972, trang 60 66.
được 4m,20 có hành lang cùng bao lan con tiện chạy quanh bốn phía cung thờ Phật Quan Âm, dưới bốn mái góc đao vương cong tạo thành một hình khối đẹp, một sáng tác kiến trúc độc đáo, nên chùa Nhất trụ vẫn xứng đáng nổi danh và được coi là vật tiêu biểu cho nét đặc thù của kiến trúc Việt nam.
CÁC TÒA PHẠM VŨ
            Nhà Lý xây cất nhiều chùa chiền, nhưng hầu hết đã bị biến đổi trong những thành phần trang trí, kiểu thức và cả cơ cấu kiến trúc bởi vậy nên khó mà có thể nói rằng có những kiến trúc, bằng gỗ còn được giữ nguyên trạng từ triều Lý. Tuy nhiên có những di tích sau đây còn những nét kiến trúc, điêu khắc trang hoàng khác với các thời sau đó là : tòa Thượng điện chùa Cả tại Sài sơn (tỉnh Sơn tây), tòa chính điện chùa Thành đạo (chùa Đậu) tại phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông), gác chuông chùa Keo tại làng Dũng nghĩa (huyện Giao thủy, tỉnh Thái bình).
-Tòa Thượng điện chùa Cả (chùa Thầy) là một kiến trúc đơn giản mà hùng mạnh. Trông bên ngoài là một tòa mái rộng ngói to dầy chụp lên bốn mặt hiên thấp đứng trên một nền bệ đất cao. Bên trong là một bộ sườn nhà cao lớn với những cột to kèo mập đội một mái nhà một gian hai chái nhưng to rộng khác thường. Cột kè chạm trổ đơn giản nhưng những vách gỗ bộc chung quanh cấu tạo theo kiểu nong đố dầy chắc. Chân đố có chạm hai giải hoa lá và cánh sen trổ thủng nét dẻo mạnh phảng phất kiểu thức Chàm và ở giữa mỗi mặt vách sườn trổ ô cửa thông gió trang trí bằng hình một ổ rồng ngang vùng vẫy giữa đám hoa lá, và có lân chầu phượng múa nét trạm trổ trông rất hùng hoạt.
Tại tòa Thượng điện này có một chi tiết đáng cho ta chú ý nhất là cái tầu đạo tức là cái đòn tay (hoành) hình chữ nhật đứng nghiêng ở gần sát diềm mái và uốn cong lên ở các góc
mái như lưỡi đao tạo thành đặc điểm của kiến trúc cổ truyền tại miền Bắc Việt nam, chưa thấy xuất hiện ở đây những cái đòn tay (hoành) cuối cùng gần diềm mái đáng lẽ làm tròn như những hàng trên thì ở đây cũng đã xẻ thành hình chữ nhật để đứng nghiêng và hơi hớt cong nơi góc mái, cho ta thấy rõ là cái tầu dao mới đang trên lịch trình hình thành.
            Tại tòa chính điện kiểu chữ công ở chùa Thành đạo (chùa Đậu) tỉnh Hà đông, ngói trên mái còn to dầy hơn cả ở chùa Thầy. Vách điện cũng làm theo kỹ htua6t5 ván nong đổ đầy đặn và trang hoàng rất hoa mỹ. Chính giữa vách trổ những ô cửa chạm rồng phụng, tứ linh, rất giống ở thượng điện chùa Thầy cùng những hình đồng tử hai tay dâng từng chữ “thánh thọ (vô cương ?)” Ngoài ra cột có chạm những ổ rồng theo chiều cao và trên những trương cửa chạm người tiên, điều rất linh hoạt, tinh xảo. Vì vậy nên trước đây chùa Đậu được coi là nơi có những tác phẩm điêu khắc trên mặt gỗ đẹp khéo vào hàng nhất Việt nam.
            Chùa Keo tên chữ là Thần quang tự, làng Dũng nghĩa, huyện Giao thủy (tỉnh Thái bình) là cảnh chùa do thiền sư Nguyễn Minh Không tức Không Lộ lập ra từ khoảng đầu thế kỷ XII. Chùa nguyên dựng ở ngay trên bờ sông Nhĩ hà, nên bị nước sói lở dần. Trước khi chùa bị đe dọa trôi đổ hết về triều Hậu Lê thì Thượng quận công Nguyễn Quyên nằm mơ thấy một thiền sư ra lệnh cho dựng lại chùa. Quận công bèn dâng cúng vườn đất để di chùa đến vị trí ngày nay rồi nhờ có nhiều công đức đóng góp nên chùa được khánh thành vào năm 1608. Chùa được tu sửa cho đẹp thêm vào năm 1630. Bia công đức bấy giờ có ghi chùa có 21 tòa nhà gồm 154 gian. Năm 1671 trùng tu 13 tòa, năm 1698 đúc quả hồng chung (chuông) lớn. Năm 1707 các nền nhà được lát gạch thêm bó đá sang trọng. Rồi những năm 1786, năm 1854, năm 1895 v.v. đều có sửa sang.
Năm 1936 Viễn đông bác cổ có rỡ gác chuông ra để trùng tu lại (1).
            Gác chuông này là một tác phẩm kiến trúc Việt nam nguy nga, tráng lệ nổi tiếng. Đối với toàn thể quy mô chùa bố trí theo chiều sâu của bình đồ chữ nhật thì gác chuông đứng trấn trên dãy hành lang, đáy lưng chùa và sếp hàng trên đường tim của qui mô chùa sau những nếp tiền đường, thượng điện, Phật điện, điện thánh có hồi lang vây bọc tứ phía.
            Gác chuông bình đồ vuông, nền bệ mỗi cạnh đo được non 9m, gồm ba tầng cao 12m kể cả nền. Kiến trúc toàn bằng gỗ chồng chất, ghép mộng và theo phương pháp chồng đấu như của Trung hoa. Điểm này làm cho ta có thể tin được rằng gác chuông này là di vật của đời Lý hoặc cái chi tiết kiên trúc chồng đấu phổ thông dưới triều đại này vẫn còn được bảo thủ tại đây.
            Những chùa tả trên được coi là di tích đời Lý căn cứ theo văn sử liệu và kiến trúc, tuy nhiên về kiểu thức thì vẫn chưa thể hoàn toàn xác định được vì những nét trang hoàng đặc biệt của triều đại này thấy trên những gạch ngói, đồ đất nung không mấy giống những hình trang trí trên mặt gỗ. Chẳng hạn cùng là kiều rồng nhưng rồng khắc trên mặt gạch hay trên mặt đá là kiểu rồng mình rắn, đầu hải quái (makara) mà rồng chạm trên mặt gỗ thì ưa hình dung kiểu rồng ngang (2) mình to mập hơn và có xu hướng đi gần đến kiểu rồng thời Lê. Những đề tài trang trí trên vách tường, trên mái đời Lý có thể hình dung xác đáng bằng những vật liệu trang trí kiến trúc tìm thấy ở miền ngoại ô phía Tây Hà nội mà các nhà học giả của trường Viễn đông bác cổ mệnh danh là nghệ thuật Đại la. Nghệ thuật này có cái nét độc đáo là phối hợp những đề tài
_________________
(1) J.Y. Claeys : Fètes nautiques Amamites. Cahiers de I’EFEO 1937.
(2) Rồng phô toàn thể mặt.
trang trí Trung hoa với đề tài Ấn độ thực hiện theo một kiểu thức vừa hoa mỹ vừa nồng nhiệt như tại các di tích Chàm. Những vật này có lắm cái lúc mới đầu không rõ dùng để trang trí vào nơi nào, sau nhờ việc phát hiện ra những ngọn tháp như tháp Bình sơn mới rõ được công dụng. Ấy là những vật liệu dùng để lợp và gắn trên mái nhà như những mảnh ngói ống có tráng men xanh, lục, vàng hoặc không men, đầu ngói tròn có trang trí một hình hoa sen hoặc ổ rồng mình rắn, những con phụng con vịt có mào lớn, chon chim có mỏ chim ưng, ngậm một dây hoa. Những cái mào đất nung hình lá bồ đề bên trong chạm lưỡng long dỡn châu hoặc song phục dỡn ngọc.
            Những vật liệu trang trí dùng để xây gắng trên tường hay để lát sán, bó thềm thì có những hòn gạch chạm những vân lá cuốn, sóng gợn, những phiến gạch vuông mặt chạm ổ rồng hoặc hoa sen hoa thị, những dây hoa lá cuốn đôi khi phối hợp với những đường cong, vòn tròn trông rất hoa mỹ.
            Nói chung thì nghệ thuật trang trí kiến trúc đời Lý rất rực rỡ nhưng trên những vật liệu bằng đất nung bằng đá thì có cái vẻ nồng nhiệt, còn trên những vật liệu bằng gỗ thì phóng túng bay bướm nhưng đề tài và kiểu thức không hoàn toàn giống nhau phải chăng vì những vật liệu khác nhau mà theo sở trường thợ Chàm giúp việc làm đồ sành gạch, thợ Việt chuyên nghề đục trạm trang hoàng mặt gỗ hoặc hữu lý hơn là vì những sườn gỗ làm cách sau những cây tháp và những vật liệu đất nung cả một thời gian nên có những đường nét có thể nói là báo trước cho kiểu thức đời Trần. Tiêu biểu cho kiểu thức đời Trần về thế kỷ XIV là những ngôi đình làng ở Tây đằng (phủ Quốc oai, tỉnh Sơn tây) và những ngôi thượng điện chùa làng Dương liễu, chùa làng Quế dương (huyện Đan phượng, Hà đông), mà kiểu thức trang trí bên trong bộ sườn nhà rất giống với nếp thượng điện chùa Cối tại huyện Lập thạch, tỉnh Vĩnh yên. Chùa Cói có bộ dàn trò (sườn nhà) bằng gỗ mập mạp đục chạm
Trang trí trông rất xương kính và đủ cả từ cái vẻ khá cổ sơ đến cái nét tỉ mỉ diêm dúa như đồ kim hoàn. Đề tài cũng là hoa lá rồng phụng, ngựa, cọp, sư tử, nhưng có cả rồng ngang, đầu dư (1) cùng nhiều nếp sinh hoạt như cảnh đi săn, cảnh bái yết, những hình Văn Thù Bồ tát cưỡi thanh sư, những thiên nữ gẩy đàn, thổi sáo, những tiên, những thánh cưỡi rồng, cưỡi phụng, chẳng biết có phải vì vậy mà chùa này có tên là Thần tiên tự chăng ?
MÁI CONG
            Mái cong tại Việt nam xuất hiện từ bao giờ không rõ, còn ở Trung hoa, Nhật bản đến thế kỷ VII mới thấy hớt cong nhè nhẹ ở góc mái. Kỹ thuật làm mái của những xứ này theo phương pháp “trồng đấu tiếp dui” do đó diềm mái trong thanh nhẹ lại thường được trang hoàng chạm trổ, sơn vẽ hoa mỹ rực rỡ. Mái Việt nam làm cong theo phương pháp “tầu đao lá mái”. Tầu đao là cái đòn tay chữ nhật, bên trên có đính thêm một mảnh ván mỏng gọi là mái đỡ hàng ngói cuối cùng. Kiểu tầu đao còn gọi là chân tầu (tầu thực) để phân biệt với tầu hộp là cái đòn tay vuông không dùng để thực hiện những góc mái cong.
            Nhờ có những chân tầu lá mái mà những mái đao góc cong vút lợp ngói mũi hài dầy nặng đã chịu đựng mưa dầy gió giật của bao thế kỷ và khi dựng một bộ dàn trò và đặt một bộ tầu đao lên đầu những kẻ, bẩy là người ta thấy ngay cái hình dáng của tòa chùa dù lụp xụp nặng nề vẫn có những nét lượn cong vươn lên để điều hòa bằng một vẻ vững vàng hấp dẫn.
            Nhưng mái Việt nam vì làm theo kiến trúc kẻ chuyển, bẩy góc nên không xòe ra quá rộng như mái Trung hoa, Đại hàn, Nhật bản. Sở dĩ mái của những xứ này xòe ra rộng hơn vì làm theo phương pháp chồng đấu tiếp rui và cũng làm võng xuống theo đường dốc mái còn dốc mái Việt nam thì làm thẳng băng.
 
NGUYỄN BÁ LĂNG
______________________
(1). Đoạn gỗ đỡ câu đầu (quá giang) có chạm soi hình đầu rồng.
Nhà xuất bản LÁ BỐI
Lô O số 121 Chung cư Minh Mạng Saigon 10
Giám đốc sáng lập : Nhất Hạnh
 
 
Mời đọc theo những tác phẩm mới :
 
NẺO VÀO THIỀN HỌC
của Nhất Hạnh
 
10 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ HÔM NAY
của Tạ Tỵ
 
VÔ MÔN QUAN
Của Thiền sư Vô Môn, Trần Tuấn Mẫn dịch
 
ĐỨC PHẬT GIỮA CHÚNG TA
của Bác sĩ Trần Ngọc Ninh
 
NÓI VỚI TUỔI HAI MƯƠI
của Nhất Hạnh (tái bản lần IV)
 
CHINH PHỤ NGÂM DIỂN ÂM TÂN KHÚC
Của Phan Huy Ích – Nguyễn Văn Xuân phát giác
 
 
Mua sách tại LÁ BỐI được trừ hoa hồng. Luôn luôn bán các sách của các nhà xuất bản uy tín. Nhận gửi sách cho bạn đọc qua bưu điện. Xin hỏi thư mục, nhớ kèm tem. Thư đề Ông Võ Thắng Tiết.
/5
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »