Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 8 (Năm 1971)

Tư Tưởng Số 8 (Năm 1971)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1971. Số trang: 95.

Chương 2: Bản Thuyết Trình Về Tình Yêu Trong Triết Học KIERKEGAARD (Trang 39 - 62)

BẢN THUYẾT TRÌNH
VỀ TÌNH YÊU TRONG
TRIẾT HỌC KIERKEGAARD

LÊ TÔN NGHIÊM
 
 
 
NGÀY nay, nghiểm nhiên Kierkegaard đã được lịch sử coi là một triết gia, hơn nữa còn là ông tổ của một triết học ảnh hưởng nhất của thời đại mệnh danh là triết học hiện sinh.
Nhưng ở đây, triết gia không còn mang những bộ mặt gò bó, khắt khe, nghiêm nghị và vô ngôi vị như những triết gia của truyền thống Platon và Aristote ; vì, môi trường hoạt động của triết học không còn là thế giới ngoại tại, mà là chính lòng của cuộc đời, nhưng cũng không phải cuộc đời chung của mọi người, của lũ đông mà là cuộc đời riêng tư, bí nhiệm của mỗi người trong những liên hệ đặc sắc nhất của nó với chính mình, với mỗi người chung quanh và với những gì linh thánh nhất.

 
Một quan niệm triết học như vậy, dĩ nhiên, không có thể suy diễn từ một số những khái niệm trừu tượng, rồi được liên kết với nhau thành một hệ thống lập luận với hy vọng giải quyết một lần xong những thắc mắc của trí khôn con người. Trái lại, nếu cuộc sống là một thực tại phức tạp biến thiên như ống nhòm muôn vàn mầu sắc thì những hình thức và khuôn khổ suy tư của nó cũng phải phức tạp, tế nhị và biến thiên như vậy.
Kierkegaard và cuộc đời của ông đã được phơi trần trong những sáng tác của ông. Trong đó, Kierkegaard tự xưng là chứng nhân của chân lý, chứng nhân của một thời đại suy vong, chứng nhân của một tín ngưỡng sa sút, chứng nhân của một mối tình dang dở. Những sự thật ấy sẽ mất đi nhiều mầu sắc thi vị và sinh khí nếu chỉ được trình bày qua những ý tưởng chết khô. Như thế, triết gia còn phải là thi sĩ, tiểu thuyết gia lãng mạn và nghệ sĩ : Kierkegaard đã thể hiện bộ mặt triết gia muôn mầu đó một cách trung thực nhất. Trong rất nhiều tác phẩm của ông, dù là những tác phẩm xem ra có tánh cách triết lý hệ thống nhất, ví dụ quyển « Tái bút» (Post-scriptum), triết lý cũng được diễn tả như một biến cố linh động, với những nhận xét tâm lý tinh vi, những kiểu cách khi khôi hài, khi nghiêm nghị, những huyền thoại lý thú, đồng thời với một biện chứng tư tưởng sắc bén, sâu xa thăm thẳm. Chỉ trong tinh thần ấy, chúng ta mới thưởng thức được giá trị chân thực và tài thuật nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ, triết lý của Kierkegaard, trong « Bài thuyết trình về Tình yêu » mà chúng tôi muốn giới thiệu hôm nay.
Bài thuyết trình được soạn thảo trong tập sơ luận nhan đề « In Vino Veritas » (theo nghĩa đen, Trong rượu mới có Chân
 
 
 
lý, nhưng theo nghĩa của ý thì nhan đề vừa có tính cách hài hước như kiểu người Việt thường nói : « Tửu nhập ngôn xuất», vừa có tính cách nghiêm nghị, cao siêu, vì tuy say sưa nhưng những lập luận của các đương sự ở đây lại rất vững vàng, chính xác, đôi khi cao siêu và huyền bí như tôn giáo).
Đây là một tập sơ luận thời danh thường được so sánh với tập đối thoại «Bửa tiệc » (Le Banquet) của Platon. Nhiều lần tập này đã được xuất bản riêng, không nằm trong khuôn khổ của một tác phẩm nào lớn, nhưng ngàynay tập này lại thường được xuất bản như thành phần của quyển « Những giai đoạn của cuộc đời » (Étapes sur le chemin de la vie) (bản dịch Pháp ngữ san dịch từ Đan mạch do E. Prior và M.H. Guignot, nhà xuất bản Gallimard, 1948, ấn bản 9). Ngoài nhan đề chính, tác phẩm còn mang thêm tiêu đề : « Etudes par plusieurs » (Những nghiên cứu do nhiều người viết), rồi được tuyển chọn và xuất bản do Hilarius, thợ đóng sách (Relieur) (đây là một tên bút khác của Kierkegaard), vì thực sự tác phẩm được xây dựng bằng nhiều chất liệu hợp lại thành một cơ cấu phức tạp, tương tự cơ cấu của quyển « Ou bien... Ou bien.. » (Đường này... hay đường kia...). Chủ đề và nội dung rõ rệt muốn trình bày về một hình ảnh con người trong khuôn khổ nhân sinh học, nhưng lại được diễn tả dưới một hình thức tiểu thuyết với sự cộng tác của nhiều diễn viên và nhân vật.
Chủ dề Nhân sinh học quen thuộc của Kierkegaard (vì đã trình bày trong Ou bieD... Ou bien... và Répétition) một lần nữa lại được diễn xuất ở đây thành 3 giai đoạn của cuộc đời, như nhan đề của quyển sách đãnói lên. Đó là những giai đoạn Hiếu mỹ (Stade esthétique) được diễn xuất lại một cách thi vị
 
 
 
trong tập sơ luận « In vino Veritas ». Tiếp đó, giai đoạn Đức lý (Stade éthique) lại được trình bày trong phần hai nhan đề là « Có tội hay không có tội ? » (Coupable ? Non coupable ?), phần này mang chữ ký của Frater Taciturnus. Nhân vật này thuật chuyện lại rằng : nhân một buổi đi câu cá, ông có lượm được một cái hộp bằng gỗ mun, bọc trong tấm vải gắn xi. Hộp đó có chứa một kho tàng nhiều bảo vật và một thủ bản vô danh. Thủ bản ấy đã được Frater Taciturnus vớt từ dòng nước lên và về sau được Hitarins thợ đóng sách ráp nối lại rồi mới cống hiến chúng ta như hiện nay. Tuy nhiên vì muốn tôn trọng tác giả vô danh, nên thủ bản chỉ được ký bằng những bút danh giả hiệu.
Nhưng theo nội dung thì đây là một câu chuyện về « một kinh nghiệm tâm lý » (expérience psychologique) tương đương với tập « Ký sự của chàng quyến rũ » (Journal du Séducteur) ; trong câu chuyện ấy, tác giả đã dùng hình thức biến ngôn để hồi niệm lại trong ký ức cuộc đính hôn và mối tình dang dở.
Tác phẩm, sau cùng, được kết thúc bằng một số những sơ luận khác nhau về kinh nghiệm bi đát, và từ kinh nghiệm bi đát ấy tâm hồn đương sự mới vươn lên tới những giới tuyến cao siêu của lãnh vực tôn giáo. Đó cũng là phản ứng về sau và là giai đoạn thứ ba trên cuộc đời sau giai đoạn Tôn giáo (state religieux).
Nói tóm, tác phẩm « Etapes sur le chemin de la vie » là một trong những thành công về văn ký triết lý của Kierkegaard. Cơ cấu của nó là một cơ cấu lý tưởng, nội dung củanó vừa đầy tính chất huyền thoại vừa đầy tính chất xác thực của một tiểu sử. Tuy nhiên, cơ cấu nội dung ấy phảng phất nói lên và nhắc nhở ta hình ảnh của những sáng tác khác tương tự của Kierkegaard, nhưng

 
nội dung cụ thể của nó như vừa trình bày trên đây lại thể hiện một sáng tác độc đáo khác không thể chối cãi, vì ở đây cả những gì thơ mộng và biện chứng nhất, cả những gì hài hước và thần bí nhất cũng đều được sử dụng một cách khéo léo như sau, để phác họa một bức tranh nhất trí, phản chiếu và suy tôn cuộc đời bi thương của Kierkegaard.
Trong ba thành phần trên, rõ rệt phần thứ nhất là phần đặc sắt nhất. Chính sáng tác này đã nói lên tài thuật văn sĩ, tiểu thuyết gia và nghệ sĩ của Kierkegaard triết gia một các rõ rệt nhất.
Ngoài nhan đề « In vino veritas », sách báo còn ghi thêm tiêu đề « Một kỷ niệm được hồi ký lại do William Afham » (Un souvenir rappelé par William Afham).
Tiểu đề với tiếng « kỷ niệm » muốn nhấn mạnh trên một điểm quan trọng đó là sự khác biệt giữa « sự nhớ lại » (une mémoire, un rappel) và « kỷ niệm » (souvenir). Trong bài Phi lộ, Kierkegaard đã mở đầu bằng sự phân biệt ấy với những nhận xét rất tinh vi, sâu xa về « kỷ niệm ».
« Kỷ niệm không thể nào đồng nghĩa với nhớ lại » (Se souvenir n'est en aucune façon identique à se rappeler) (trg 17).
« Nhớ lại là một tác động trực tiếp, và nó chấp nhận một trợ giúp trực tiếp, còn kỷ niệm chỉ có thể là phản tỉnh. Kỷ niệm đòi hỏi cả một nghệ thuật » (La mémoire est immédiate et elle reçoit une aide immédiate, tandis que le souvenir n'est que réfléchi. C'est un art que de se souvenir) (trg. 20).
« Một khi được tiếp vận một cách liên lục, nhớ lại đóng góp cho tâm hồn những chi tiết làm đãng trí kỷ niệm. Như thế sự hối hận là một kỷ niệm của lỗi lầm đã vấp phạm. Nhưng tôi lại nghĩ rằng : theo quan điểm tâm lý học, tổ chức cảnh sát lại
 
 
 
không giúp cho tội nhân hối hận bao giờ, vì một khi bỏ buộc phải chú ý và ghi nhận luôn mãi diễn tiến cuộc đời của mình, tội nhân chỉ thêm điêu luyện sự nhớ lại thôi. Nếu vậy một khi người ta chỉ kể lể lại đời mình thì lý tưởng của kỷ niệm đã bị xua đuổi mất. (. . .) (vì vậy) Điều kiện tối cần cho mọi sáng tạo là khả nănq kỷ niệm » (trg. 21).
Như thế :
« Tuy rằng giữa sự nhớ lại và kỷ niệm có một khác biệt lớn lao, nhưng thường tình người ta lại hay lẫn lộn chúng với nhau. Trong cuộc sống con người, chính sự lẫn lộn ấý lại là cơ hội giúp ta đi vào tính cách sâu xa riêng biệt của chúng. Vì kỷ niệm là lý tưởng và do đó kỷ niệm mang nặng chĩu những ý nghĩa và trách nhiệm hơn là sự nhớ lại một cách suông tình » (trg. 18).
« Mỗi kỷ niệm không những phải chính xác mà mỗi kỷ niệm cần phải là kỷ niệm sung sướng ; ví như ve dầu thơm, kỷ niệm phải giữ được hương thơm của biến cố đã sống, trước khi nó được gắn xi lại. Ví như trái nho là thứ trái ép thành rượu, nhưng không phải bất cứ lúc nào ép nó cũng được, hay ví như thời giờ để ép rượu cũng có một ảnh hưởng trên chất rượu, thì những gì đã sống cũng không thể là đối tượng cho ký ức hay xâm nhập ký ức ta bất cứ lúc nào, với bất cứ những điều kiện nào cũng được » (trg. 17).
« Kỷ niệm còn có nhiệm vụ bảo trì tính cách liên tục hằng cữu trong cuộc đời của một con người và để bảo đảm cho nó một tồn tục « liên lỉ » (un tendue), như một hơi thở dài duy nhất và tự thể hiện thành nhất trí » (Tg. 16).
« Bằng kỷ niệm, con người kéo một nét dài ghi lại cái hằng cữu, vì hằng cữu là một vị thầy rất nhân đạo, vì nó tôn trọng
 
 
 
tất cả mọi giao kèo, và tin rằng : ai ai cũng đều có khả năng trang trải hết mọi nợ nần » (trg. 18).
Với những đặc tính cao quý trên, kỷ niệm cần tới những điều kiện đặc biệt mới bảo trì được.
« Để một kỷ niệm cóthể bảo trì được, cần phải am hiểu những mâu thuẫn giữa những tình cảm, những hoàn cảnh và vị trí của chúng nữa. Chính vì thế mà ở kịch trường người ta thường hồi nhớ một biến cố « ái tình », dễ dàng hơn, vìyếu tố hấp dẫn nhất của biến cố « ái tình » chính là vị trí cô đơn và thân mật của đời sống đồng quê » (trg. 20).
Vì thế : « Mỗi người phải tự tay quay cho máy ép của kỷ niệm hoạt động.Đó không phải là một tai ương, vì mỗi người chỉ bảo trì được kỷ niệm có một mình nghĩa là bất cứ kỷ niệm nào cũng là một bí mật cả » (trg. 21).
Nói tóm : « Bất cứ ai một khi hiểu được thế nào là một kỷ niệm thì họ sẽ luôn luôn bị nó quyến rũ và không bao giờ thôi bị quyến rũ ; và kẻ nào chỉ bảo trì được một kỷ niệm mà thôi thì họ còn giàu có hơn cả trần gian này hợp lại ; không phải chỉ có những người sinh đẻ mới sung sướng mà trên hết những ai biết kỷ niệm mới thực là sung sướng ». (trg. 253)
« Bài thuyết trình về Tình yêu » đây chính là sản phẩm của kỷ niệm ấy. Nó đã được cưu mang trong những điều kiện lý tưởng nhất. Đó là khu rừng Gribskov với vị trí và thời gian tịch mịch nhất ; một góc rừng có 8 con đường giao nhau, nhưng lại là góc rừng có tịch nhất (11 y a réellement huit chemins, mais malgé cela, quelle solitude ! ) (trg. 23). Ở đây không một bóng ai lai vãng ngoại trừ làn gió, một thứ giókhông từ đâu tới và sẽ thổi về đâu.
 
 
 
Nếu lời thi sĩ mà nghiệm nghĩa là, theo ông « người sống sung sướng nhất là người biết sống trong ẩn dật », thì thực tôi là người sung sướng nhất vì đã khám phá ra xó rừng này, để kỷ niệm !
Vậy phải nói rằng : cảnh rừng cô tịch lớn mạnh lên như một bóng cây hay như sự im lặng. Đó là lời nói thần diệu có sức mạnh trừ tà, vì còn gì đáng say sưa hơn im lặng !
Sự im lặng của cô tịch là một cái linh thánh, tất cả những gì quấy rối nó đều mang tội.
« Kỷ niệm » ấy chính là kỷ niệm « Bửa tiệc » được thết đãi linh đình vào một một đêm lúc 10 giờ, cuối tháng bảy.
Người thuật chuyện không nhớ đúng ngày nào cũng không nhớ đúng năm nào, vì ông nhắc lại « ngày và năm là những chi tiết chỉ cần thiết cho sự nhớ lại chứ không cần thiết cho kỷ niệm. Vậy chỉ còn lại khung cảnh và những gì tiện lợi với khung cảnh ấy còn được « kỷ niệm » không khác gì rượu chỉ ngon là khi những hạt nước lăn tăn lan dần đi trên mặt nước : cũng thế chỉ khi nào những chi tiết của sự nhớ lại tan biến hết thì kỷ niệm mới hiện lên sáng ngời.
Theo kỷ niệm ấy thì trong bữa tiệc có năm vị khác cùng đồng ẩm : hai người không rõ tên, chỉ được gọi là « một chàng thanh niên » (Le jeune homme), không quá 20 tuổi, tầm vóc mảnh khảnh, thon thon và nước da ngăm đen, vẻ mặt trầm tư, nhưng đáng yêu nhất là bộ điệu quyến rũ bên ngoài của anh ta, như biểu lộ được tính chất cao thượng của một tâm hồn hòa nhịp hoàn toàn với tính chất tế nhị quá tự nhiên và kiều diễm như đàn bà.
Nhưng bộ điệu bên ngoài ấy lại thua kém xa những gì xuất hiện ra từ nội tâm của anh ta : như được mơn trớn bởi tư
 
 
 
tưởng và được dinh dưỡng bằng những khích lệ của linh hồn anh ta không còn liên hệ gì với thế giới chung quanh, không bị khích động, không bị quấy phá, không bị quyến rũ. Tương tự như một kẻ mộng du, anh ta chỉ nhận được những chỉ thị từ bên trong.
Người thứ hai không tên được gọi là « thương gia thời trang » (le marchand de modes). Đó là địa vị xã hội của anh ta. Thực khó mà mô tả anh ta cho đúng ! anh mặc bộ đồ thời trang nhất, uốn tóc, xức dầu thơm Cologne. Bộ điệu của anh ta không đứng đắn, nhưng lập tức sau những cử chỉ suồng sả, anh ta tỏ ra nghiêm nghị, đoan trang kèm theo một vài nét nhí nhảnh.
Người thuật chuyện kể lại rằng : mỗi khi nhớ lại anh ta, tôihiểu anh ta hơn là khi tôi thấy anh ta từ xe bước xuống và không làm sao tôi nín cười nổi.
Tuy nhiên, nơi anh vẫn tiềm tàng một cái gì mâu thuẫn : vì thường thường anh tahay có vẻ nực cười và không hoàn toàn thỏa mãn với chính minh, nhưng đôi khi anh cũng còn biết suy tư.
Ngoài hai quý khách đồng ẩm trên, còn thấy kể đích danh ba nhân vật khác màkhông mô tả, đó là Johannes le Séducteur, Victor Enemita và Constantins Constautins (tất cả đều là những biệt danh khác nhau của Kierkegaard) cùng dự tiệc.
Với năm nhân vật khác nhau như thế, xem ra khó lòng tổ chức được một bữa tiệc chung, tuy nhiên chỉ nhờ khả năng của Coustantins Constantins mà bữa tiệc đã thành tựu, nhất là bài thuyết trình về tình yêu sau khi mãn tiệc. Dự định đã được đem ra thảo luận tại một tiệm bánh ngọt, những chi tiết và nghi thức của bữa tiệc cũng đã được quyết định nơi đây. Sau một thời gian, cácđương sự đều nhận được thiệp mời nhập tiệc do

 
chính tay Constantins Constantins viết. Trong mỗi tấm thiệp đều có ghi tượng trưng của bữa tiệc bằng những dòng chữ « In vino veritas ». Ý nghĩa của tượng trưng là muốn nói rằng : Những người trong buổi tiệc không những được phép trò chuyện mà còn được thuyết trình những diễn văn, nhưng những diễn văn này chỉ được thuyết trình khi say rượu, (in vino), vì vậy không một chân lý nào ngoài chân lý khi say rượu được chấp nhận, vì rượu mới là tiêu biểu cho chân lý cũng như chân lý là tiêu biểu cho rượu (Il serai permis non seulement de tenir des conversations, mais aussi des discours, mais que ceux ci ne devaient pas se faire sans qu‘on soit in ueno, et qu'aucune autre vérité que celle qui se trouve in veno n‘y devait être proclamée, le vin étant la défense de la vérité, comme la vérité celle du vin) (trg. 30).
Giờ dự tiệc đãđiểm : hai cánh phòng tiệc mở toang ra. Giữa những ngọn đèn sáng lung linh, với hương hoa ngào ngạt từ phòng tiệc tỏa ra, với mùi vị khoái khẩu từ những món ăn xông lên, các quý khách đến dự tiệc như bị trào giạt bởi những làn sóng tươi mát ồ ạt cuộc đời. Và khi dàn nhạc trổi lên Vũ điệu nhạc Don Juan, mọi người đều nín thở, như bị một mã lực gì lôi cuốn vào một mê hồn trận. Họ say sưa, sung sướng, như ngất ngây !
Tất cả đều xích lại gần nhau, ngoại trừ Victor ngồi hơi xa một chút nhưng cũng đang say đắm triền miên trong dòng sóng nhạc ; bỗng dưng anh ta lớn tiếng ca tụng Mozart bất hủ.
Đang khi đó, dàn nhạc lại trổi bài mời gọi Ca vũ ; với giọng điệu hơi ngạo nghễ Johannes lập lại : Hoan hô tự do (Vive la liberli) — và chàng thanh niêu hô tiếp : Hoan hô chân lý nữa (et veritas), nhưng Constantins vừa ngồi vào bàn tiệc vừa hô hào những người khác ngồi rằng : « nhất là trong say rượu » (surtout in vino) (trg. 31).
 

 
 
 
 
Lập tức mọi người đều ngồi vào bàn tiệc, tâm hồn như tràn ngập những niềm vui vô bờ bến. Mọi ý nghĩ, mọi cảm tưởng đều đổ dồn vào những món ăn ngon, những rượu mạnh, những điệu nhạc hay. Những câu chuyện trao đổi trong bàn tiệc cũng không ra ngoài việc ca tụng rượu mạnh, món ăn ngon, điệu nhạc hay,
Tuy như có mặt khắp nơi trong phòng tiệc, nhưng từ đầu đến đây, Constantins mới cất tiếng hô hào quý đồng ẩm cùng hát bài hát cổ xưa « để nhớ lại thời kỳ vui vẻ xưa kia lúc đàn ông đàn bà cùng nhau ngồi bàn tiệc ». Tiếp đó, thương gia thời trang đề nghị hát bài : « Một ngày kia khi tôi sẽ bước chân vào the phòng, tralala ! tralala ! »
Sau khi dùng xong mấy món, Constantins lại đề nghị khi mãn tiệc mỗi người phải thuyết trình một diễn văn có mạch lạc, theo hai điều kiện sau đây : Một là chỉ nói sau bữa tiệc, hai là không ai được nói nếu không chứng minh rằng : mình đã thực sự túy lúy say sưa, vì chỉ khi say rượu mới có và nói ra chân lý.
Chủ đề của buổi thuyết trình là « về tình yêu hay những liên quan giữa đàn ông và đàn bà » (tr. 33).
Những điều kiện đã được chấp thuận : họ lại bắt đầu ăn nữa, uống nữa và càng uống nhiều đến độ say lưng tưng như người Do thái nói, nghĩa là họ uống một cách vui tươi.
Sau khi dùng món tráng miệng thì đúng 12 giờ khuya điểm, Constantins ra lệnh cho cử tọa im lặng, nâng ly chúc mừng chàng thanh niên và yêu cầu anh thuyết trình trước hết :
— Chàng thanh niên :
Thể theo đúng như điều kiện đã chấp thuận, chàng thanh niên đứng lên tuyên bố anh ta đã cảm thấy say nồng men rượu.
 
 
 
Sau đây là những lập luận chính yếu của anh ta về tình yêu :
• Tình yêu quả là một đối tượng không thể giảng nghĩa.
« Mỗi khi suy nghĩ về tình yêu, tôi gặp toàn là những mâu thuẫn. Đôi khi cảm thấy dường như cóđiều gì khóhiểu, không biết nói là gì, nhưng lập tức khi suy nghĩ rồi tôi cũng lại thấy là mâu thuẫn. Vì thế tôi quan niệm « Ái tình » là một mâu thuẫn không thể tưởng tượng được và đồng thời là một cái gì khôi hài nhất, vì mâu thuẫn và khôi hài là một : khôi hài bao giờ cũng nằm trong phạm vi của mâu thuẫn. Đó là điều tôi không thể giảng nghĩa một cách chi tiết ở đây. Nhưng điều tôi muốn nói cùng quý vị chứng minh ở đây là tình yêu khôi hài. (L‘amour est comique). Tình yêu tôi muốn nói ở đây là liên hệ giữa đàn ông và đàn bà, chứ không phải thứ « tình yêu » (Eros) theo nghĩa Hi lập, đã được Platon hết lời ca ngợi, vì với Platon, không nên quên rằng : Ông ta không nói đến tình yêu đối với đàn bà. Ởđây họ chỉ được ghi nhận để thông qua và tình yêu đối với đàn bà còn bị coi là bất toàn hơn tình yêu đối với những đứa con trai nhỏ.
Vậy tôi nói rằng tình yêu là khôi hài nghĩa là đối với một đệ tam nhân. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. Không biết có phải vì vậy mà các cặp tình nhân không ưa có đệ tam nhân không thì tôi không biết. Nhưng tôi biết rằng sự suy nghĩ luôn luôn là một đệ tam, và vì thế tôi không thể yêu mà không đồng thời là đệ tam cho tôi trong suy nghĩ của tôi. (...)
Vậy trước hết tôi coi tình yêu là khôi hài vì những người yêu và những người muốn yêu, nhưng không ai biết mình yêu cái gì và đối tượng đích thực của tình yêu là gì. (...)
 
 
 
Khi tôi hỏi rằng cái gì đáng được yêu ? thì khổ thay ! không một ai đã cóthể trả lời. Mỗi người yêu luôn luôn tin rằng họ biết tất cả những gì xảy ra chung quanh, nhưng họ khôngthể làm cho người khác hiểu họ. Người nào đã nghe được những gì hai người tình nói với nhau thì họ sẽ nhận ra rằng : tuy cùng nói về một điều (là tình yêu), nhưng không một ai nói như nhau (...) »
Nói tóm « đó là điều nan giải mà tôi không sao hiểu nổi » (tr. 35-36).
•Là lý tưởng, nhưng tình yêu lại thể hiện ra trong cái gì thô thiển nhất.
« Con người có hồn có xác, đó là điều những nhà hiền triết và những trí óc thông minh đều đồng ý. Như thế nếu người ta còn coi sức mạnh của tình yêu là ở liên quan giữa những yếu tố nữ tính và nam tính thì một lần nữa khôi hài lại xuất hiện bằng một sự trở mặt, nghĩa là tình yêu như một sức sống tinh thần cao quý nhất lại thể hiện ra một cái gì dục vọng nhất (La vie sprituelle la plus élevée s'exprime dans ce qu'il y a de plus sensuel (...) Hai tâm hồn yêu nhau hứa hẹn yêu nhau muôn đời ; thế rồi họ ôm ghì nhauđể ký thỏa hiệp muôn đời ấy bằng một cái hôn. (Deux âmes amoureuses se promettent l'une à l'autre qu'elles s'aimeront pour toute l'éternité ; ensuite elles s'étreignent et scellent ce pacte éternel par un baiser) (trg. 39).
Và ở đây « một lần nữa tôi lại chạm trán với một cái gì nan giải » (trg. 40).
•Là tình keo sơn giữa hai người, tình yêu lại đương nhiên sinh thêm một người thứ ba.
«Khi những tình nhân muốn thuộc trọn thành sở hữu của nhau thì họ biểu lộ ước muốn ấy bằng cách ôm ghì lấy nhau say
 
 
 
 
đắm, và như thế họ tưởngrằng đã tận hưởng được niềm vui vô tận và hạnh phúc tuyệt vời của tình yêu. Nhưng bất cứ niềm vui nào cũng đều ích kỷ. Nói đúng ra niềm vui giữa tình nhân đối với tình nhân của mình thì không ích kỷ, nhưng khi hai niềm vui nhập một thì lại hoàn toàn ích kỷ, vì họ ướcao rằng : ca hai đều trở thành một.
Nhưng họ lầm ; vì chính lúc đó là lúc nòi giống đã chiến thắng cá nhân, và một khi nòi giống chiến thắng thì mọi cá nhân đều phải hàng phục tuân lệnh nó ». (tr. 42).
Quả như Schopenhauer cũng đã nhận xét: tình yêu chỉ là một cạm bẩy thiên nhiên gài để bắt những người yêu phải truyền chủng.
Như thế « thay vì sống cho nhau, đôi tình nhân đã tất nhiên sống cho nòi giống, mà không cần nghi ngờ hay thắc mắc chi cả » (trg 42).
Thế rồi « tình nhân đàn ông sẽ được gọi bằng « cha » và tình nhân đàn bà sẽ được gọi bằng « mẹ » và với họ từ đây những tên ấy là những tên đẹp nhất ». (trg 43).
Nói tóm, vì những mâu thuẫn trên đây của tình yêu, mà chàng thanh niên thú nhận đã từ chối không đi vào con đường của tình yêu. (trg 44).
Thuyết trình xong, chàng thanh niên ngồi xuống, với vẻ mặt đẹp trai hơn khi trước nhiều.
Lập tức chàng Johannes muốn nêu lên những thắc mắc và nghi vấn về bài thuyết trình của chàng thanh niên, nhưng bị Constanlius chủ tịch chận lại, không cho tranh luận và ra lệnh, phải tiếp tục thuyết trình. Tuân lệnh, Johannes lại xin nói sau hết.

 
— Constantins bắt đầu nói như sau :
Có khi phải im lặng, có khi phải nói, bây giờ là giờ phải nói và nói vắn tắt ; vì ông bạn thanh niên của chúng ta đã nói quá nhiều và nói một cách kỳ khôi. Khả năng khôi hài của ông đã đẩy chúng ta vào một trận chiến không lối thoát, vì bài diễn văn của ông ta đầy những thắc mắc đến nỗi chính ông khi ngồi lại với chúng ta cũng phải đâm ra do dự, không biết phải cười hay phải khóc hay phải si tình.
Phải, nếu biết trước bài diễn văn của ông như ông tự phụ đã phỏng đoán về tình yêu thì tôi đã không đểông nói. Nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi ! Vậy thưa quý vị, tôi yêu cầu quý vị hãy « vui lên và hoan hỉ thêm ! » để quên đi những gì đã nghe lập tức sau khi bài diễn thuyết chấm dứt.
Tiếp đó Constantins thuyết trình về đàn bà như sau :
• Đàn bà chỉ là một trò đùa. Constantinsquan niệm rằng : đây là một khám phá phi thường (une découverte hors de pair) của ông muốn đem ra trình bày nơi công chúng, ông nói :
« Duy có một quan niệm đúng về đàn bà lại nằm trong phạm trù trò đùa (La seule conception juste de la femme se trouve dans la catégorie de la plaisanterie). Đàn ông thì phải nghiêm nghị, tuyệt đối, bằng hành động trong tuyệt đối, phải biểu lộ trong tuyệt đối ; còn đàn bà thì thuộc vào liên quan, tương đối. Đó là những ranh giới tách biệt giữa hai phái, nhưng giữa hai phái khác biệt nhau đến như vậy khó lòng có thểcó một tương quan nào thực sự được. Chính sự chênh lệch ấy lại biểu thị sự trò đùa rõ rệt nhất, và với đàn bà mà trò đùa đã xâm nhập vào trần gian này (avec la femme la plaisanterie est entrée dans le monde). Nhưng, dĩ nhiên là đàn ông phải tuyệt đối, nghiêm nghị, nếu không sẽ không đi tới đâu cả hay chỉ đi tới
 

 
 
 
 
một cái gì rất tầm thường nghĩa là đàn ông đàn bà chỉ hòa hợp nhau bên này một nửa bên kia một nửa ». (tr 46)
• Không phải một ý niệm hiếu mỹ, trò đùa là một ý niệm đức lý, nhưng đức lý ở một tình trạng phôi thai mà thôi.
Với ý niệm đạo đức về trò đùa, Constantins muốn giải thích rằng : Đàn bà là trò đùa và chỉ được coi là trò đùa mà thôi, vì tuy không hoàn toàn là hiếu mỹ mà đã là một cái gì thuộc phạm vi giá trị luân lý, nhưng là trò đùa đàn bà vẫn không thể nhìn theo quan điểm luân lý tích cực được :
« Trò đùa không phải một phạm trù hiếu mỹ, nhưng là một phạm trù đạo đức ở tình trạng phôi thai (éthique à l‘ctat embryonnaire). Đối với đời sống, phạm trù này gây một cảm tưởng tương tự khi một người bắt đầu bài diễn văn một cách trịnh trọng, lại cứ chậm rãi đọc từng dấu phẩy, hay hai dấu phẩy với một giọng cũng trịnh trọng, rồi « hắng giọng » lại đọc từng dấu nối, thế rồi im luôn. Với đàn bà là như thế ? Người ta nhìn họ bằng phạm trù đạo đức, thế rồi nhắm mắt lại, người ta nghĩ về tuyệt đối bằng những yêu sách đức lý, người ta nghĩ tới một con người, mở mắt ra, người ta nhìn thẳng vào một cô gái đức hạnh. Như thế người ta đã có đủ kinh nghiệm để thi hành một trò đùa. Nhưng lúc ấy người ta mới thấy hổ thẹn và tự nhủ : vậy ra đây chỉ là một trò đùa. Vì trò đùa là nhằm phạm trù mà bắn, nhưng thay vào chỗ của phạm trù hãy đặt một cô gái làm đích để bắn, vì ở đây cái nghiêm nghị không bao giờ có thể trở thành nghiêm nghị, nhưng chính đó mới là trò đùa ; vì nếu người ta cóthể đòi hỏi được cô gái sự nghiêm nghị thì sẽ không còn phải trò đùa nữa (car la plaisanterie consiste à mettre la catégorie en joue et à y exposer demoiselle parce que le sérieux ne peut jamais devenir du sérieux, mais c‘est

 
précisément cela la plaisanterie, car si on osail l’exiger de la demoiselle, ce ne serait pas de la plaisanterie) (tr 46).
•Để tránh được những nguy cơ trầm trọng, phải nhìn đàn bà là trò đùa mà thôi.
« Nếu không nhìn đàn bà như thế, họ có thể gây ra một tai họa vô phương giải tỏa ». (tr 46).
•Vì đàn bà dễ dàng lừa dối, dễ dàng đổi thay.
« Với một người đàn ông, không gì kinh hoàng cho bằng bất chợt bị bắt quả tang đang, nói chuyện tầm bậy. Như thế thì không còn thể thống gì cả !
Nhưng với đàn bà thì khác. Họ có đặc ân từ nguyên thủy là cóthể hóa thân trong vòng non 24 tiếng đồng hồ thành một câu chuyện hồ đồ vô tội vạ và dễ dàng tha thứ nhất. Vì với một tấm lòng thành thực, họ không bao giờ muốn lừa đảo ai ; họ chỉ đã nghĩ những gì họ đã nói thôi, nhưng hiện giờ thì họ lại nói khác, thế thôi ! và với một thái độ ngây thơ đáng yêu, vì hiện giờ họ sẵn sàng chết cho điều ngược ngạo họ đang nói ra.
Hình như đây là kỷ niệm hình ảnh đau đớn của người tình cũ tức Regine Olsen của Kierkegaard ?
•Tuy nhiên là « phái yếu », đàn bà dễ được tha thứ hơn đàn ông :
« Điều bi đát nhất là ở chỗ đàn ông không thể sửa chữa được lỗi lầm, và điều cực trí nhất trong sự đau khổ của họ là vì đau khổ ấy không có ý nghĩa, đó là điều khá kinh khủng. Và dùng súng lục bắn chết một người đàn bà, hay khiêu khích họ, khinh rẻ họ, tất cả những hành vi đó đều làm cho người đàn ông trở thành buồn cười, vì đàn bà thuộc phái yếu. Quan niệm ấy mỗi lúc mỗi trở lại và làm rối ren tất cả. Khi một người đàn bà làm được một cái gì lớn, người ta khen ngợi họ hơn khen ngợi đàn ông,

 
vì người ta không dám chờ đợi điều đóở đàn bà. Hay khi một người đàn bà lầm lỡ thì mọi người đều thương, nhưng khi một người đàn ông lầm lỡ thì người ta chỉ thương ông ít và chỉ nhẫn nại với họ rất ít và đang khi có mặt họ thôi, nhưng vắng mặt họ, người ta sẽ chỉ cười ông ».
Vì vậy « người ta rất có lý khi không ngần ngại coi người đàn bà là một trò đùa ». (tr 48)
•Đàn bà có thể làm điều phi lý nhung vẫn tìm ra lý để biện hộ cho có lý :
« Tất nhiên bất cứ người đàn bà nào cũng đều có khả năng sa lầy trong phi lý và tìm ra ở đó được giải thích ; hơn nữa, họ còn làm thế với một vẻ kiều diễm, một thái độ tỉnh bơ và chắc chắn, là những đặc sắc gì riêng của phái yếu. (Il est certain que toute femme a la possibilité de se perdre dans le nonsens et d‘y trouver son explication et ceci avec son charme, un sous-gêne et une assurance qui seuls conviennent au sexe faible) (tr. 49).
•Đàn bà trung thành hay không trung thành ?
« Người ta đãnói nhiều về sự trung thành của đàn bà, nhưng ít khi người ta nói một cách đúng đắn. Theo quan điểm thuần túy hiếu mỹ thì sự trung thành ấy thuộc khả năng của nhà thi sĩ như một tà ma xuyên qua sân khấu để tìm người yêu của mình ; tà ma ngồi trên khung cửi để chờ người yêu— vì một khi gặp được người và người yêu đã đến rồi, phải, thì bây giờ hiếu mỹ không còn biết những gì chung quanh nữa. (Những sự trung thành ấy lại là một sự bất trung) (vì) một khi sự bất trung ấy được đặt liên hệ trực tiếp với sự trung thành trên đây, thì sự bất trung ấy được nhìn theo quan điểm đức lý. Và lúc đó sự ghen lương lại ập tới như một đam mê bi đát.
 
 
 
Hết thẩy có ba trường hợp mà hai đã thuận lợi cho đàn bà rồi, vì hai làm nổi bật lên sự trung thành còn trường hợp thứ ba mới sinh ra bất trung thành. Sự trung thành của họ rất lớn, vượt ngoài mọi ngôn ngữ, bao lâu họ chưa tin chắc được người yêu của họ, và sự trung thành ấy còn lớn hơn nữa khi họ ban bố sự trung thành của họ cho đàn ông ; còn trường hợp thứ ba là trường hợp bất trung thành của họ. (tr 50)
Một khi đàn bà thề thốt yêu đương thì họ thề thốt chết vì yêu đương, nhưng trong sự thề thốt chết ấy đã tự nhiên có một sự phản bội rồi :
« Một khi đặt tình yêu và sự chết liên hệ với nhau và thoạt khi người ta ghi lấy ý tưởng ấy, một cách ý thức, thì luôn luôn phải giữ một tối thiểu nghiêm nghị thôi vì đây là trò đùa (...)
« Người đàn bà yêu thì chết vì tình yêu. Đó là điều chắc chắn vì họ đã nói thế rồi. » (La femme qui aime meurt dans d‘amour, c'est certain, car elle La dit elle-même) (tr 50).
Khi nói điều ấy Constantins thú nhận làông nói theo quan điểm đạo đức. Vì ông hô hào các bạn đồng ẩm hãy làm như thế và hiểu điều Aristote nói :
Vì « Aristote có lý khi nhận định rằng : thực sự đàn bà không phải sinh ra để phục vụ cho bi kịch (tragédie). Vì vậy họ chỉ đóng được những vai trò trong một bản kịch cảm động và nghiêm trang (pathétique eỉ sérieux) nhỏ và vắn thôi và không phải trong một bản kịch dài năm màn, mà là trong một bản kịch diễn xuất trong nửa giờ thôi. Vì đàn bà có chết thật. Nhưng một khi chết (vì yêu) như vậy rồi họ còn có thể bắt dầu yêu lại được nữa không ? Tại sao không ? vì rốt cuộc, nếu người ta làm cho họ sống lại được, nghĩa là nếu hồi sinh, họ lại trở thành một con người khác, và một diễn viên mới, một diễn viên mới bắt đầu, mới yêu có lần đầu tiên và như thế có gì là lạ ? » (tr. 51).      (Còn tiếp) -               


 
                                                             LÊ TÔN NGHIÊM


 
Sách LÁ BỐI
Đã bày bán khắp nơi :
* NHƯ CÁNH CHIM BAY truyện dài của VÕ HỒNG
  • Ai đã tham dự kháng chiến chống Pháp 45-47 nên đọc Như Cánh Chim Bay để thấy lại hình bóng mình ở đó.
  • Bạn chưa hân hạnh dự cuộc kháng chiến thần thánh nên đọc Như Cánh Chim Bay để thấy đàn anh đàn chị mình làm gì.
* GÓP NHẶT CÁT ĐÁ của Thiền sư Muju, Đỗ Đình Đồng dịch. Tác phẩm viết vào thế kỷ thứ 13. Những suy niệm về Zen.
* ẢO TƯỞNG tuyển tập truyện ngắn của 7 tác giả : Sơn Nam, Hồ Hữu Tường, Chinh Ba, Thiều Chi, Nhất Hạnh, Võ Phiến, Tuệ Uyển. (Tái bản lần I)
* BÔNG HỒNG CÀI ÁO của Nhất Hạnh
      Tái bản lần thứ năm 1971.
* ÁO EM CÀI HOA TRẮNG của Võ Hồng
      Tái bản lần thứ ba 1971.
Giữa tháng 9 – 1971 sẽ phát hành :
* LỊCH SỬ VĂN MINH ẤN ĐỘ của Will Durant, Nguyễn Hiến Lê dịch
      Sách dày khoảng 600 trang, số lượng in ít vì vốn in quá nặng, bạn dặn trước ở hiệu sách quen, đừng để mua không kịp như Sử Ký Tư Mã Thiên và Chiến Trang và Hòa Bình (Tái bản giá tiền tăng gấp đôi).
CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH I (tái bản) của Léon Tolstoi. Nguyễn Hiến Lê dịch
 
Nhà sách LÁ BỐI lô 0 số 121 Chung cư Minh Mạng SAIGON 10.
Mua sách tại LÁ BỐI được trừ nhiều hoa hồng. Bày bán các sách của các nhà xuất bản uy tín.
 
 
 
THƠ
  • TRẦN XUÂN KIÊM
  • CHU SƠN
  • NAM CHỮ
 
 
 
mộ khúc
 
bông hoa mới nở trong vườn
ta đưa tay ng
ắt tặng hương hồn người
t
ừ đây ngàn kiếp rong chơi
người ôm trăng ng
ủ trên đồi mây bay
 
♦
 
không còn ai, không còn đâu
chỉ còn cây cỏ run mầu khói sương
người nằm quên hết đau thương
hồn im tiếng hát cuối vườn chiêm bao

 
tống tửu
quán xưa rượu lạnh uống tràn
nhìn quanh chỉ thấy ghế bàn quạnh hiu
nhặt thưa đàn vắng hồn chiều
người đi ta thấy buồn thiu cõi đời
♦
uống đi rồi sẽ nghìn trùng
anh nằm đất lạ mịt mùng sương rơi
nốc chưa cạn chén rượu đời
hồn điên ta khóc mây trời tan hoang
hồn thu xanh
lệ khô người đứng bên ngàn
con chim ngày muộn điêu tàn tiếng kêu
gió về khởi lạnh hàng rêu
hồn mùa thu cũ bay vèo thinh không
viễn phố
em về tóc ủ sương khuya
gió bay tà áo mộng chia cùng người
phố xa chìm bóng mây trời
tướng nghe vang vọng điệu cười đêm nao
trông vời chỉ thấy ngàn sao
lung linh gởi lạnh buốt vào đời ta
 
TRẦN XUÂN KIÊM

 
bài ca chuyển kiếp
 
1
Tếch nhẹ gót hài em đã đến
một trời lụa trắng lao xao
ta là chim phượng hoàng mê đắm
trời của thơ hồn vỗ cánh phương nào
tóc đã xanh một thời huyền hoặc
môi thật hồng trăng với rượu ta say
nắm chặt đốc gươm chừ cười với bóng
nước loạn bao năm chừ tóc hóa mây
len lỏi rừng thiêng chừ ta ngậm ngải
cơm áo công danh chừ như khói bay
 
2
đường ngựa chạy gót hài tung cánh hạc
hương-sắc- thời - không chừ một với ta
thuyền với bến ngủ say cùng vĩnh cữu
giấc bình yên trong khắp cỏi ta bà
em chẳng đến chẳng đi
ta chẳng tìm chẳng đợi
saigòn không xa hà nội cũng không xa
cát bụi mười phương họp về chung một chiếu
rong rêu khắp thế giới ba ngàn
cùng hát bài ca huyền diệu
 
3
ta nghe bước em đi
lụa mát cả bầu trời
đêm tịch mịch đêm vô cùng tịch mịch
trời là ta chim phượng cũng là ta



                                                                        CHU SƠN
                                                           
 
 
 
thu hành
dưới kia tơ liễu
nhuốm xanh trời chiều
bên đàng đất lạnh
mấy bông tiêu điều
 
người lên đồi vắng
mấy lần tàn xiêu
những hôm quá cũ
nghìn trùng rong rêu
 
tôi nghe mây trắng
chảy trong đất trời
đau tim lẳng lặng
và cỏ cây ơi
 
mai này thu tận
tóc phai thu mờ
hồn trôi quamh quất
tôi nào thấy chi
 
tìm nhau đá cũ
dưới liễu xanh vong
 tàn thu úa nụ
thiên cổ ngồi trông
 
vườn trăng khuya sớm
kéo theo sương mù
người qua dương thế
mang mang rừng thu.


NAM CHỮ
 
 
 
/2
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »