TRI BẢN: PHƯƠNG PHÁP HỌC HỎI THEO ĐẠI HỌC VÀ TRUNG DUNG
Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thúy
(Đại Học)
Sinh hồ kim chi thế, phán cố chi đạo; như thử già, tai cập kỳ thần già dã.
(Trung Dung)
PHƯƠNG PHÁP HỌC HỎI
Khi đề cập đến Khổng học, phần đông những người thế hệ mới có phản ứng không tốt hoặc vì từ nhỏ đến lớn theo học trường Tây và chương trình Tây, hoặc vì gia đình theo Tây không ai biết gì về Nho học nên không thể nhắc nhở con cháu, hoặc vì thiếu óc tò mò không tìm tòi nghiên cứu gốc tích văn hóa xã hội Việt Nam. Vì vậy, nếu họ nghe nói rằng tinh thần khoa học không phải Âu Mỹ mới có, mà trong Khổng học đã có rồi, chắc họ sẽ nghi ngờ, hoặc cho đó là nói đùa. Họ sẽ nói: «Các ông đồ Nho mà khoa học gì!Lối học Nho là học từ chương, hủ bại; nếu không tại sao ta mất nước?». Nói như vậy là đúng, nhưng đó là buộc tội những nhà nguy nho hay hương nho, chớ không phải buộc tội tư tưởng Khổng học, vì tư tưởng Khổng học là một tư tưởng rất khoa học. Chỉ vì xứsở ta quá nhiều ngụy
nho nên xã hội Việt Nam đứng một chỗ trong khi các nước Âu Mỹ tiến rất mau, và khi sự va chạm giữa ta và họ xảy ra trong thế kỷ XIX ta bị họ đánh bại và đô hộ.Ai có một trình độ văn hóa trung bình cũng biết thế nào là tinh thần khoa học. Khoa học là quan sát, phân tách, suy luận tường tận và trình bày minh bạch những sự kiện quan sát, vạch rõ đâu là nguyên do đâu là hậu quả, đặt sự kiện nào trước sự kiện nào sau theo một hệ thống duyên quả rõ ràng. Định nghĩa khoa học như vậy thì tinh thần và phương pháp khoa học không phải là một độc quyền của Âu Mỹ, mà ta đã có từ xưa. Tất nhiên có và áp dụng là hai việc khác nhau. Có mà không áp dụng cũng vô ích và không đưa nước nhà đi tới bước nào. Nhưng đó cũng, không phải độc quyền của giới Nho học. Từ hơn nửa thể kỷ nay, thế hệ theo Tây học cũng không đưa nước nhà đến bao nhiêu, tuy họ đủ cơ hội học hỏi theo tinh thần khoa học Âu Mỹ. Như vậy, giữa họ và ngụy nho có khác gì đâu? Nói cho đúng, họ là những người mà ta có thể gọi là «ngụy tây», cũng tù chương không kém gì mấy ông ngụy nho: họ là những người kỹ sư không chế ra được một cái máy cày rẻ tiền cho nông dân Việt Nam tăng năng xuất của ruộng; họ là những người không chế được một cái máy bơm, máy điện nhỏ cho đại chúng Việt Nam dùng;họ là những người lặp đi lặp lại một số danh từ như «dân chủ», «tự do», «bình đẳng», «phân quyền», không đưa ra được một tư tưởng gì mới và độc đáo Việt Nam và hiệu nghiêm.
Nghĩ kỹ ra, thế hệ ngày nay còn có lỗi hơn các thế hệ xưa, vì các thế hệ xưa sống trong một thời mà khoa học kỹ thuật chưa được phát triển và phổ biến dễ dàng, như ngày nay. Nói vậy để đánh tan mặc cảm tự kiêu của
những người «mới» đối với người xưa. Và cũng là dịp để họ kiểm điểm lại văn học tư tưởng truyền thống của ta.
Một điểm thứ hai còn đề cập tới là ngoài vấn đề khoa học, nay ta còn phải đặt vấn đề chính trị, xã hội, và nhất là đạo lý (nghĩa là giáo dục,) vì càng ngày có lẽ càng nhiều người thấy rõ rằng sự lụn bại, sụp đổ của xã hội Việt Nam ngày nay nguyên do chính không phải vì thiếu khoa học và kỹ thuật - vì đã cóHoa Kỳ và nhiều nước khác cung cấp cho ta đủ các loại máy móc dụng cụ và khí giới tối tân, - mà vì xã hội ta ngày nay đang, hay đã, mất ý niệm đâu là gốc, đâu là ngọn, cái gì cần đặt trước, cái gì cần đặt sau. Và chính đây là một vấn đề được đặt ra rất rõ ràng trong tư tưởng Khổng giáo, nhất là trong hai quyển Đại Học và Trung Dung. Vì vậy tôi đề nghị ai là người ưu tư về chỉnh đốn lại xã hội và quốc gia cùng tôi đọc lại hai quyển sách nhỏ đó, nhưng không theo cách học của ngụy nho hay ngụy tây, mà theo tinh thần khoa học.
Đại Học và Trung Dung là hai quyển sách soạn ra với mục đích dạy những người có trách nhiệm hay tham vọng lãnh đạo quốc gia biết điều kiện của thành công là tri bản,nghĩa là phải biết cái gì quan trọng hơn hết thảy, gốc nằm ở đâu. Và cái gốc đó là tu thân và chí thành. Tu thân là đề tài của Đại Học và Chí thành là đề tài của Trung Dung. Mục đích của tu thân cũng như chí thành là đào tạo người quân tử, người có đủ tư cách để lãnh đạo quốc gia xã hội.
Trước khi đi sâu nào nội dung của hai quyển sách đó tưởng cũng nên đề cập đến vấn đề định chế và người. Từ Rousseau trở đi,tư tưởng chính trị chấp nhận thuyểt cảitổ xã hội cần cải tổ định chế, người tốt hay xấu tùy định
Chế hay hay dở. Do đó các quốc gia Tây phương đua nhau thay đổi hiến pháp : hết hiến pháp này đến hiến pháp khác, hết loại quốc hội kiểu này đến quốc hội kiểu khác, suốt hơn 150 năm. Hiện phong trào đó cũng chưa chấm dứt. Tiếp theo Rousseau, Marx lại đẩy mạnh thêm phong trào đó, nhưng ngoài các định chế chính trị, Marx lại cổ võ phải xáo trộn luôn các định chế kinh tế. Phong trào đó hiện đang còn rất mạnh, tuy người ta đã bắt đầu nhận thấy sự việc không giản dị như vậy. Ngay cả Nga Sô là quốc gia đầu tiên áp dụng thuyết của Marx, cũng phải chấp nhận rằng không thể hoàn toàn phủ nhận vai trò của con người.
