Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 48 (Năm 1975)

Tư Tưởng Số 48 (Năm 1975)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1975. Số trang: 192.

Chương 4: Vai Trò Của Đại Học (Trang 21 - 34)

VAI TRÒ CỦA ĐẠI HỌC
★ ĐOÀN VIẾT HOẠT
 

NỀNgiáodục đại học tại miền Nam trong thập niên trở lại đây đã phát triển mau lẹ. Từ 22.000 sinh viên năm 1964 gia tăng lên tới gần 100.000 năm 1974; từ bốn viện đại học, hai công (Saigon, Huế), hai tư (Đà Lạt, Vạn Hạnh) năm 1964 gia tăng lên tới 18 viện đại học và học viện cao đẳng, 7 công và 11 tư *. Nếu chúng ta trở lui lại năm 1954 chúng ta còn thấy nền giáo dục đại học gia tăng mau chóng hơn nữa về số lượng : năm 1954 chúng ta chỉ có một viện đại học với hơn 2.000 sinh viên : đó là Viện đại học Quốc gia (tiền thân của Viện đại học Saigon bây giờ), một viện đại học duy nhất là hậu thân của Viện đại học hỗn hợp Pháp-Việt.
Đà gia tăng nay còn tiếp tục mau lẹ không kém trong những năm sắp tới khi tình hình, ổn định hơn và nhất là khi những
___________________________
*   7 đại học công là Saigon, Huế, Cần Thơ, Tiền Giang, Duyên Hải, Thủ Đức và Quảng Đà.
       11 đại học tư là : Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo, Cao Đài, Cửu Long, Tri Hành, Học Viện Regina Pacis, Đại học Sư Phạm Thành Nhân, Học Viện La San, Học Viện Minh Trí ( hai học viện sau mới được phép hoạt động cuối tháng 11 vừa qua ).
       Nếu kể thêm Học Viện QGHC, Viện Kỹ Thuật Trung Cấp (Phú Thọ) là hai Học viện công, và Viện Đại học Phương Nam (đã chính thức hoạt động) cùng Viện đại học Canh Tân (có giấy phép tạm nhưng chưa chính thức hoạt động) thì số đại học lên tới 22
cải tổ thi cử và chương trình học ở cấp trung học sẽ tạo ra một số lượng tân sinh viên ngày một đông đảo hơn. Tuy nhiên, như chúng ta đều thấy, cho tới nay chúng ta chưa có một kế hoạch phát triển đại học nào được vạch ra một cách rõ ràng và cụ thểđể đáp ứng với sự gia tăng « bắt buộc » phải xảy ra ở bậc đại học cũng như ở bậc phổthông. Thêm vào đó, đại học vẫn chưa có một Qui chế rõ ràng qui định vị trí và vai trò của đại học trong việc phát triển quốc gia. Chúng ta cũng thấy những khó khăn của các viện đại học tân lập, công cũng như tư, trong việc điều hành và phát triển vì thiếu phương tiện và tài chánh, cũng như thiếu nhân viên điều hành và giảng huấn. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của quốc gia và riêng của đại học, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu trong những năm tới đại học chỉcóthể cố gắng đáp ứng những nhu cầu về số lượng sĩ số nhiều hơn là kế hoạch hóa được sự phát triển của mình. Trong chiều hướng đóng góp vài ý kiến vào việc xác định một vai trò cần có cho đại học Việt nam trong những giai đoạn phát triển sắp tới trong bài dưới đây chúng tôi muốn trình bày một số nhận định về vai trò của đại học trong việc phát triển quốc gia cũng như phát triển cá nhân của sinh viên.
VAI TRÒ ĐẠI HỌC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN QUỐC GIA.
Trước hết nếu muốn đại học đóng được vai trò tích cực trong việc phát triển quốc gia, đại học cần thay đổi cái tinh thần truyền thống cũ đã có từ thời Trung cổ. Theo truyền thống này đại học là nơi bất khả xâm phạm, tự trị đối với xã hội và quốc gia, là tháp ngà của giới tư sản trí thức thành thị. Các cuộc tranh đấu giữa đại học và dân học Tây phương chỉ cóthể chấp nhận và hiểu được đối với hoàn cảnh xã hội của Âu châu tiền Phục hưng. Đại học khi đó giống như một tiền đồn chống lại cả một xã hội tối tăm thời Trung cổ; nói cách khác đại học phải cố gắng giữ cho mình được trong sạch, không bị ảnh hưởng của xã hội bên ngoài.
Tuy nhiên, truyền thống này trở nên lỗi thời và mất dần ý nghĩa khi xã hội bên ngoài đang biến chuyển mạnh trong khi
đó đại học bên trong cứ bo bo giữ lấy cho mình những giá trị cóthểkhông còn thích hợp với hoàn cảnh xã hội thời hậu cách mạng kỹ nghệ nữa. Truyền thống tự trị nếu hiểu theo nghĩa của thời Trung cồ, tức theo nghĩa tự trị là mâu thuẫn giữa đại học và xã hội, thì truyền thống này đi ngược lại nhu cầu phát triển xã hội, để biến đại học thành những thành trì kiên cố của một tinh thần bảo thủ. Đại học lúc đó sẽ bị đồng hóavới các lực lượng phản động của xã hội, cố gắng bảo vệ những quyền lợi bất chính, bất công, của một thiểu số trí thức bảo thủ. Đại học lúc đó dễ trở nên một « tháp ngà » ru ngủ trí thức trong những công cuộc nghiên cứu trừu tượng, đầy mơ tưởng, xa lánh thực tế nhiều khi phũ phàng, và luôn luôn biến đổi chung quanh họ. Mối mâu thuẫn giữa đại học và xã hội khi đó sẽ là một mối mâu thuẫn mới mà tính chất hoàn toàn khác biệt với mọi mâu thuẫn cũ thời Trung cổ : Đại học bấy giờtrở thành phía phản động, còn xã hội trở nên phía tiền tiến.
Mối tương quan giữa đại học và xã hội phải là một mối tương quan song phương. Một mặt đại học cần giữ được sự tự do cần thiết đểcóthể thực hiện các công trình giảng huấn và nghiên cứu khách quan và lâu dài. Mặt khác đại học cũng phải dấn thân đểđóng góp tích cực vào việc phát triển quốc gia. Đại học phải vừa giữ vai trò chỉ hướng và phê phán các sai lệch củaxã hội bên ngoài vừa góp phần tích cực vào việc sửa chữa những sai lầm và thực hiện những chíhướng đó. Muốn thế, một mặt đại học cần được tự do suy tư, nghiên cứu và thảo luận mà không bị những áp lực chính trị bên ngoài chi phối. Nhưng mặt khác, đại học cũng phải cởi bỏ những mặc cảm của mình đối với xã hội đểcó thể dấn thân một cách tự nhiên và có kết quả. Thường thường đại học hay có mặc cảm tự tôn, thiên trọng trí thức, xa vời thực tế, ưa thích những gì hoa mỹ, khinh những gì bình dị. Đại học khi tự tôn đối với xã hội sẽ dễ dẫn tới lối hành sử xa cách quần chúng, cóthái độ ngạo thế, dạy đời. Nếu có dấn thân cũng chỉ là lối dấn thân của những người muốn đi « dạy đời » chỉ làm quầnchúng xa lánh thêm
Đại học cũng có thểcó một mặc cảm ngược lại : mặc cảm tự ti. Tự ti vì những đặc quyền của mình được hưởng dưới thời thực dân; tự ti vì đã đứng bên lề lịch sử trong xã hội và quốc gia biến chuyển mãnh liệt. Từ mọi tự ti ấy, đại học hăng hái dấn thân vào xã hội để mong « chuộc lại » những lỗi lầm xưa của mình. Sự dấn thân ấy mang đầy mặc cảm «tội lỗi» cũng không phải là thứ dấn thân mà chúng ta muốn nói đến.
Mối tương quan giữa đại học và xã hội phải là một mối tương quan bình thường, tự nhiên. Vai trò của đại học phải được xã hội hiểu và chấp nhận ; trong khi đóđại học phải tích cực tạo uy tín thực của mình đối với xã hội vừa bằng các công trình nghiên cứu giảng huấn của mình, vừa bằng những hoạt động phản ánh được nhu cầu cũng như thực trạng ngoài xã hội. Đại học khôngthể đi ngược lại chiều hướng tiến triển chung của xã hội; nhưng đại học cũng khôngthể nhắm mắt làm ngơ hay để bị chi phối lôi cuốn theo những lầm lạc của một chính sách độc đọán phản lại quyền lợi chung của dân tộc. Nói một cách vắn tắt và giản dị, đại học phải là bạn của đời chứ không thể làm thầy đời cũng như không thể làm đầy tớ cho đời được.
Tại các nước tiền tiến kỹ nghệ, đại học đã phần nào đóng được vai trò lý tưởng đó. Đại học đóng góp tích cực vào việc phát triển quốc gia bằng cách cung cấp những chuyên viên đủ loại cho các mặt sinh hoạt đại diện của quốc gia. Hầu như không có ngành sinh hoạt nào của quốc gia mà trong đại học không giảng dạy và nghiên cứu. Nhờ đó các sinh hoạt ngoài xã hội mỗi ngày một thêm cải tiến. Thêm vào đó, đại học cũng tích cực thực hiện các công trình nghiên cứu sáng tạo cần thiết đối với các vấn đề khó khăn của xã hội, từ những vấn đề kỹ thuật tới các vấn đề xã hội và văn hóa. Những khám phá của đại học sau đó được thực nghiệm ngoài xã hội và kết quả lại được đem vào đại học để kiểm nghiệm và sửa lỗi nếu cần.
Như thế đại học tại các nước tiền tiến kỹ nghệ đã dần dà trở nên những trung tâm khích động cải tiến xã hội. Những biến chuyển ngoài xã hội dội vào đại học, và những khám phá nghiên
cứu trong đại học được đem ra thực hiện ngoài xã hội. Mối tương quan song phươngnày vừa giúp cho xã hội luôn luôn tân tiến hơn về khía cạnh kỹ thuật cũng như văn hóa ; vừa giúp cho đại học tránh được tình trạng « tháp ngà ». Nếu có trường hợp đại học tự để rơi trở lại tình trạng tháp ngà, hay tự biến thành đồng lỏa với những tệ đoan ngoài xã hội, thì chính giới đại học, cụ thể hơn, là sinh viên và giáo sư, sẽ có phản ứng tích cực để sửa đổi lại.
Chiều hướng này được thể hiện một cách rõ rệt nhất kể từ thập niên 1960 trở lại đây. Trong khoảng thời gian chừng 10 năm trở lại đây người ta ghi nhận nhiều phong trào văn hóa, xã hội và chính trị phát xuất từ đại học. Từ các phong trào có tính cách văn hóa và bất bạo động như phong trào Hippie, ma túy *, tự do luyến ái (tình dục), nhạc kích động trẻ..., tới các phong trào xã hội như chống kỳ thị da mầu, chống bất công áp bức, chống nhũng lạm..., cho tới các phong trào chính trị bạo động như chống chiến tranh, chống độc tài, chống lại xã hội đầy áp bức bất công, phi lý hiện tại. Hầu hết các phong trào này hoặc do các sinh viên và giáo sư trẻ tại đại học phát động, hoặc do họ tham gia đông đảo và tích cực nhất.
Các phong trào của giới trẻ tại đại học của các nước tân tiến kỹ nghệ là kết quả của một phản ứng văn hóa chống lại những sai lệch của nền kỹ nghệ quá độ của các nước Âu Mỹ (kể cả Nhật). Phong trào này chúng ta tạm gọi là một phong trào Tân Nhân Bản, đã và đang gây ảnh hưởng rộng lớn tới mọi cơ chế và sinh hoạt xã hội tại các nước này.
Tại các nước đang mở mang, không khí đại học còn nặng nề vì chưa xác định được đường hướng rõ rệt của mình. Một mặt thì đại học chưa dứt khoát chối bỏ những đặc quyền rơi
______________________________
Chúng ta cần nhìn phong trào ma túy dưới con mắt văn hóa. Một cách tóm tắt, chúng ta có thể nhìn phong trào này như một cố gắng của giới trẻ chán nản thế giớ hiện tại muốn đi tìm những « kích thích tâm lý » mới thay thế cho các kích thích tâm lý của xã hội hiện hữu do các phương tiện truyền thông đại chúng tối tân tạo ra.
Rớt lại từ thời thực dân cũ ; những đặc quyền nầy được giới đại học bảo vệ bằng chiêu bài «tự trị». Tự trị trong trường hợp này chỉ có nghĩa là đại học còn e ngại chưa dám dấn thân, chưa dám «lột xác » cũ để mang lấy xác mới, chưa dám chối bỏ những tinh thần cũ để mang lấy tinh thần mới. Có nhiều lý do trái ngược nhau khiến cho giới đại học còn phải e dè chưa dứt khoát thái độ và còn sợ đánh mất tự trị của mình. Một trong những lý do chính đáng nhất có lẽ là vì xã hội bên ngoài còn quá phức tạp, còn bị chi phối bởi nhữngthế lực bè nhóm, hay những thế lực chính trị kinh tế quốc tế. Một lý do khác không mấy chính đángcó thể là vì xã hội bên ngoài biến chuyển quá nhanh và quá mạnh, khiến giới đại học, vốn bảo thủ, chưa kịp hay chưa dám thích ứng; kết quả của lý do này là đại học thường đứng bên lề xã hội, quan sát và nhiều khi lớn tiếng chỉ trích, chống đối, nhưng rất ít khi chịu dấn thân để góp phần canh cải.
Dù vì lý do nào, đại học tại các nước chưa phát triểnvề kỹ nghệ còn mang nặng tánh chất bảo thủ, nhìn xã hội bằng con mắt kinh sợ, hoặc bằng con mắt ngạo mạn khinh đời. Kết quả là sinh hoạt đại học không hỗ trợ cho diễn tiến ngoài xã hội; chương trình học thiên nặng về khoa cử ; tinh thần đại học đồng nghĩa vớ tinh thần cầu an, vị kỷ, chờ đợi. Xã hội bên ngoài không được sự hỗ trợcủađại học, nên thiếu nhân tài, thiếu hướng dẫn, những hoạt động của mình không được cải thiện về kỹ thuật cũng như văn hóa. Thái độ của xã hội ngưọc lại cũng kém xây dựng. Xã hội bên ngoài nhìn đại học bằng cặp mắt « kính nhi viển chi », hoặc bằng cặp mắt coi thường, nhiều khi khinh thị. Các chính quyền độc đoán lại bắt đại học phải tuân hành các chỉ thị của mình, biến đại học thành phương tiện để thực hiện chính sách riêng tư của họ.
Tóm lại, mọi liên hệ giữa đại học và quần chúng, cũng như giữa đại học và chính quyền tại các nước đang phát triển là một mối liên hệ tiêu cực nhiều hơn tích cực. Nó vừa ngăn cản sự cải tiến của đại học, vừa chia các đại học ra khỏi dòng tiến hóa chung của xã hội. Nếu có cố gắng đem « đại học vào đời» thì lại là những cố gắng đầy mặc cảm. Phía chính quyền đó là
mặc cảm tự ti đối với đại học, hoặc sợ đại học, không dám can thiệp vào các bất công hay bê bối của giớiđại học; hoặc khinh miệt đại học, cóthái độ độc đoán đối với đại học. Phía đại học đócóthể là mặc cảm tự tôn quyết đem « sở học» của mình ra « sửa trị» xã hội. Những bê bối và đặc quyền của mình không được sửa chữa hay không cho ai lên tiếng chỉ trích, nếu ai can thiệp hay chỉ trích sẽ bị giới đại học lên án là xâm phạm quyền tự trị đại học. Trong khi đó ngoài xã hội, hay trong chính quyền có làm điều gì sai lầm thì lớn tiếng chỉ trích, có khi phát động cả một phong trào trí thức chống đối mãnh liệt.
Tất cả những thực trạng đó cần được thay đổi nếu đại học tại các nước đang phát triển muốn đóng góp tích cực và xây dựng vào việc phát triển quốc gia. Thay đổi như thế nào ? Trước hết phải thay đổi thái độ, phía chính quyền cũng như phía đại học, cả hai phía phải có thái độ xây dựng tích cực hơn là đả phá nhau tiêu cực. Một mặt chính quyền cần tích cực trợ giúp phương tiện để đại học phát huy tinh thần và không khí sinh hoạt tự do. Mặt khác đại học phải ý thức trách nhiệm lớn lao của mình để tự cải tiến không ngừng về phẩm hầu cóthể cung cấp cho quốc gia những nhân tài hữu dụng, có tinh thần trách nhiệm và có khả năng. Việc củng cố nội bộ đại học là một điều kiện tiên quyết cho vai trò của đại học trong việc phát triển quốc gia. Những sinh viên tốt nghiệp của đại học chính là đạo quân tiền phong trong việc xây dựng một xã hội mới. Nếu đại học không thay đổi thái độ, tinh thần và sinh hoạt của mình thì chính những sinh viên tốt nghiệp này sẽ là những trở lực cho việc phát triển xứ sở. Tinh thần cầu an, vị kỷ, sinh hoạt tháp ngà, ru ngủ, xa cách quần chúng, xa cách thực tại của đất nước; chương trình giảng huấn từ chương, khoa cử, thiếu thực dụng, nặng sách vở; tất cả những điều đó phải được thay đổi mới mong đại học đóng góp được tích cực vàocông việc phát triển quốc gia.
VAI TRÒ CỦA ĐẠI HỌC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN.
Ngoài việc đóng góp tích cực vào việc phát triển quốc gia, đại học cũng là nơi đào luyện sinh viên. Nếu tại trung học người học sinh còn hướng về gia đình, cha mẹ như nơi nương tựa tinh thần cũng như vật chất, thì vào tuổi đại học, người sinh viên dần dà tự lập cho mình một đời sống riêng. Nhưng trước khicó thể tự lập, người sinh viên cần một thời gian hướng dẫn, giúp đỡđể họ có thể dần tự làm chủ được cuộc đời của mình. Đại học chính vì thế mà có một vai trò hết sức quan trọng vì thời gian sinh hoạt tại môi trường đại học chính là thời gian mà người sinh viên phải chuẩn bị để đủ sức làm chủ cuộc sống riêng của họ. Đại học chuẩn bị cho họ một thế đứng vững chắc trong xã hội bằng cách cung cấp cho họ những kiến thức và khả năng chuyên môn cần thiết để họ có thểđóng góp một cách tích cực và nhiều tự tin vào các mặt sinh hoạt khác nhau của xã hội. Đại học cũng phải chuẩn bị cho họ một tinh thần đứng đắn trước khi nhập cuộc. Nói vắn tắt, người sinh viên cần được chuẩn bị đầy đủ về cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất để có thể tham gia vào cuộc sống chung quanh một cách tự tin và tự chủ.
Như thế, thời gian đại học là một thời gian rất quan trọng đối với một thanh niên. Nhưng tiếc thay về phía sinh viên thường không được hướng dẫn đúng mức trong thời gian này ; còn về phía đại học thường lại chỉ để ý tới khía cạnh giảng huấn và nghiên cứu mà ít để ý tới bản thân người sinh viên. Trướckhi bàn thêm vấn đề này chúng ta thử lược xem sự phát triển của cá nhân sinh viên trong thời gian tiền trưởng thành này như thế nào.
Con người phát triển toàn diện ở mọi lứa tuổi. Có ba khía cạnh sinh hoạt của một cánhân : khía cạnh tâm lý, sinh lý và xã hội. Cả ba khía cạnh này đều phát triển cùng một lúc ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên mỗi lứa tuổi có một trọng tâm phát triểnchính. Thí dụ : từ khi mới sanh tới khoảng 5, 6, tuổi trở lên,
khía cạnh tâm lý bắt đầu chiếm vị trí trọng tâm ; và từ sau 15, 16tuổi trở đi, khía cạnh xã hội vượt trội lên thành trọng tâmpháttriển. Tới tuổi vào đại học, cả ba khía cạnh này dồn lại cùng một lúc, và mặc dù khía cạnh xã hội cóthể vẫn còn lấn lướt các khía cạnh kia người sinh viên có những nhu cầu phát triển sinh lý và tâm lý mới, khác hẳn với tính chất phát triển của các giai đoạn tuổi trước đó.
Trong các giai đoạn tuổi tiền đại học, việc phát triển tâm lý và sinh lý có tính cách khách quan và đương nhiên. Cá nhân đứa trẻ hầu như chưa nhập cuộc vào việc phát triển này. Cùng với sự tăng trưởng về tuổi tác, đứa trẻ tăng trưởng về sinh lý và tâm lý. Nói một cách khác, tiến trình phát triển của đứa trẻ tới khoảng tiền trưởng thành là một tiến trìnhnở ra của các khả năng tính sẵn có trong nhiều sắc thể cộng với việc : điều chỉnh tự nhiêncủa khả tính này với hoàn cảnh chung quanh. Điều chỉnh tự nhiên đây có nghĩa là điều chỉnh theo luật tự nhiên như gặp nóng thì co tay lại, thấy đau thì òa lêu khóc v.v... Tiến trình vừa nở ra vừa điều chỉnh tự nhiên này tới khoảng tuổi tiền đại học, tức tuổi thiếu niên, trở nên phức tạp hơn. Ởtuổi này người thiếu niên bắt đầu ý thức sự có mặt của yếu tố chủ quan trong tiến trình phát triển của nó, đồng thời cái tiến trình phát triển tự nhiên vẫn đương tiếp tục, mà tiến trình này nay lại nở ra một khung trời mới, đó là khung trời xã hội, hay nói cách khác, liên hệ giữa người với người trong hoàn cảnh sống chung quanh, sở dĩ đứa bé ở tuổi thiếu niên ý thức được sự có mặt của yếu tố chủ quan, yếu tố « cáitôi» vì quá trình phát triểntrước nó đã thu thập được những hiểu biết đặc thù phân biệt nó với người khác. Hiểu biết đặc thù này sở dĩcó được một phần vì cái khả tính của nóđược nở ra càng rõ rệt hơn; một phần khác sự tiếp xúc của nó với chung quanh cóthểcó những điều kiện khác với những sự tiếp xúc và điều chỉnh của các đứa trẻ khác.Dần dà cả hai khíacạnh tiên thiên (khả tính) và hậu thiên (tiếp xúc và điều chỉnh) phát triển mạnh tạo ra một nội tại đặc thù nơi mỗi cánhân thiếu niên. Từ đó hình thành một « cái tôi», một chủ quan mỗi lúc một rõ
rệt. Cho nên tới tuổi thiếu niên, cá nhân gặp một mâu thuẫn lớn giữa tiến trình phát triển tự nhiên còn đang tiếp tục, với sự lớn đậy của «cái tôi» chủ quan cũng mỗi lúc một thêm rõ rệt. Mỗi mâu thuẫn giữa trong và ngoài, chủ quan và khách quan, giữa chủ thể và đương nhiên đã làm cho tình trạng tâm sinh lý của người thiếu niên hết sức phức tạp, nhiều khi khó hiểu đối với cha mẹ hay người lớn.
Tuổi tiền đại học phức tạp như thế nên nó có một tầm ảnh hưởng quan trọng tới tuổi đại học của thanh niên. Tùy theo cách đối xử của gia đình, bè bạn ; tùy theo cách đối xử của người chung quanh, của xã hội ngoài đời ; người thiếu niên có thể tự tạo cho mình những trạng thái tâm sinh lý hoặc bất lợi hoặc có lợi cho việc phát triển tiền trưởng thành của họ.
Người thanh niên bước chân vào đại học cóthể mang theo tất cả một quá khứtâm sinh lý, xã hội 18 năm trời mà chính họ cũng như người chung quanh không ý thức được. Cái quá khứ tâm sinh lý và xã hội ấy dồn lại nơi tuổi tiền trưởng thành, và đặc biệt bị ảnh hưởng trực tiếp nhất của tuổi tiền đại học. Trước khi vào đại học người sinh viên đã phần nào tạo cho mình một phản ứng có điều kiện nào đó, tùy theo cái điều kiện đã tạo ra cái phản ứng của họ. Họ cóthể rất nhút nhát, cũng có thể quá « bất cần đời» (mà xã hội người lớn thông thường nhìn như một thái độ « hỗn xược »). Họ có thể rất ủy mị ướt át, yếm thế, bi quan; họ cũng có thể hết sức lạc quan, thứ «lạc quan tếu » vô trách nhiệm. Họ cóthể luôn luôn ưu tư, lo nghĩ, bất mãn, muốn nổi loạn với hiện tại; họ cũng cóthểhồn nhiên, «ăn no ngủ kỹ », chấp nhận tất cả những gì xảy đến, không phản đối, mà hình như cũng chẳng hoàn toàn chấp nhận. Nói tóm lại người sinh viên khi bước chân vào đại học cóthể mang theo với họ những phản ứng đã được những hoàn cảnh gia đình, xã hội bè bạn, điều kiện hóa một cách nào đó sẵn rồi.
Điều quan trọng nhất chính là ở điểm tại tuổi đại học người thanh niên một lúc phải đối diện với toàn diện con người họ. Họ không còn thế chỉ bị đưa đẩy một cách khách quan và đương
nhiên bởi các luật tắc sinh lý, tâm lý và xã hội. Quá trình phát triển đương nhiên và nở ra hầu như bắt đầu bước vào giai đoạn chấm dứt. Nếu người thiếu niên (15-10 tuổi) cảm thấy sự lớn dậy của chủ ngã nhưng bất lực trước việc điều khiển và điều chỉnh các hoạt động tâm sinh lý và xã hội của mình, thì người thanh niên đại học bắt đầu một tiến trình phát triểnmới trong đó họ phải đối diện một lúc với cả ba khía cạnh tâm lý sinh lý và xã hội trong con người họ đồng thời phải chủ động được các sinh hoạt này. Nói cách khác, nếu trong giai đoạn trước người thiếu niên còn để cho các khía cạnh sinh hoạt này tự mở ra và tự điều chỉnh, thì từ giai đoạn tiền trưởng thành trở đi, người sinh viên phải làm chủ được quá trình điều chỉnh và phát huy này.
Như thế, khi bước chân vào đại học người sinh viên ở vào một giai đoạn phát triển đặc biệt. Một mặt cả ba khía cạnh tâm lý, sinh lý và xã hội đều hội nhập lại; mặt khác, người quá khứ tâm sinh lý phức tạp của 18 năm tiền trưởng thành dồn lại. Những phản ứng cùng nguyên do phức tạp này thường không được « người lớn » biết tới. Giáo sư hay cha mẹ thường nhìn các phản ứng có điều kiện này của người sinh viên như những hiện tượng khóhiểu và họ thường đem lối nhìn của « người lớn », một lối nhìn tương đối « ổn định » hơn, để phán xét về các thái độ «lạ lùng» của con em họ. Họ không hiểu rằng người sinh viên, ở 18 tuổi, không phải là một cá nhân trống rổng, mà ngược lại, người sinh viên phải đối mặt vớiđời sống và xã hội chung quanh với bao nhiêu yếu tố phức tạp về tâm lý và sinh lý mà nhiều khi ngay chính họ cũngkhôngthể nắm vững được. Ngay chính người sinh viên nhiều khi cũng không thểhiểunỗi những phản ứng hay thái độ và hành động của họ vì một lẽ dễ hiểu là nó quá phức tạp mà lại đã dồn tích lại từ 18 năm trời qua khiến cho chính họ cũng chỉ là một « kết quả » đương nhiên của cái quá khứ tâm sinh lý phiền tạp đó.
Người sinh viên trước ngưỡng cửa đại học là cả một thực thể sống động và toàn diện. Họ không những chỉ đối diện với chính
Cả hai việc này đều cần thiết. Ba khía cạnh tâm lý, sinh lý và xã hội vẫn có những nhu cầu phát triển chỉ khác ở tính chất. Về mặt tâm lý, nhu cầu đòi hỏi tâm lý phải được ổn định, hết ỷ lại, có tự chủ, khôngđể bị chi phối bởi những yếu tổngoại tại. Về mặt sinh lý, sinh lực dồi dào đòi hỏi được sử dụng, tạo nhu cầu phát huy khả năng sử dụng và kiếm soát sinh hoạt sinh lý. Về mặt xã hội, phạm vi xã hội bên ngoài mở rộng ra quốc gia và quốc tế đòi hỏi người thanh niên đủ khả năng và kiến thức đểcóthể gia nhập vào cuộc sống rộng lớn đó một cách tích cực và xây dựng.
Từ đó, chúng ta thấy đại học phải trở nên một môi trường thuận lợi cho sự phát triển quân bình cả ba khía cạnh sinh hoạt trên của người sinh viên để cuối cùng đào tạo được một con người toàn diện và tích cực. Người sinh viên cần được hướng dẫn để chuyển từ tinh thần ỷ lại sang tinh thần tự nhiên tự quản. Họ cũng phải trởnên những con người tự chủ, làm chủ được sinh mệnh của mình cũng như giúp làm chủ được sinh mệnh của toàn thể dân tộc.
Muốn thế một mặt người giáo sư phải hiểu được những khó khăn và nhu cầu phức tạp của sinh viên : mặt khác đại học phải tạo ra được một không khí thoải mái, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau. Nếu Đại học không tạo được không khí và tinh thần này sẽ là một trở ngại cho việc phát triển toàn diện người sinh viên. Thông thường không khí Đại học của nước ta hiện nay quá thiên trọng về khía cạnh tâm lý, mà ngay trong khí cạnh này cũng tại chỉ đểý phát triển mặt trí thức mà xao lãng các mặt tình cảm,ý thức...Tình trạng này làm cho sinh hoạt nghèo nàn dẫn tới các uẩn ức về mặt tình cảm, sinh lý và xã hội.
Cho nên Đại học muốn đóng vai trò của mình trong việc phát triển cá nhân sinh viên cần tổ chức các sinh hoạt phong phú và nhiều mặt.
Tất nhiên trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước khi mà tình hình chính trị và xã hội chưa ổn định, mọi kế hoạch phát triển chung cũng như riêng cho Đại học đều chưa thể hoạch định
và thi hành một cách toàn triệt được. Thêm vào đó việc giáo dục thanh thiếu niên không phải chỉ là công việc thu hẹp và cô lập trong bốn bức tường đại học mà cần sự cộng tác hổtương của sinh hoạt mọi mặt khác trong xã hội.
Tuy nhiên, sinh hoạt học đường hiện nay tập trung nhiều năng lực, trí óc và thời gian nhất của đa số thanh thiếu niên, và trách nhiệm giáo dục thanh thiếu niên vẫn còn đặt nặng nơi học đường. Cho nên đại học cần cố gắng cải tiến các sinh hoạt của mình để tạo môi trường thuận hợp hơn cho việc phát huy khả tính của sinh viên để họ cóthể vào đời một cách thành công và hữu ích cho việc phát triển xứ sở.
 
ĐOÀN VIẾT HOẠT

/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »