Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 9 (Năm 1971)

Tư Tưởng Số 9 (Năm 1971)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1971. Số trang: 99.

Chương 1: Văn Hóa Đông Tây (Trang 1 - 15)

 
TƯ TƯỞNG
CƠ QUAN LUẬN THUYẾT CỦA VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
 

Chủ nhiệm :T.T. THÍCH MINH CHÂU
 
 
 
Ban Biên Tập:
THÍCH MINH CHÂU • THÍCH QUẢNG ĐỘ• NGUYỄN ĐĂNG
THỤC • NGÔTRỌNG ANH•TÔN THẤT THIỆN• PHẠM CÔNG
THIỆN • DƯƠNG THIỆU TỐNG • LÊ TÔN NGHIÊM •
KIM ĐỊNH • TUỆ SỸ • CHƠN HẠNH...
 
VỚI SỰ CỘNG TÁC CỦA TOÀN BAN GIÁO SƯ
VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH.
 
 
Ngày 30 tháng 11
Năm 1971
Năm thứ Tư
Số9
 
 
 
 

Bài vở, bản thảo xin gửi :                                        Ngân phiếu, thư bảo đảm xin gửi :
Đ.Đ. TUỆ SỸ                                                            Cô Hồ Thị Minh Tương
VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
222 Trương Minh Giảng, Saigon 3 — đ.t. 25.946
 
VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
 
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
 
 
XƯA nay người ta thường phân biệt có hai khu vực hai tinh thần văn hóakhác nhau như văn hóa Đông phương và văn hóa Tây phương. Và người ta cho rằng văn hóa Đông phương thì hiếu tĩnh, văn hóa Tây phương thì hiếu động, văn hóaĐông phương thì duy tâm, văn hóaTây phương thì duy vật, văn hóaĐông phương thuộc về đạo học, văn hóaTây phương thuộc về khoa học v.v... Nói như thế chẳng qua là khái quát không cho chúng ta thấy được đến nội dung đặc chất của chúng thế nào. Chính cái nội dung đặc chất ấy mới thiết yếu cho chúng ta ở Việt nam lúc này, tìm thâu hóacó sáng tạo, là đường hướng tất nhiên của chương trình xây dựng dân tộc.
Nay đi vào nội dung đặc chất của văn hóa thì lịch sử văn hóa Âu Tây bầy ra một sắc thái đặc biệt này là luôn luôn có sự đối lập giữa tâm và vật, tình và lý, lý trí và tín ngưỡng, văn học và khoa học, kể từ thế kỷ Phục hưng và nhất là thế kỷ XIX với sự tiến bộ về khoa học vật lý cơ khíđến nay. Đấy là hai đường lối, căn cứvào hai truyền thống chung sống với nhau đã

 
từ lâu, bắt nguồn từ hai phương pháp tìm hiểukhác nhau. Hai khuynh hướng tinh thần phân chia một tâm hồn nhân loại trong sự học hỏi, khuynh hướng văn học và khuynh hướng khoa học.
Sự ly khai giữa văn học và khoa học, hai phương diện sinh hoạt căn bản của con người, sinh hoạt tình cảm với sinh hoạt trí thức, bắt đầu ở ÂuTây với tư tưởng duy lý cận đại. Nhưng tư tưởng duy lý cận đại bắt nguồn từ Hy lạp nó đã sớm thiết dựng nên một truyền thổng mới để rồi trở nên tất cả sức mạnh và hiệu năng của tinh thần văn hóa Tây phương. Ấy là phương pháp tri thức về sự vật thực hữu không những chỉ dựa vào tài liệu kiến văn của cảm giác mà còn căn cứ vào một tin tưởng như một giáo điều về sự đồng nhất tính giữa định luật của lý tính nhân loại, với định luật chi phối thế giới hiện tượng. « Tất cả cái gì có thật là hợp lý, tất cả cái gì hợp lý là có thật ». (Hegel) Đấy là giải thích vũ trụ theo luận lý, từ nay đều căn cứ vào quan hệ nhân quả và sự tồn tại của nó. Còn khu vực thực nghiệm thì vẫn thuộc về phạm vi quan sát của giác quan, do đấy mà là của không gian với kích thước không gian và làcủa vật thể mà không gian chứa đựng. Cái thực nghiệm ấy phải lệ thuộc vào những qui tắc phổ biến đại đồng, được mọi người công nhận. Bởi thế mới nẩy ra cái quan niệm khách quan cơ bản, nghĩa là sự phân biệt rõ rệt, dứt khoát, nhất định đối tượng bị quan sát với ý thức chủ thể quan sát, tức như danh từ Phật học bên Đông phương gọi là sở tri với năng tri, vật với tâm, hai đằng cách biệt bằng cái hố khách quan và chủ quan bất khả xâm phạm. Bởi thế mà muốn tới cái biết người ta phải tiêu trừ những đặc chất chủ quan

 
của người quan sát, nghĩa là tiêu diệt con người với đời sống nội tâm của nó đi, chỉđể lại lý trí lạnh lùng bất biến, A là A không thể vừa là A vừa là B. Kết quả chỉ có chủ thể là tâm năng trí mới có hồn, sinh hoạt liên tục còn đối tượng là vật thể thì hoàn toàn thuộc vềkhông gian được giới định bằng lượng số, tuân theo lượng độ và định luật hợp lý. Và điều lý tiết độ qui định tất cả tiến triển trong thời gian, khôngcó sự ngẫu nhiên bất ngờ như trong chiếc đồng hồ của Descartes, ông tổ chủ nghĩa duy lý cận đại ở ÂuTây vậy. Những hình thái trừu tượng của biến động trở nên bất di bất dịch vì những giới thuyết, những định nghĩa, khiến cho chân lý cũng đòi hỏi được xác định cách bất di bất dịch. Đến tâm lý vốn trôi chẩy biến đổi như thác đổ, đầy tính cách bất ngờ, phi lý thì bị tiêu trừ hết sạch, để được thay thế bằng những tính chất bền vững, cố định của những giới hạn không gian nghĩa là những cách thức của hình học đặt vào cho tâm lý học. Nào tâm tình rộng hẹp, tư tưởng thẳng thắn, cảm nghĩ sâu xa. Tất cả cái gì người ta cảm thấy, cái gì khôngthể giới định được và luôn luôn biếnchuyển của thời gian sống động thì lần lượt bị đóng khung vào những hình thức tinh thần là những ý niệm có giới hạn rõ rệt, bất di bất dịch theo kiểu hình thức của không gian. Người ta không gian hóa tất cả, vì khoa học là lượng số. Tất cả đều được hàm lượng (quantification), hạn định. Cái truyền thống ấy thấm nhuần tinh thần văn hóa Âu Tây « khóa học » thâm sâu đến nỗi nhân loại Tây phương coi như thế là tự nhiên thuộc bản tính của nhân loại. Đấy là cơ bản của tư tưởng Tây phương, tư tưởng máy móc, vô hồn, lạnh lùng duy lý.
Thực ra các nhà xã hội học, nhân chủng học từ lâu đã xác nhận trước nay vẫn có một cách thức, tư tưởng khác với tư
 
 
 
tưởng duy lýcủaÂu Tây gọi là tư tưởng trước lý trí, (prélogique) ở nhân loại Đông phương. Theo lối tư tưởng này thì vật đối tượng của tâm năng trí, của ý thức chủ thể cần biết tức là sở tri, không bị cô lập trong giới thuyết, bởi định nghĩa (définition), đứng phân biệt gián đoạn hẳn với người quan sát. Giữa vật với tâmcó sự thông cảm để biết, năng tri với sở tri, chủ thể với đối tượng có quan hệ thông đồng với nhau cũng như tất cả sự vật trong vũ trụ đều tương quan với nhau mà có vì cũng là những biểu hiện của một thực tại tối linh,1 Người, nhân loại là cái linh của trời đất muôn vật « Nhân, Thiên Địa, vạn vật chi linh ». Đấy là nguyên lý «Vạn vật nhất thể » : «Vũ trụ hiện hữu là một thể » trong cái « Tâm đại đồng » « Thiên Địa phụ mẫu » « Trời Đất Cha Mẹ ». Sự vật được xem như chính ta cảm thấy ở nơi ta, tất cả phối hợp với nhau không theo định luật vật lý và cơ giới, mà phản ứng, cảm sinh, hấp dẫn hay thôi thúc nhau theo định luật « Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu » nghĩa là cái gì cùng âm thanh với nhau thì đáp ứng với nhau, cái gì cùng khí chất thì cùng tìm đến vói nhau».
Cũng là thanh khí xưa nay
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên
(Kiều)
Đấy là định luật « phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân » nghĩa là « phương hướng thì tụ họp vật giống nhau, vật này vật khác thì lấy đoàn bầy phân biệt với nhau ». Đấy là định luật « loại tự » (analogie) của văn hóa hay là tâm lý cổ sơ. Các vật tương tự với nhau thì như nhau, cùng một vận mệnh liên đới với nhau. Do đấy mà có pháp thuật hay ma thuật (magie) tưởng cóthể ở cách xa dùng phù chú vào một vật tương tự làm
 
 
 
trung gian cóthể di chuyển được bệnh tật ở vật nguyên bản sang vật khác. Bởi thế một lời nói, một âm thanh tương tự, phát biểu ra có thể ảnh hưởng vào đối tượng người ta chỉ định. Tất cả một hệ thống tương quan giữa vật nọ với vật kia, tạo nên một thế giới quan «Trời- Đất- Người » mật thiết quan hệ với nhau ở cái bản thể chung đồng nhất thể là Nguồn sống, là « sinh sinh » không bao giờ hết, là bản tính còn mãi «tồn tồn » để nuôi cho cái tin tưởng là người với vũ trụ, vận mệnh cá nhân với vạn hành tinh tú hỗ tương ảnh hưởng lẫn nhau. Bấy là tín ngưỡng cầu phong đảo vũ thông hành trong khu vực văn hóa Đông phương với quan niệm truyền thống « con người la một vũ trụ nhỏ ». Ở đây sự hiểu biết hoàn toàn, cái biết chân trí, thật biết lại đi ngược hẳn với lối biết của Tây phương quan niệm, vật đối tượng để biết với người quan sát không cách biệt, mà là hợp vào làm một, cảm thông. Ở trình độ cổ sơ đấy là cái biết ảo thuật, mộng triệu, tiên tri. «Một nước sắp thịnh vượng thì có điềm lành báo trước, một nước sắp tiêu vong cóđiềm gở hiện ra ». Nhưng ở trình độ cao nhất của cái biết ấy là cái biết thần bí (mystique) trong đó Thượng đế biểu hiện ra cho người ta khi nào tâm hồn cá nhân thâm thông hợp nhất với Thượng đế, coi như một Đại Hồn, một tâm linh vũ trụ, một cái Hồn sông núi hay là Đại Ngã tối linh, tối cao vậy.
Trái hẳn với sự hiểu biết của Hy lạp đòi hỏi và giả thiết là người tìm biết phải cắt hết liên hệ với vật nó quan sát, liên hệ tình cảm và cả đến liên hệ của ý chí quan sát nữa. Sự quan sát đòi người ta không được tham gia vào với vật để quan sát, tham gia vật linh, tình cảm ; người ta phải lùi lại ở vị trí khách quan với thái độ lạnh lùng, xa cách. Quan sát của nhà khoa học là giới định vào không gian vật lý, không được thẩm định vì

 