Tư tưởng của Rousseau và Marx tất nhiên cũng được nhập cảng vào Việt Nam qua các chánh trị gia, và Việt Nam, cũng như nhiều nước mới độc lập khác, đã lăn mình vào công cuộc cải tổ : nay thảo hiến pháp này, mai thảo hiến chương nọ, phế lập quốc hội, hội đồng này viện khác, mà rốt cuộc ta chỉ thấy quốc gia Việt Nam càng ngày càng tan rã suy sụp, xã hội càng ngày càng rối tung. Nhưng cho tới nay, rất ít ai nhận thức đuợc sai lầm ở đâu, cứ tiếp tục đặt vấn đề chính trị trên căn bản chính trị. Như vậy là lộn ngọn với gốc, mạt với bản. Như Không Tử nói : bản mà loạn mà mạt trị là không thể có được.
Khi một quốc gia lâm vào cảnh loạn, như Việt Nam ngày nay, nguyên do căn bản không phải chính trị dở, chính phủ và chính trị gia bất tài, các định chế- chính trị, kinh tế, xã hội - không hoàn mỹ, mà vì quốc gia và xã hội bị lung lay ngay trong gốc. Cái gốc đó là đạo lý. Khổng Tử tóm tắt vấn đề vào một chữ : đức. Người ta đua nhau thi thố tài năng, khôn khéo, xảo quyệt, mà quên một điều kiện căn bản, là đức. Mà đức thuộc lãnh vực giáo dục,
nghĩa là vấn đề căn bản của Việt Nam hiện tại, cũng như từ mấy chục năm qua, không phải là vấn đề chính trị, kinh tế hay xã hội, mà là vấn đề giáo dục. Giáo dục đây phải hiểu đúng nghĩa của nó, là dục và giáo, nuôi dưỡng và dạy dỗ, chớ không phải chỉ luyện trí và huấn nghiệp, không phải instructionmà là éducation,không phải trainingmà là education.Vì vậy mà cha ông ta đã đặt thầy trên cha (quân, sư, phụ) : cha là người nuôi (dưỡng), nhưng thầy là người dạy dỗ (giáo). Cho nên dạy ít nhiều gì cũng là thầy : nhất tự vi sư, bán tự vi sư.
Từ ngày ta bỏ hệ thống Nho học để theo hệ thống Pháp học (và nay là Mỹ học) thì vấn đề giáo không phải là mốiquan tâm lớn của các giới hữu trách nữa. Hữu trách đây không những chỉ có chánh quyền, mà gồm cả gia đình và dư luận nữa. Và tình trạng nầy cũng một phần do sự đòi hỏidân chủ mà có : đã gọi là dân chủ, thì không có ai có quyền ép buộc ai theo một hệ thống giá trị nào cả. Mà giáo là dạycho con em một số giá trị nào đó. về điểm này tất nhiên Tây phương làm sao ta làm vậy, vì hệ thống giáo dục của ta theo khuôn mẫu của Tây phương.
Vậy, đặt vấn đề giáo dục là đặt vấn đề căn bản của sự cải tổ xã hội Việt Nam, là lo chuyện gốc, là tri bản. Nghĩa là muốn cải tổ quốc gia Việt Nam, ta phải đặt vấn đề cải tồ xã hội Việt Nam, và muốn đặt vấn đề cải tổ xã hội Việt Nam, ta phải đặt vấn đề giáo dục con người Việt Nam.
Vấn đề tri bản được Khổng Tử đặt rất rõ ràng theo một phương pháp rõ ràng. Phương pháp đó như sau. Trước hết ta phải ý thức rõ ràng rằng mọi vật có gốc có ngọn, mọi việc có trước có sau, và ta phải biết đâu là gốc đâu là ngọn,
đâu là trước, đâu là sau : Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hy (Đại Học). Muốn biết rõ (chi tri) ta phải cách vật, nghĩa là phải phân tách tỷ mỷ. Nguyên tắc đó được áp dụng vào việc chính trị trong sách Đại Học.
Sách Trung Dung lại dành riêng một phần quan trọng trong chương XXIII để bàn về phương pháp học hỏi. Trước hết sách đặt vấn đề biết (tri). Có ba cách biết: 1) sinh ra đã biết (sinh nhi tri), là cái biết của bậc thượng tri, 2) học mà biết (học nhi tri), là cái biết của bậc thứ, 3) chịu khốn khổ, nhờ kinh nghiệm mà biết (khốn nhi tri), là cái biết của những người không được may mắn học thầy. Nhưng khi đã biết, thì đều giống nhau, nghĩa là chỉ kết quả là quan trọng. Muốn đạt kết quả cần cố gắng, người ta cố gắng một thì mình cố gắng một trăm, mà người ta cố gắng mười thì mình cố gắng một ngàn lần.
Về cách học hỏi, người học phải học rộng (bác học), hỏi cho kỹ càng (thẩm vấn), nghĩ cho cẩn thận (thận tư), biện luận cho rõ ràng (minh biện), và sẵn sàng cố tâm thực hành điều mình biết (đốc hành). Nhưng đã học, thì phải học cho giỏi, chưa giỏi chưa chịu thôi ; không hỏi thì thôi, đã hỏi phải cho biết, chưa biết thì không chịu thôi; không nghĩ thì thôi, đã nghĩ thì phải nghĩ cho ra, chưa ra thì chưa chịu thôi, không làm thì thôi, đã làm thì làm cho hết sức, chưa hết sức thì chưa chịu thôi.
« Hữu phất học : học chi phất năng, phất thố. Hữu phất văn ; vấn chi phất tri, phất thố dã. Hữu phất tư; tư chi phất đắc, phất thố dã. Hữu phất biện ; biện chi phất minh, phất thố dã. Hữu phất hành; hành chi phất dốc, phất thố dã. Nhân nhất năng chi, kỳ bách chi; nhân thập năng chi, kỷ thiên chi». (Trung Dung, chương XX)
Đã học thì mởtrí cho rộng, nhưng đồng thời xem xét sự vật cho tỷ mỉ(trí quảng đại nhi tận tinh vi), và đồng thời nhớ lại những cái mình biết để biết thêm điều mới (ôn cố nhi tri tán). Nhưng ôn cố không phải là ôm rì lấy những gì cũ kỹ hết hợp thời. Sinh ra thời này mà cứ làm theo lề lối xưa thì sẽ mang tai vạ vào thân: Sinh hồ kim chi thế, phản cố chi đạo: như thử giá, tai cập kỳ thân giả dã (Trung Dung, Chương XXVIII). Riêng về những gì liên hệ đến người ta, thì mình phải suy từ tâm mình ra mà biết như mẹ nuôi con thơ, đoán ý con, có sai thì chỉ sai ít mà thôi: như bảo xích tử, tâm thành cầu chi, tuy bất trùng, bất viễn (Đại Học). Phương pháp đó cũng gọi là hiệt củ: suy bụng ta ra bụng người, suy một việc ra trăm việc.
Học như trên là lối học mà Khồng Tử đã đưa ra. Như vậy nói rằng Khổng học là cổ hủ, lỗi thời, từ chương là hoàn toàn không hiểu gì về Khổng giáo vì không có nghiên cứu, như những người «tân học», hoặc có học thì không thấu tinh thần Khổng học, như một số Nho học đã được tặng cho cái tên rất đúng là ngụy nho hay hương nho. Tất nhiên Khổng Tử đề cập đến phương pháp khi nói đến Đại Học hay Trung Dung, nhưng qua những tác phẩm khác, ta biết rằng ông ấy đặt vấn đề chung cho việc học chớ không riêng gì cho Đại Học vềTrung Dung. Ví dụ Khổng Tử có nói rằng học mà không suy nghĩ thì mù mờ, nhưng suy nghĩ mà không học thì uổng công: Học nhi bất tư tấc võng, tư nhi bất học tắc đãi (Luận Ngữ)
Qua sự trình bày trênđây, ta thấy Khổng Tử đưa ra một phương pháp học hỏi rất khoa học. Bây giờ ta thử xem phương pháp được áp dụng trong vấn đề tri bản trong Đại
Học và Trung Dung thế nào.
TRI BẢN TRONG ĐẠI HỌC VÀ TRUNG DUNG
Một điều mà ta nhận thấy rõ ràng trong Khổng giáo là khi bàn về giáo dụcta không thấy Khổng Tử và môn đệ chú ý đến trẻ em, chỉ nói đến người lớn và nhất là những người giữ chức vụ quan trọng, hay sẽ giữ những chức vụ quan trọng, trong quốc gia. Trong tam cương (quân thần, phu phụ, phụ tử) có đề cập đến tử thì cũng chỉ người lớn hơn là con nít. Duyên do cùa sự kiện đó là quan niệm rằng xã hội quốc gia ổn định nếu bề trên đàng hoàng: người dưới nhìn lên người trên, và theo gương người trên. Thượng trị thì hạ sẽ trị, thượng loạn thì hạ sẽ loạn. Cho nên chỉ cần một người mà cả nước có thể yên: nhất nhân định quốc (Đại Học), và Khổng giáo chú tâm ởsự rèn luyện người quản tử là người có trách nhiệm định quốc.
Điểm thứ hai, và là điểm căn bản trong Đại Học là phải phân biệt điều gì là gốc (bản),điều gì là ngọn (mạt) trong một quốc gia. Trong một quốc gia có tài sản, đất đai, và dân. Ai cai trị quốc gia cũng cần phải có ba yếu tố đó. Nhưng gốc không phải ở đó, mà gốc ở nơi đạo lý, nơi đức. Giữa đức và tài, đức là gốc mà tài là ngọn, có đức thì thu phục được nhân tâm, mà thu phục được nhân tâm thì được nước (chính quyền), và ngược lại, không đức thì mất nhân tâm, mà mất nhân tâm thì mất nước: đắc chúng tất đắc quốc, thất chúng tất thất quốc. Mà đã có dân thì có đất, có đất thì có của, có của thì có dùng; nhưng bắt đầu là tại đức: Quân tử tiên thân hồ, hữu đức thử hữu nhân, hữu nhân thử hữu thổ, hữu thổthử hữu tài, hữu tài
thử dụng. Đức giả bản, tài giả mạt. Nếu người quân tử (Vua, Tổng Thống, Thủ Tưởng, và các người lãnh đạo nói chung) không tu đức, tức là để việc gốc ra ngoài, chỉ chăm chú tiền bạc, tức là để ngọn vào trong, thì sẽ sanh ra chuyện tranh dành nhau với dân mà thi hành việc ăn cướp. Cho nên tiền của tụ lại thì dân tan, mà tiền tan ra thì dân tụ hợp lại: Ngoại bản nội mạt, tranh dán thi đoạt; thị cố tài tụ tắc dân tán, tài tán tắc dân tụ. Nếu người quốc trưởng chỉ chăm chú vào tiền của; đó là do kẻ tiêu nhân xúi dục; nều người quốc trưởng nghe tiêu nhân là traa quyền cho tiểu nhân, giao cho kẻ đó trị quốc, thì tai hại sẽ phải đến, và dẫu có người hiền người giỏi bực nào cũng, không cứu vãn được tình thế. Cho nên cai trị nước không nên lấy tiền của làm lợi mà phải lấy nhân nghĩa (đức) làm lợi: Trưởng quốc gia nhi vụ tài dụng giả, tất tự tiểu nhân hĩ; bĩ vi thiện chi, tiểu nhân chi sử vi quốc gia, tai hại tịnh chi, tuy hữu thiện giả, diệc vô như chi hà hĩ. Thử vị quốc gia dĩ lợi vi lợi, dĩ nghĩa vi lợi dã. Sách Trung Dung cũng nói: Đại đức tất đắc kỳ vị, tất đắc kỳ lộc, tất đắc kỳ danh, tất đắc kỳ thọ,nghĩa là có đức lớn thì sẽ được địa vị (ngôi vua, chức quốc trưởng,), giàu sang, danh giá, và lâu dài (sẽ giữ được địa vị của mình lâu dài).
Nói tóm, mối ưu tư của nhà cai trị hiểu rõ chính trịbiết đâu là gốc đâu là ngọn, là lo việc đạo đức cho chính mình cũng như chung quanh mình trước, còn các vấn đề hiến pháp, chính sách, tổ chức là vấn đề thứ yếu. Chỉ lo tổ chức, chính sách, định chế, mà không lo vấn đề đạo đức, nghĩa là tự giáo dục mình và giáo dục quanh mình, là lo ngọn bỏ gốc. Vì vậy mà Đại Học đặt vấn đề minh đức vào hàng đầu của sự học hỏi của người quân tử (cai trị). La minh đức là tri bản
Nhưng muốn trau dồi cái đức của mình, thì phải tu thân. Mà vì vậy Đại Học cũng gọi tu thân là bản, và thúc đẩy mọi người, từ Vua (quốc trưởng) trở xuống, ai cũng phải lấy việc tu thân làm gốc: Tự thiên tử dĩ ư thứ dân, nhất thị giai tu thân vi bản.
Người quân tử (lãnh tụ) có hai vai trò: trưởng gia đình và trưởngquốc gia(vàlâmthời,chúatể thiên hạ). Tronghai vai trò đó, nếulàm trònđược vaitrò trưởng gia đìnhmới làm tròn được vai trò trưởng quốc gia. Mà muốn làm tròn được vai trò trưởng gia đình thì chính mình phải tu thân trước đã. Không tu thân thì không cai trị gia đình được: Thân bất tu, bất khả tề kỳ gia. Biết hiếu tất biết cách cư xử với vua, biết để tất biết cách cư xử với nguời trên, biết từ tất biết cách cư xử với dân ; cho nên người mà biết cai trị gia đình thì không cần ra khỏi nhà mà giáo hóa được cả nước, và nếu không cai trị được gia đình thì không hòng gì trị được quốc gia : sử vị trị quốc, tất tiên tề kỳ gia giả ; kỳ gia bấtkhảgiáonhìnăng giáo nhân giả,vô chi ;cốquân tửbấtxuất gianhithành giáo ư quốc :hiếu giả, sở dĩ sử quân giả ; để giả, sử dĩ sử trưởng giả ; từ giả, sở dĩ sử chúng giả. Cho nên tu thân là bản của tề gia, và tề gia là bản của trị quốc.
Nếu không tri bản mà làm liều, không có đức mà vẫn đòi trị quốc thì đó chỉ là sự làm ẩu của kẻ tiểu nhân, có được gì thi cũng chẳng lâu dài. Trời không cho ai cái gì vĩnh viễn; có làm điều thiện thì mới được Thiên mệnh, nếu làm điều bất thiện thì mất: Duy mệnh bất vu thường; đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tất thất chi. Nếu làm liều, nghĩa là không cóđức mà cứ đòi trị quốc, thì có thể mấtmạng. Người có quyền hành trongnước phải cần thận
điểm đó : Hữu quốc giả, bất khả bất thận: tích tắc thiên hạ lục hĩ. Mà không những mình sai thì bị tai họa, mà mình dùng người sai, thay vì dùng người hiền được dân yêu, lại dùng người xấu bị dân ghét, thì cũng mang họa : Hiếu nhân chi sởố. Ốnhân chi sở hiếu, thị vi phật nhân chi tính, tai tất đãi phù thân.
Nói tóm, nếu giữa trị quốc và trị gia mình biết lo trị gia trước; nếu giữa trị gia và tu thân, mình lo tu thân trước; nếu giữa tài và đức mình biết lo đức trước, là mình biết phân biệt gốc với bản, là tri bản.
Muốn tu thân thì phải chính tâm, mà muốn chính tâm thì phải thành ý. Thành ýtột bực là chí thành. Đạt chí thành là đề tài của sách Trung Dung. * Cũng như tu thân là gốc của trị quốc, chí thành là gốc của tu thân, và vì vậy mà người quân tử (lãnh tụ) lấy thành làm quí; không có thành là cái gì cũng vất đi cả: Thành gia vật chí chung thủy. Bất thành vô vật. Thị cố quân tử thành chí vi quí. Tại sao chí thành lại quí như vậy ? Vì người đạt được chí thành có thể như thần, biết trước việc quốc gia hưng vong, đều họa đều phúc, điềm lành điềm dữ : Chí thành chi đạo, khả dĩ tiên tri ; quốc gia vong, tất hữu trinh tường ; quốc gia tương vong, tất hữu yêu nghiệt; hiện hồ thi qui, động hồ tứ thể ; họa phúc tương chi, thiện tất tiên tri, bất thiện tất tiên tri chi. Cố chí thành như thần. Chí thành có thể hóa được : chí thành năng hóa. Chí thành thì biết được tận tính của người, của vật: mà biết tận tính của người, của vật thì có thể giúp trời đất hoá dục, và như vậy là ngang hàng với trời đất, là một trong bộ
* Từ đây trở xuống, các câu trích dẫn đều lấy ở sách Trung Dung.
tam : Thiên, Địa, Nhân : Duy thiên hạ chí thành vi năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân chi tính ;năng tận nhân chi tính tắc năng tận vật chi tính ; năng tận vật chi tính tắc khả dĩ tán thiên địa chi hóa dục ;khả dĩ tán thiên địa chi hóa dục tắc khả dĩ thiên địa tham hĩ.
Người đạt được đạo chí thành có khả năng như thần nhờ biết rõ (minh), và làm thế nào để đến chỗ biết đó ta đã bàn ở trên. Áp dụng vào tu thân, vào xử sự, vào thực hành đạo quân tử, biết đó là biết ở đâu là mức vừa phải, không đứng lại trước khi đến (bất cập), không đi qua xa (quá), làm sao giữ được mức trung. Đạt được trung là hòa. Đạt được trung hòa, người quân tử ung dung, trong, nước có đạo cũng không đổi thay (quốc hữu đạo nhi bất biến), mà nước vô đạo cũng không đổi thay (quốc vô đạo nhi bất biến). Người trung dung cónhân, trí, dũng. Nhưng đạt được trung dung là một điều rất khó. Khổng Tử nói rằng trị thiên hạ quốc gia khó, nhưng có thể làm được, tước lộc có thể từ chối được, gươm giáo có thể không sợ, nhưng đạo trung dung thì ít người mà theo nổi : Thiên hạ quốc gia khả quán dã; tước lộc khả từ dă ; bạch nhận khả dao dã; trung dung bất khả năng dã.
Về phương diện tu thân, mục tiêu của người quân tử (lãnh tụ) là làm sao giữ được nhân, lễ, nghĩa, tín và trunghiếu, để, từ. Trên bình diện trị quốc người quân tử phải biết tôn hiền, và cư xử làm sao cho đúng để thu phục được nhân tâm trong cũng như ngoài nước, trong mọi giới : gia đình, đại thần (danh từ ngày nay: tổng trưởng), quần thần (quân chính), bách tính (dân chúng), bách công (lao động), nhu viễn nhân (khách thăm viếng, ngoại kiều), chư
hầu (lân bang, các nước bạn). Cư xử với đại thần thì lấy kính, và cho họ đủ cọng sự viên để xử dụng (quan thịnh nhiệm sử); đối quần thần thì phhải nêu gương trung tín, hậu đãi bổng lộc (trung tín, trọng lộc); đối với bách tính thì đánh thuế nhẹ, và dừng buộc họ sưu công trong mùa cấy gặt, nghĩa là tránh xảo trộn công ăn việc làm của họ phần đông là nông dân (thời sử, bạc liễm); với lao động thì phải phát lương đúng ngày giờ và trả thù lao xứng đáng (nhật tỉnh nguyệt thi,khái lẫm xứng sự) ; đối với khách thì đưa đón, khen người giỏi, thương kẻ chẳng may (tống vảng, nghinh lai, gia thiện nhi căng bất năng) : với chư hầu thì giúp đỡ,sinh lễ, hậu đãi (triều sinh, hậu).
Về phương diện cố nhân, thì xử sự sao cho đúng nhân, trí, dũng và đúng mức : hòa mà khổng theo (hòa nhi bất lưu), không thiên lệch (trung lập nhi bất ỷ) tùy địa vị của mình mà hành động (tổ kỳ vị nhi hành), khi ở ngôi trên không kiêu (cư thượng bất kêu), khi ở ngôi dưới không ngược (vi hạ bất bội), ởtrên không lấn bức người dưới (tại thượng vị bất lăng hạ ),ở dưới không leo lên trên (tại hạ vị bất viên thượng), làm gì cũng có dự định trước, khổng đúng lễ không làm (phi lễ bất động).
Tất cả những đức tính nói trên cần thiết, và cần thiết hơn định chế, chương trình, tổchức, vì người thi hành chính sách là gốc, chính sách chương trình chỉ là ngọn : vi chính trị nhân. Nếu không có người hiền thì chính sách, định chế hay mấy cũng bỏ đi : Kỳ nhân tôn tắc kỳ chính cử, kỳ nhân vong tắc kỹ chính tức. Tư cách, đạo đức con người mới là đều chính, chính sách, chương trình, tổ chức là đều phụ. Biết vậy là tri bản. Cho nên, muốn giải quyết các vấn đề chính trị và xã hội của Việt Nam hiện tại, vấn đề gốc là
giáo dục. Mà giáo dục đây không phải là giáo dục trẻ em : đó là một quan niệm rất sai lầm; giáo dục trẻ em chỉ là ngọn. Vấn đề chính là giáo dục những người lớn, nhất là những người có địa vị quan trọng. Vì họ là những người làm gương cho con em, cho người dưới. Đặt vấn đề như vậy mới là tri bản. Mà muốn đặt vấn đề cho đúng thì ta phải tìm lại Nho học, vì chỉ có Nho học mới lấy đạo đức, tu thân, làm căn bản cho giáo dục và trật tự xã hội. Học vấn Âu Mỹ đặt nặng, và càng ngày càng đặt nặng thêm vấn đề chuyên môn, mà không đặt vấn đề cư xử với nhau thế nào cho xã hội trong thắm ngoài êm. Biết nghề mà không biết cư xử trong xã hội thì chỉ gây rối loạn trong xã hội. Mà vấn đề ta cư xử với nhau thế nào trong xã hội để tránh cảnh loạn chỉ có người Việt Nam mới giải quyết được, vì đó là vấn đề liên hệ đến sống còn của xứ sở, cho trật tự và tiến bộ của xã hội Việt Nam. Đối với ngoại nhân, xứ sở ta có loạn cũng chả sao, có phần tiện và vui cho họ là khác. Vậy việc ta ta lo, và việc lớn ta lo trước. Việc lớn đó là giáo dục. Lo như vậy là tri bản.
Trong việc chính trị, xã hội đặt vấn đề đức trước tài (theo nghĩa tài sản) và vấn đề giáo dục (tu thân) trước kỹ thuật là đúng. Từ ngày tiếp xúc với Âu Mỹ, ta lấyvấn đề khoa học kỹ thuật làm trọng và quên phứt vấn đề căn bản là vấn đề đạo đức. Ta đã đặt gốc trước ngọn, và xã hội Việt Nam ngày nay rối loạn, đảo điên không có gì lạ. Nhận định được như vậy thì ta phải trở lại quan niệm đúng là tiên học lễ hậu học văn. Lễ đây không phải là nghi lễ rườm rà, mà ta thường gọi là «chinoiseries ». Nhưng lễ đây là cách cư xử thế nào cho xã hội khỏi bị xáo trộn, vì không ai làm đúng vai trò của mình. Phần khác, nói học lễ trước không phải là không học văn (hiểu theo nghĩa rộng là chuyên
môn kỹ thuật). Văn rất cần, vì không có chuyên môn kỹthuật thì Việt Nam không tiến được về mặt vật chất. Nhưng văn vẫn phải đi sau lễ. Không có máy lạnh, máy bay và hỏa tiễn không sao, chớ không thể không một ngày, một giờ, một phút nào mà sự cư xử với nhau trong xã hội dừng lại được. Mà có nhiều súng đạn máy móc, chỉ để chém giết, bóc lột, lừa gạt nhau thì thà kbông có còn hơn. Máy móc vẫn là phụ, đạo đức vẫn là gốc của xã hội, của chính trị. Hiểu như vậy là tri bản.
công trong văn hóa giáo dục, và do đó chúng ta phải đi tìm căn do sự thất bại này nơi khác.
Theo chúng tôi thì căn nguyên gần của sự thất bại chính là sự thất bại của triết học. Ai cũng biết rằng sứ mạng của triết học là điều lý và hòa hợp mọi năng khiếu con người qui về một hướng, một lý tưởng, thế mà triết học cổ điển lại chỉ có một chiều kích tức là duy lý thì làm thể nào để thống nhất các chức năng khác như cảm xúc và tâm linh, và như vậy là đánh mất nữ tính của triết học mà chính nữ tính mới là yếu tố thống nhất. Nói theo Kinh Dịch thì Triết Tây mới chỉ có dương mà thiếu âm, mới có« lumen » mà chưa đạt « numen »,nói theo Mạnh Tửlà mới biết tiểu thể màchưa biếtđến đại thể. Tiểuthể là đời sống conngười cánhân hạncục trong xác thâncủa mỗi người và một số liên hệ với lân nhân, với xã hội. Đại thể trái lại là đời sống tinh thân không hạn cục trong xác thân hay trong những mối giao liên xã hội nhưng còn tỏara đến trời cùngđất,có tầm vóc vũ trụ. Phải gồm tiểuthể và đại thể mớilàmnêncon ngườiluỡng thể và chỉcó quan niệm lưỡng thể đó về con người mới có tính cách toàn diệnvà mới đem lại chogiáodục một nền tảng cânxứng. Vì muốn cho giáo dụctrở nên trung thực thì nóphải lo tới sự thăng tiến toàn diện con người chứ không riêng một năng khiếu nào cả. Thế mà triết lý lại chỉ chăm lo có lý trí thì không sao vượt được sự hữu hạn, nên nếu nó có mường tượng ra cái gì thiêng liêng thì cũng chỉ là thiêng liêng có cái tên vì nó cũng bị giới hạn. Thiêng liêng thực thụphải vô biên. Vì thế muốn triết lýcó được mộtnội dungtâm linh trung thực thì nó phảitrở thành đakích: không những suy tư, nhưng còn cảm xúc và sống thật. Triết học duy lý không phải không bàn về tình cảm hay
sự sống nhưng đó là bàn về : một loại logos lấy tình cảm hay sự sống làm đối tượng như mọi đối tượng chết khác : nên rất trừu tượng khác xa với tình cảm và sự sống thực. Nếu thực có cảm xúc và sống thì triết lý phải có phương pháp luyện tình và tập sống, y như đã có danh lý để tập suy tư vậy. Thế mà cho tới nay mới có danh lý mà chưa có khoa luyện tình luyện sống thì chưa phải là triết lý nguyên vẹn. Để có một nền triết lý toàn vẹn như vậy cần nó phải móc nối với những sách bàn về cứu cánh chân thực của tất cả đời sống con người, không phải cứu cánh sẽ đến sau khi chết như các tiên tri biết trước, nhưng là biết ở đây và bây giờ, biết về cái cứu cánh của con người đang sống hiện tại trong gầm trời này : cần phải biết và nhận thức nó trong mọi động tác. Những sách như thế tôi gọi là Kinh điển hay là những sách minh triết.
Nền triết học Tây Âu đã thiếu những sách đó, nói đúng hơn đã đánh mất ngay từ thời Hi Lạp, nhưng sự mất mát đó đã không được nhận ra. Sự không nhận ra này là do cổđiển và Kinh Thánh đã tạm thời thay thế Kinh điển nên người ta cứ dùng lẫn lộn cả ba loại mà không nhận ra sự khác biệt đến độ cái này không thể thay thế cái kia. Vì thế ở đây tôi chú trọng đặc biệt đến sự định nghĩa thế nào là Kinh điển và nó khác cổđiển và Kinh thánh như thế nào. Tôi cho rằng đê một sách đảng được gọi là Kinh điên thì cần gồm mấy yếu tố sau đây : một là nhân bản, hai là dân gian, ba là giải phóng, và bốn là tâm linh.
Trước hết là nhân bản tức là những sách bàn đến những vấn đề liên hệ mật thiết đến những nhu yếu thâm sâu của con người và lấy chính sự thỏa mãn những nhu
yếu đó làm tiêu chuẩn xét đoán, vì một khi đã tìm tiêu chuẩn bên ngoài con người thì không còn là nhân bản và không giúp nó triển khai hết mọi khả năng cách quân bình và cùng cực. Các hiền triết Hi Lạp trước Socrates như Empédocle, Héraclite... có lẽ đã đáp ứng được điểm này và do đó sách các ngài có thể là kinh điển. Nhưng không may nay đã thất lạc hết, nên Hi lạp không có kinh điển mà chi có cổ điển tức là những áng văn chương kiệt tác, nhưng đó không phải là nhân bản, mà có thể nói là phát nguyên từ thần thoại và tuy không thiếu giá trị con người nhưng về bản gốc thì chưa là nhân bản mà mới là một sự tranh đấu cho nhân bản, mà chưa đạt tới nền tảng chân thực. Những sách triết học của Platon, Aristote cũng kê vào loại này, nghĩa là chúng chỉ là sách triết học chứ không phải là sách minh triết.
Điều thứ hai là tính chất dân gian tức là ai cũng có thể tham dự phần nào, không những trong một nước mà còn cả nhân loại không kể Đông Tây hay kim cổ, khi hiểu được đúng nội dung kinh điển cũng đều thấy lòng rung động. Đó chỉ là hệ luận của nhân bản, tức là hết mọi người họ đã là người thì đều có nền tảng làm nên con người nên cũng rung động được trước các câu nói liên hệ tới những nhu yếu nền móng đó, như sự tu thân theo nghĩa làm triển nở hết mọi năng khiếu trong người, khồng những ý mà còn tình và chí, không những trong việc tu thân mà còn trong những mối liên hệ là gia đình, quốc gia, quốc tế, mà Nho giáo quen tóm vào trong 4 chữ Tu, Tề, Trị, Bình. Những sách chỉ nghĩ đến có học vấn là mới nhằm phát triển có lý trí thôi, thì khồng thể có tính cách dân gian tức phổ biến tới mọi tầng lớp trong xã hội. Vì thế sách thực là nhân bản không thể hạn cục
vào một lớp người bé nhỏ như lớp người tự do hay quí tộc trong các xã hội La Hi sống xa cách đại chúng là nô lệ. Vậy mà các sách triết học La Hi chỉ nhằm có lớp người này nên thiếu tính cách phổ thông mà chỉ còn làquí phái. Không nói thì ai cũng biết tinh chất quí phái này được duy trì liên tục trong nền triết học Âu Tây nên là nền triết rất xa quần chúng. Các mẫu người được các triết học gia đề ra đã xuất hiện trước mắt dân chúng như những mộng du, hoặc những Don Quichotte, không thấy thực tế ra sao cả, hoàn toàn sống trong thế giới ý niệm: vì thế rất ít người đã học triết xong mà không vì đó đánh mất một mớ bon sens. Và đó cũng là lýdo giải nghĩa sự thiếu một nền thống nhất văn hóa giữa hai lớp người làgiới trí thức là kẻ kế vị tinh thần của quí phái và lớp bình dân, kẻ kế vị nô lệ xưa. Các sách triết học cũng như sách cổ điển vì thế là một loại sách đã gây nên đẳng cấp trong xã hội và nuôi dưỡng sự đấu tranh giai cấp mà không sao gây dựng nên một nền văn hóa chung cho bết mọi người. Nietzsche cho là không thể sống được vì thiếu nền thống nhất văn hóa đó. Nous nè possédons aucune unité populaire dans la culture... comment un grand esprit productif pourrait-il encore vivre au milieu d’un peuple lorsque r unité du sentiment populaire est perdu. Nietzsche 4e Jaspers, p. 424.
Điều thứ ba phải là giải phóng tức là luôn luôn giúp con người tiến lên thêm mãi vào sự chân nhận và hiện thực nhân tính của người để đưa con người tới chỗ thoát ly khỏi lòi trói của mọi ý hệ và thuyết lý. Muốn được như thế Kinh điển phải xây trên quan niệm biến hóa vì chỉ có biến hóa mới giải phóng được con người. Dấu hiệu cụ thể của biến hóa chân thực là không những đã không cản
trở nhưng còn giúp vào việc dung nạp được hết những khám phá mới xuất hiện theo đà tiến. Bởi vì dấu hiệu giải phóng là sống mạnh, mà sống mạnh là tiến hóa mạnh. Sự tiến hóa gia tăng theo hàm số của khả năng thâu hóa : càng thâu hóa được nhiều những khám phá mới càng tỏ ra có tính chất giải phóng. Muốn được như thế, Kinh điển phải dừng lại ở đợt minh triết uyên nguyên (sagesse principielle) mà không nên đi vào những qui định quá xác xuất. Những qui định xác xuất thường chỉ hợp cho một nơi một thời, nên cùng lắm chỉ hợp cho triết lý trong một giai đoạn, vậy nếu vô tình tôn vinh nó lên bậc nguyên lý thì tức là xâm phạm tự do cá nhân và đi đến nô lệ hóa con người, và đánh mất trọn vẹn tính chất uyển chuyển linh động của nền minh triết. Triết học hầu hết đi vào quyết định nên không thể là kinh điển, mà chỉ còn là một ý hệ hay một thứ sử triết.
Điểm thứ bốn là tâm linh. Tâm linh là cái gì phổ biến theo nghĩa chữ «thần» trong Kinh dịch là «thần vô phương» thần không ở phương nào không đông không tây, nhưng không đâu không ở,nghĩa là rất linh nghiệm. Ý nghĩa đó bao la khó dịch chúng ta chỉ có thể tạm dùng như numen trong sách Le Sacré của Otto để định nghĩa tâm linh là Ịrumend um et fascinans : huyền bí đáng sợ nhưng lại có sức lôi cuốn. Đáng sợ vì không thấy bờ bến đâu cả, nhưng lại lôi kéo lòng người cách huyền bí sâu xa thì chúng ta có thể suy đoán theo luật đồng tính (affinité : similis similem quaerit) : nếu con người ưa cái gì bao la man mác thì hiểu được rằng trong bản chất con người có cái chi man mác vô biên. Do đó mà có một dấu hiệu cụ thể của tâm linh là lối văn u linh lờ mờ, một thứ lờ mờ thú vị vô cùng: «délicieusement Vague» và thường là đơn giản mộc mạc, đến nỗi nhiều»
nhà sử văn học cho là vụng về và do đó mấy sách kinh điển không có được mấy ký lô trước con mắt của các sử gia văn học. Nhưng họ có biết đâu rằng đấy là một thứ «vụng về» siêu tuyệt mà chỉ có những bậc thánh triết mới đạt, vì cái mộc mạc đó được tu luyện, được nâng lên bậc một quẻ trong Kinh dịch và gọi là quẻ «Vị Tế»: chưa sang qua sông chưa xong. Đấy không phải thứ «chưa xong» vì cẳn cỗi già nua hay vì thiếu tài, nhưng là thứ «chưa xong» của một hạt nhân còn tàng chứa đầy nhựa sống, đầy sức triển nở có khả năng mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới khác, một thứ «chưa xong» của bình minh sơ nguyên hãy còn dính liền với trùng dương vô thức nên giẫu vô biên chất Minh triết. Và quẻ thức đó là thứ «chưa xong» đã làm nguồn suối cho bao cuộc phục hoạt mỗi khi người ta biết trở về cách trung thực với cái mộc mạc vụng về của Kinh điển. Trong nền văn học Trung Hoa đã có rất nhiều lần trở lại với nguồn đó và được ghi dấu bằng một tổng hợp mới. Trong quyển «Định hướng Văn Học» chúng tôi đã lên sổ được 4 cuộc tổng hợp như thế :
-
Tổng hợp đầu tiên hiện hình ở Kinh dịch
-
Tổng hợp thứ hai hiện hình ở Thiên Thai trong đời Đường
-
Tổng hợp thứ ba hiện hình ở Lý học của Trình Chu đời Tống
-
Tổng hợp thứ tư hiện đang được thai nghén từ hơn một thế kỷ nay.
Đó là điểm mà các sách triết cũng như cổ điển đã không làm nổi. Sách cổ điển khác kinh điển về lối văn chải chuốt
điêu luyện, đã làm xong, nên rất được các nhà sử văn học quí trọng, nhưng họ không nhận ra rằng chính vì thiếu cáilinh lực của kinh điển nên mới phải tìm cách bù đắp. Ở triết học bù đắp bằng lý luận phân minh rành rọt, ởluân lý và tôn giáo thường được bù đắp bằng những hành ngơi trang trọng bao quanh việc tuyên bố kinh văn, ở cổ điển thì bù đắp bằng những câu vănóng chuốt trác tuyệt, và nhờ đò nó đã chu toàn vai trò của nó là « truyện » theo nghĩa giải rộng ý kinh điển nhưng không thể thay kinh điển y như ngành ngọn dù xum xuêhoa lá tới đâu cũng không thể thay cho gốc rễ vậy. Vì thế chính cái nét đặc trưng của cổđiển là văn chương trác tuyệt lại là dấu chỉ nó không là Kinh điển : Ly Tao của Khuất Nguyên chính vì có lối văn đẹp hơn, khúc chiết hơn Kinh Thi nên chỉ là truyện. Tả truyện văn rõ ràng sáng sủa hơn Kinh Thư, chính vì thế mà chỉ là truyện. Mạnh Tử chính vì có lối văn rành rẽ hơn bằng lý luận nên mãi nhiều thế kỷ sau mới được đưa vào làm Kinh điển hạng nhì. Cải óng chuốt của những lời Mạnh Tử được họ Trình ví vớióng chuốt của nước đá hay của thủy tinh, còn những lời âm u của Khổng Tử ví được với bích ngọc (jade- stone) nó không lấp lánh bằng nhưng dịu dàng súc tích hơn biết mấy.
Đó là mấy nét định tính sách Kinh điển : nó giống với Kinh Thánh ở chỗ tâm linh và do đó dù chỉ là triết nhưng lại ảnh hưởng sâu xa rộng lớn như kiểu tôn giáo, vì thế rất khác vớicổ điển và triết học là những sách chỉ là văn nghệ hay chỉnằm trong vòng văn học không gây ảnh hưởng sâu rộng vào quảng đại quần chúng như Kinh Thánh hay Kinh điển. Hai loại sách này gặp nhau ở tầm mức ảnh hưởng sâu và rộng. Nhưng Kinh điển khác Kinh Thánh ở chỗ nó chỉ bàn đến những điều con người có thể kiểm soát hoặc
nó vẫn giúp vào việc làm triền nở mọi năng khiếu như sinh lý, phê bình v.v.., là những khoảng không có đất đứng trong Kinh Thánh.
Ta có thể nói rằng : triết học chỉ đào tạo ra những người tài biện luận (dialecticien) cổ điển chỉ đào tạo ra được những văn hào, Kinh Thánh chỉ đào tạo ra được những người sùng bái. Duy chỉ có Kinh điển mới đào tạo ra hiền triết (Wise men) tức là những người có mọi năng khiếu được phát huy đến cao độ và quân bình như nhau. Biết như thế rồi chúng ta có thể ước đoán không mấy sai lầm : hiện nay chương trình giáo dục đang nhằm đào tạo ra những hạng người nào. Tôi nghĩ rằng chính bởi thiếu Kinh điển nên Emerson nói : «chúng ta chưa từng được thấy một người». Vậy thì chúng ta thấy gì? Nietzsche thưa chỉ có từng mảnh mún: «Il n’y a que des fragments». Nói thế có nghĩa là sự đánh mất Kinh điển là một sự mất mát không thể bù bằng cái chi khác dù là Kinh Thánh. Do đấy tự thời Phục hưng xảy ra một sự đứt liên lạc với tôn giáo ở nhiều người Âu Châu, để trở lại với nền cổ học La Hi. Nhưng ở đây lại chỉ gặp có cổ điển nhưng cổ điển chỉ là những kiệt tác văn chương chỉ có thể thỏa mãn con người đến một tuổi nào. Từ lối bốn mươi trở đi con người đòi phải có cái gì sâu xa hơn cổ điển, cũng như sâu xa toàn triệt hơn triết học, vi thế trào lưu phục hưng không giải quyết được nổi vấn đề. Một số người đã nhận ra điều đó nên đã có công đi tìm lại Kinh điển bằng cách thu nhặt những mảnh vụn đó đây như quyển Fragmente der Vorsokratisker của Herman Diels nhưng vì tiêu chuẩn thu lượm chưa được thừa nhận và dầu sao còn quáthiếu sót nên chưa thể bù đắpchỗ trống do sự thiếu Kinh điển đê lại.
Cái lỗ trống đó hiện đang được biểu lộ ra bằng hai triệu chứng đặng ái ngại. Trước hết là một nền giáo dục mà Nietzsche cho là « không bản chất, không linh hồn » và một nền văn hóa mà ông cho là tồi tệ đến nỗi cho chó ăn nó không thỏa... d’ une culture pitoyable dont les chiens mêmes ne se rassasieraient pas. Volonté de Puissance. Vol. I. 99.
Triệu chứng thứ hai là nền giáo dụchọc đường không biết tự phân biệt mình với văn hóa hậu trường cho nên đem những sách văn hóa hậu trường nhất là tiểu thuyết, tuồng, kịch... nhét đầy chương trình giáo dục, nhưng cố nhét đến đâu cũng không thể bù đắp mà chỉ tổ làm khổ học sinh một cách vô ích mà không sao đào tạo cho chúng trở nên người toàn diện, hoặc nói theo xã hội học là không đào tạo cho chúng trở nên dân tộc, vì dân tộc là một công thể gồm nhiều người có óc tự phán đoán, độc dáo, chín chắn, được nối kết với nhau bằng những yếu tố thường hằng tức là một cơ sở tinh thần có liên tục, có truyền thống... Tuồng, kịch, tiểu thuyết, các loại trào lưu tư tưởmg... đều thuộc loại cổđiển và triết học chỉ có thể làm phong phú khi người ta đã có hướng đi. Khi chưa có hướng mà đem nhét đầy óc thì chỉ có thể sản ra được đại chúng tức là một đoàn lũ cá nhân, chỉ có liên hệ chính trị, xã hội, kinh tế... thiếu hẳn mối đoàn tụ thiêng liêng. Phải, với chương trình hiện đại nhét đầy sách cổ điển, văn chưong, tiểu thuyết thì chỉ có thể sản ra những con người li tán với rất nhiều phần tử điên khùng, bệnh thần kinh và tán loạn tâm trí: Schizophrènes, névrosés et même psy- chosés như các nhà phân tâm đang khám phá ra trước sự kinh hoàng của các bậc trí giả. Người ta mới ngã ngửa ra rằng thiếu một nền lý tưởng tâm linh thì cái hại thật là sâu xa vô kể, ai nấy mới vội vàng đi tìm cái
nền lâm linh đó. Và thế là chúng ta được chứng kiến một mùa hoa nở của biết bao lý thuyết, biết bao khoa tâm truyền, cả từng trăm thứ tôn giáo, huyền nhiệm, cả đến Hippies rồi Freebies cũng góp phần, rồi cả đến các loại Acides từ Marijuana qua LSD cho tới STP (6 lần mạnh hơn, uống vào xuất thần được hơn hai ngày) .. Chưa biết rồi đây cái nào sẽ thay thế được cho Kinh điển để đưa ra một lối thoát chân thực, chỉ biết trong khi chờ đợi, người ta phải mở rộng hoặc xây thêm nhiều nhà thương điên, huấn luyện thêm nhiều y sĩ phân tâm để chữa trị các bệnh thần kinh tâm não và nhất là sản xuất thêm rất nhiều thuốc an thần đủ loại.
Đó là một sự thực đang phơi bày ra trước mắt rất đáng cho những người Đông phương suy nghĩ và thận trọng trong việc nhập cảng chương trình giáo dục Tây Âu, nhất là các nước Viễn đông khi có thểtìm ra lối thoát riêng, vì chúng ta đã có và giữ được Kinh điển lâu đời. Và hiện nay chỉ cần chu toàn được điều kiện duy nhất này là dùng ngay những nguyên lý hãy còn tiềm tàng trong Kinh điển để thiết lập ra một nền triết lý mới hẳn, hợp cho cảm quan của thời đại, nghĩa là phải đưa một tổng hợp mới, bao dung được những khám phá mới của nhân loại từ hơn một thế kỷ vừa qua, như các ý niệm biến hóa, thời gian tính, tương đối thuyết, xã hội học, dân tộc học và nhất là phân tâm học. Ai đã đi sâu vào triết Đông và đối chiếu với những khám phá mới này liền nhận ra rằng lối thoát cho nền văn hóa giáo dục hiện nay nằm ở đó, ở chỗ khi nào các phát minh Tây phương được đem kết đúc vào cơ cấu tinh thần Kinh điển Đông phương. Đó là điều kiện bất khả vô. Ngày nào chúng ta hiện thực nổi thì chúng ta sẽ khai sinh cho tổng hợp thứ tư cũng là tổng hợp
đang được thế giới mong chờ, và bao lâu nó chưa xuất hiện thì bấy lâu có kinh điển cũng kể là thiếu kinh điển và cuối cùng mọi sửa đổi phần mớ đề ra cũng chỉ là vá víu không cứu thoát ra khỏi con đường đưa tới tai họa của những nền văn hóa thiếu kinh điển