thẩm thức thuộc về chủ quan tính, chỉ cần đến sự công bằng của đo lường, như pho tượng thằng bịt mắt cầm cái cân hình dung ở trước các tòa án để cân lường công lý. Đấy có lẽ đã mô phỏng cái câu nói của Platon muốn «cấm không ai được vào Hàn làm viện nước « Cộng hòa » của ông nếu không phải trước hết là nhà kỷ hà học ». Đấy là quan điểm không gian về vũ trụ, được Hy lạp phát triển để đem lại cho con người quyền năng khoa học mới về thế giới vật lý. Cái lối trí thức ấy được La mã noi theo và qui định thành luật pháp thực tiễn. Đế quốc La mã là thế giới pháp thống chặt chẽ. Nên Hy lạp cổ điển có tinh thần hiểu biết rất cao về giới hạn trong phạm vi tâm linh thì La mã có sự hiểu biết ấy ở phạm vi chính trị. Tinh thần văn hóa La mã là tinh thần luật pháp nghĩa là trật tự và phương pháp La mã đi đôi với Hy lạp thành cái khuôn khổ nhất định của văn minh hay là tinh thần Tây phương, ấy là tinh thần văn hóa La Hy vậy. Cái tinh thần La Hy Tây phương ấy một khi thành lập thì phân biệt hẳn với tinh thần đối lập với nó là tinh thần văn minh Đông phương. Tuy nhiên từng phen Đông phương vẫn tìm ảnh hưởng vào Tây phương qua những cuộc tiếp xúc binh bị như sau thời A lực sĩ Đa đức (Alexandre le Grand) chinh phục Tây Bắc Ấn độ chẳng hạn thì học phải Alexandrie đã dung hòa Đông phương vào Hy lạp trong triết học Tân Ba lạp đồ có khuynh hướng thần bí tâm linh. Nhưng nhất là Thiên chúa giáo, một tôn giáo Tình yêu phía Đông Địa trung hải trên lục địa Á châu đã tràn ngập vào thế giới La Hy, nhất là thế giới La mã, lấn át cả truyền thống duy lý cố hữu. La mã bắt đầu chống lại, rồi sau trở nên đồng minh, tìm La mã hóa Cơ đốc giáo, công cuộc La mã hóa này đã diễn ra suốt thời Trung cổở Âu Tây, cố thực hiện thế quân bình giữa quyền của Lý

 

 
trí với quyền của Tín ngưỡng, hợp nhất gia tài triết học cổ điển của Platon và Aristote với giáo điều Cơ đốc.
Với thời Phục hưng văn hóa ở các nước Âu Tây, bắt đầu ở nước Ý đại lỵ (Italie) thừa tự chính thức cổ điển La Hy, người ta thấy tư tưởng cổđiển được củng cố lại, dọn đường cho tri thức khoa học chính thức hiện đại. Nó bắt đầu ở nước Anh với Francis Bacon, ông này đã cống hiến nhất định vào lâu đài khoa học, ấy là phương pháp luận thực nghiệm, một vũ trụ quan mới về sự vật, đoạn tuyệt với phương pháp diễn dịch và giáo điều độc đoán. Tưởng như thế là người ta đã dứt khoát với quan điểm vật linh, hồn cây, hồn đá, hồn núi, hồn sông. Nào ngờ ông vẫn dùng và thường nói đến « đức tính » của sự vật vô tri vô giác, và giải thích bằng « cảm tình » giữa vật nọ vật kia. Đồng thời với ông có Galilee còn duy trì trong khoa học những ý tưởng thuộc về phẩm tính của vũ trụ, những phẩm tính không thích hợp với phương pháp đo lường như đồng hồ quả lắc, hàn thử biểu, cân thủy xứng v.v... và không thích hợp với cơ học mà ông đã có công làm cho tiến bộ.
Phải chờ đến Descartes ở bên Pháp để chấm dứt tình trạng hàm hồ về cái ý niệm phẩm tính, không còn vấn vương vìnó xa lạ với khách quan tính chính xác, và còn ngụ những nguyên nhân cứu cánh chứ không phải chỉ có hiệu nghiệm thôi. Descartes đã giới định cho vật thể vào diện tích của nó, bằng những đồ hình và vị trí tương đối của nó. Xúc động có thể làm thay đổi vị trí của vật thể nhưng không có sự can thiệp của tồn tục tính. Descartes đã triệt để tiêu trừ sạch di tích vật linh khỏi khoa học đến nỗi không thừa nhận sự thiết yếu của đức tính hấp dẫn của nam châm, không cho động vật có linh hồn. Tất cả tạo
 
 
 
vật thiên nhiên từ nay thuộc về kỷ hà học hay hình học và cơ học. Con người là bộ máy như máy đồng hồ hay máy tính. Vật lý học trở nên Bà Chúa của khoa học thực tiễn, thành công rực rỡ vào thế kỷ XIX. Đấy là thời cực thịnh của chủ nghĩa cơ giới. Tri thức vật linh có vẻ hoàn toàn thất bại và bị bài trừ trongkhoa học cơ giới vạn năng.
Tuy nhiên, tư tưởng vật linh mặc dầu bị tấn công ráo riết bởi tư tưởng duy lý thời Phục hưng, nó vẫn nấu ẩn đợi thời với tinh thần Nhật nhĩ man kể từ các nhà tâm linh thần bí học như Eckhart, Ruisbrock. Các nhà tôn giáo tâm linh này vẫn xác nhận và chủ trương rằng cái biết tối cao, cái biết thật biết là cái biết về Thượng đế, chỉ có thể thực hiện trong sự hợp nhất thân mật giữa người cầu biết với đối lượng để biết, nghĩa là trong sự thông cảm, trực giác của tình yêu. Học phái Tân Bà lạp đồ (Neo-platonisrne) với Plotin chẳng đã vượt quá khách quan tính khoa học với tín ngưỡng vào những năng lực thần bí, vào sự đong điệu cảm sinh giữa tiểu vũ trụ nhân thân với đại vũ trụ tạo vật đấy ư ? Nhà thiên văn học đại tài cận đại như Kepler chẳng vẫn còn vấn vướng lưỡng lự giữa thiên văn học là khoa học chính xác với khoa chiêm tinh căn cứ vào những đối xứng thuộc loại tượng trưng đấy ư ? Và chính ở khu vực Bắc Âu, ít chịu ảnh hưởng văn hóa La tinh Địa trung hải, như cuộc cách mệnh Tân giáo của Luther, Calvin xác chứng, mà người ta thấy có sự cầm cự bền dai đối với tri thức duy lý khách quan máy móc. Ở đấy là lò của những khoa học sinh lý như Y học với Hóa học, còn thấm nhuần truyền thống luyện đan trường sinh bất tử, căn cứ vào quan niệm đối xứng giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, ngoại giới và nội giới, « đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ».
 
 
 
vật thiên nhiên từ nay thuộc về kỷ hà học hay hình học và cơ học. Con người là bộ máy như máy đồng hồ hay máy tính. Vật lý học trở nên Bà Chúa của khoa học thực tiễn, thành công rực rỡ vào thế kỷ XIX. Đấy là thời cực thịnh của chủ nghĩa cơ giới. Tri thức vật linh có vẻ hoàn toàn thất bại và bị bài trừ trongkhoa học cơ giới vạn năng.
Tuy nhiên, tư tưởng vật linh mặc dầu bị tấn công ráo riết bởi tư tưởng duy lý thời Phục hưng, nó vẫn nấu ẩn đợi thời với tinh thần Nhật nhĩ man kể từ các nhà tâm linh thần bí học như Eckhart, Ruisbrock. Các nhà tôn giáo tâm linh này vẫn xác nhận và chủ trương rằng cái biết tối cao, cái biết thật biết là cái biết về Thượng đế, chỉ có thể thực hiện trong sự hợp nhất thân mật giữa người cầu biết với đối lượng để biết, nghĩa là trong sự thông cảm, trực giác của tình yêu. Học phái Tân Bà lạp đồ (Neo-platonisrne) với Plotin chẳng đã vượt quá khách quan tính khoa học với tín ngưỡng vào những năng lực thần bí, vào sự đong điệu cảm sinh giữa tiểu vũ trụ nhân thân với đại vũ trụ tạo vật đấy ư ? Nhà thiên văn học đại tài cận đại như Kepler chẳng vẫn còn vấn vướng lưỡng lự giữa thiên văn học là khoa học chính xác với khoa chiêm tinh căn cứ vào những đối xứng thuộc loại tượng trưng đấy ư ? Và chính ở khu vực Bắc Âu, ít chịu ảnh hưởng văn hóa La tinh Địa trung hải, như cuộc cách mệnh Tân giáo của Luther, Calvin xác chứng, mà người ta thấy có sự cầm cự bền dai đối với tri thức duy lý khách quan máy móc. Ở đấy là lò của những khoa học sinh lý như Y học với Hóa học, còn thấm nhuần truyền thống luyện đan trường sinh bất tử, căn cứ vào quan niệm đối xứng giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, ngoại giới và nội giới, « đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu ».
 
 
 
Các nhà tâm linh và thần bí học nước Đức như Jacob Boehm phân biệt rõ ràng cái « biết tự nhiên » dành cho những thực tại vật chất của không gian với cái biết siêu nhiên thuộc về phẩm tính hơn là lượng số cân lượng.
Tuy nhiên,kể từ Descartes về sau, sự sống chung không thểcòn được giữa hai trào lưu tư tưởng ở Tây phương : khoa học chính xác với công thức khách quan đanh thép không có thể đi đôi hay chịu đựng với tư tưởng vật linh pháp thuật. Nhưng khoa học vô tình vẫn chịu ảnh hưởng ngấm ngầm mà không tự biết. Nếu Newton có mở ra một viễn tượng mới mẻ rộng lớn cho khoa học cận đại là nhờ ở chỗông công nhận và giải thích những hiện tượng hấp dẫn xa cách của tinh tú, không có động tác máy móc trực tiếp với nhau. Nếu hóa học có được những phát minh phong phú mới mẻ, là nhờ nó chịu nhận có những đức tính cảm ứng, những quan hệ loại tự (Affinité) giữa các chất hóa học với nhau. (Affinité) : « Thâu hòa lực», (Attraction) : «Hấp dẫn lực » là gì mà khoa học thực nghiệm phải công nhận ? Đấy chẳng là công nhận những hiện tượng bề ngoài căn cứ vào những cảm tính vô hình phi chất ? Rồi « Từ lực » học đến tấn công khoa học cơ giới để đem lại sự phát minh vĩ đại tối tân của điện học, trong đó « Âm» với « Dương »hấp dẫu nhau, đun đẩy nhau tùy theo chúng giống nhau, tương tự với nhau hay trái nghịch xung khắc với nhau. Những danh từ của văn hóa vật linh bị bài trừ một thời gian, lại trở lại công khai chính thức trong tự diễn khoa học chính xác. Khoa học công nhận những danh từ vật linh với định luật của nó sau khi bắt chúng chịu sự thử thách của phương pháp thực nghiệm và như thế khoa học đã mở ra một nhỡn quan càng ngày càng rộng lớn vô cùng. Khoa học thí nghiệm lại những tài liệu vật linh, lọc sạch những

 
không khí mê tín thường bao phủ lấy chúng, gạt bỏ tất cả những cái gì phụ thuộc, không được thực nghiệm chứng minh, như gần đây tại phòng thí nghiệm Bose ở Calcutta nhà bác học Ấn đang chứng minh cụ thể « sinh lực » của một mảnh thiết phản ứng lại các khích động khác nhau tốt hay xấu », giữa vật vô cơ với vật hữu cơ, không có biên giới nhất định, vật vô tri vô giác như gỗ đá rung động với nguồn sinh khí tế vi. Như thể là Nguồn sống vũ trụ đã được khoa học thực nghiệm bắt đầu công nhận. Phần thần bí của vật linh chưa được chứng minh thì tìm vào các khu Vực triết học thường nảy nở ở khu vực văn hóa ngoài khu vực văn hóa La tinh như ở văn hóa Đông phương chẳng hạn. Chủ nghĩa tượng trưng (Symbolisme) với thuyết « Đối xứng tương ứng » (Correspondances) của Beaudelaire bên Tây phương đã nhắc lại học thuyết tham gia hóa nhập của linh hồn cá nhân vào linh hồn vũ trụ. Đấy là triển vọng của tri thức vật linh phục sinh ở khoa học, siêu hình học, văn học và thi ca. Đấy là ảnh hưởng ở Tây phương của tư tưởng Nhật Nhĩ man (Germanique) vốn giàu lãng mạng tính. Nhà sáng lập ra triết học Đức, tuy chịu ảnh hưởng thâm sâu của triết gia Pháp là Descartes, đã mở đường cho khuynh hướng tư tưởng động tĩnh troug đó động lực thay thế cho hình thể thuộc không gian, và tiên phong về thế giới tiềm thức, vượt khỏi những hình ảnh linh thần, những ý niệm, ý tưởng (idée). Học giả Đức bị ám ảnh bởi vấn đề quân bình ở thời gian giữa những thế lực mâu thuẫn mà họ tìm dung hòa vào nguvên lý căn bản của sự ứng cầu và loại tự, biện chứng pháp (Dialectique) của Hegel bất quá chỉ là một lối hợp lý hóa vận động mâu thuẫn dung hòa. Nhất là ở trong thi ca, văn nghệ, người ta thấy nó gợi lên giấc mộng cổ xưa về cái biết giác ngộ hợp nhất chủ thểvới khách vật, Trời với Người, cá nhân
 
 
 
với vũ trụ. Nó mở đường cho thuyết thẩm mỹ học, tìm nguồn cảm hứng ở trong sự biến hóa tự ngã vào cảnh vật, cảnh vật vào tự ngã : « Tình vương với cảnh, cảnh tự vương tình » khác nào thuyết « vật hóa » ở Trang Tử bên Á đông.
René Huyghe ở Hàn lâm viện Pháp gần đây đã viết : «Giordan Bruno đã gieo mầm cho thuyết thẩm mỹ học khi ông nghĩ đến « la transformation de soi-même en la chose en soi-même »« biến hóa tự thân mình vào vật ở tự thân nó ». Đấy là hoài bão vật linh nó thấy thành tựu trong sự hợp nhất các hữu thể bằng nghệ thuật và văn thơ. Chính những công thức tương tự như thế mà Beethoven, Delacroix cùng Rimbaud đã ca tụng, kháo khát sự thông đồng giữa « linh hồn với linh hồn », đồng thời với sự hòa hợp thân mật giữa tâm hồn của người với linh hồn vạn vật. Delacroix dạy rằng : « Nguồn chủ ý chính là từ trong linh hồn đi ra, và nó đi vào linh hồn khán giả một cách tự nhiên không cầm được ». Âm nhạc có khả năng nhất để làm cho người ta vượt các biên giới vật chất. Bấy giờ nó tiến lên hàng đầu theo như nguyện vọng của văn hóa Nhật nhĩ man. Nó thay thế cho những nghệ thuật về hình tướng như kiến trúc và điêu khắc ở vai trò mô phạm mà truyền thống Hy La đã muốn chúng như thế. Sự hồi đầu ấy đưa đến sự bỏ rơi thi ca tả cảnh mà diễn giải như còn thấy ở nưởc Pháp thế kỷ XVIII, để nhường cho thi ca ám thị (suggestive) và có tính chất vật linh. »
Thế là Âu châu với truyền thống văn hóa lưỡng nguyên thừa nhận sự tình sống chung và đối lập của hai đường lối hiểu biết bội phản mâu thuẫn mà nó gán vào hai bình diện tư tưởng căn bản khác nhau. Ấy là : văn học và khoa học trở nên hai ngành khác nhau của giáo dục, giáo dục nhân văn và giáo dục khoa học. Khoa học đặt giá trị vào quan sát và phân tích để thu hoạch lấy

 
trí thức chuyên môn. Nhân văn học đặt giá trị vào suy tư và tưởng tượng. Một đằng thiên về lý trí khách quan, một đằng nặng về tình cảm chủ quan, cả hai bên phải bổ túc cho nhau trong một hệ thống giáo dục hoàn hảo. Đấy hẳn cũng là nguyện vọng của René Huyghe ở Hàn lâm viện Pháp khi ông viết về hai khuynh hướng tư tưởng Tây phương : văn học và khoa học :
« Có lẽ đấy là một trong các phương diện đáng lưu ý nhất của thời đại chúng ta là sự di chuyển dần dần để xóa bỏ cái hố phân chia kỳ quặc (giữa hai lối tư tưởng văn học và khoa học) và để phác họa một lối tư tưởng người ta cóthể gọi được là một cái ý thức thống quan về thế giời. »
 
TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
Phát hành trong tháng 10-1970
WILL DURANT
CÂU CHUYỆN TRIẾT HỌC
TRÍ HẢI và BỬU ĐÍCH dịch
 
612 trang giá 600 $
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
 
 
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »