hiện sắc nét khía cạnh từ bi của Thiền.
Về Lâm Tế lục, Bác sĩ Suzuki đã ấn hành một tác phẩm bằng Nhật ngữ nhan đề "Tư tưởng căn bản của Lâm Tế" (Rinzai no Kihon Shisô) với phụ đề "Nghiên cứu về khái niệm ‘Nhân’ trong Lâm Tế lục" (Rinzai-roku ni okeru ‘Nin ’ shisô no kenkyu). Đây là một trong những trước tác quan trọng nhất của toàn bộ các trước tác đa dạng của Bác sĩ Suzuki viết bằng tiếng Anh hay tiếng Nhật. Trong sách này ông trình bày quan niệm độc đáo và sắc xảo của Lâm Tế lục, một cách tiếp cận minh định ‘Nhân’ là điểm cốt lõi của ngữ lục và tinh thần Thiền chân chính.
Bác sĩ Suzuki không ấn hành riêng bản dịch nào về Triệu Châu lục dù ông vẫn thường trích dẫn nó trong các tác phẩm của mình như dẫn Lâm Tế lục. Vậy mà, bản sưu tập cuối cùng có bình chú được dịch ra Nhật ngữ mà Bác sĩ Suzuki cho xuất bản lại là Triệu Châu lục
[6] Tưởng nhớ Bác sĩ Suzuki, ở đây tôi muốn nhìn lại những nhận định và diễn giảng của ông về Triệu Châu lục trên căn bản khái niệm ‘Nhân’ mà ông cho là giống nhau ở cả Lâm Tế lục và Triệu Châu lục
[7]
________________________
5 Tokyo, 1949, (Sau đây dẫn là RKS).
6 Triệu Châu Thiền sư ngữ lục, Nh. Jõshũ Zenshi Goroku, Ấn hành với sự cộng tác của Ryũmin Akizuki
(Kamakura: The Matsugaoka Bunko, 1962). Tái bản bởi Shunjũ- sha, Tokyo 1963.
[7] RKS,tr. 137, 195-197.
Trước khi tiếp tục, dù sao, cũng nên lưu ý rằng Bác sĩ Suzuki quan tâm đến cá tính Thiền của Lâm Tế và Triệu Châu hơn là những tuyển tập ngữ lục của hai ông. Hơn nữa điều làm ông quan tâm là thứ "Thiền" chân chính và sống động tự hiển lộ trong các ký lục Thiền hay trong và qua các thiền sư, vốn cũng có thể tự hiển lộ trong bất cứ ai, ở mọi thời đại, Đông hay Tây. Nhưng còn hơn thế, cuối cùng chính vì vấn đề chân hiện hữu của con người mà Bác sĩ Suzuki đã gắn liền với Thiền tông.
Qua các tác phẩm bao quát của ông, Bác sĩ Suzuki chỉ sử dụng các ký lục Thiền để minh họa thế nào là Thiền chân chính và sinh động. Ông đánh giá cao Lâm Tế lục và nhất là Triệu Châu lục giản dị vì ông tin là trong đó chân Thiền được thể hiện một cách hoàn hảo nhất.
II
Một hôm Lâm Tế thượng đường thuyết pháp: "Có vị chân nhân không ngôi thứ[8] trong khối thịt đỏ lòm kia, luôn vào ra nơi cửa mặt các người. Ai chưa chứng cứ, hãy nhìn, nhìn đi!”
Một vị tăng bước ra hỏi: ”Chân nhân không ngôi thứ là gì?”
Lâm Tế bước xuống thiền sàng, chộp cổ thầy tăng, hét: ”Nói, nói!”
Thầy tăng ấp úng.
[8] Hán: Vô vị chân nhân - ND.
sánh với cái ‘tánh không’ hay ‘rỗng không’ của Thiền mà sự chứng nghiệm nó được gọi là ngộ (satori), ‘kiến tính’ (Huệ Năng), hay ‘Nhân’ (Lâm Tế).
Có thể hiểu được điều này khi ta nghiêm túc nghe câu hỏi sau của Bác sĩ Suzuki: Ai là người đ ã nghe Thượng đế nói câu này để sau đó ghi lại: "Thượng đế bảo ‘hãy có ánh sáng’ và liền có ánh sáng"? 27 Hẳn phải có một chứng nhân nhìn thấy việc sáng tạo của Thượng đế giấu mặt đằng sau sự tường thuật của Thánh kinh. Tư tưởng Cơ Đốc giáo về Thượng đế chắc chắn phải vượt qua tính nhị nguyên chủ và khách, siêu nghiệm và nội tại, hiện hữu và không-hiện hữu. Tuy thế vẫn có tính nhị nguyên ẩn giấu giữa Thượng đế sáng tạo nên thế giới và một chứng nhân ẩn núp đâu đó đã chứng kiến sự sáng tạo này. Ngay cả Thượng đế trước khi sáng tạo cũng được mô tả, vậy ai mô tả Thượng đế trước khi sáng tạo? Nhị nguyên luận bí hiểm cuối cùng này quả là vấn đề nghiêm trọng mà Thiền cho là con người cần phải vượt qua hoàn toàn nếu muốn được giải phóng toàn diện. Thiền hoàn toàn quan tâm đến bản lai trước khi có tính nhị nguyên. Từ khi tính nhị nguyên tiềm ẩn là cứu cánh liên quan tới chính Thượng đế, ‘chứng nhân’ bị che phủ về sự sáng tạo của Thượng đế không thể là Thượng đế cũng chẳng thể là con người như một tạo vật. Chứng nhân này, theo thuật ngữ của Lâm Tế, là ‘vô vị chân nhân’, hay trong những thuật ngữ khác
_____________________
27 Shinran - kyogako, No. 6 (Kyoto: Bun' eido, 1965), tr. 105. Cùng loại câu hỏi ấy trong phỏng vấn Suzuki của Linh mục H. Dumoulin, A history of Zen Buddhism (The Easiern Buddhist, vol. I. September 1965, tr. 125).
như ‘Tánh không’, ‘Không hư’, ‘Tâm’, ‘Kiến tính’, ‘Dụng’, ‘Tri’ đã từng được sử dụng một cách truyền thống trong Thiền.
Chứng nhân bị che phủ này được gọi là ‘Tánh không’ hay ‘Không hư’ bởi vì, là nhân chứng tối hậu, nó không thể bị khách thể hóa. Nó được gọi là ‘Tâm’, ‘Kiến tánh’, ‘Tri’, ‘Dụng’, hay đại lo ại như vậy, vì mặc dù nó không thể bị khách thể hóa, nó không chỉ là rỗng không suông mà còn là chủ thể tuyệt đối như là căn nguyên của việc khách thể hóa con người. Lâm Tế gọi chứng nhân tối hậu này là ‘Nhân’ hay ‘Vô vị chân nhân’ là để diễn tả tính cụ thể sống động của nó.
Trong bài Chứng đạo ca
[28]của mình, Vĩnh Gia Đại sư
[29] đã mô tả ánh sáng tâm linh
[30] này như sau: "Ngươi không thể nắm giữ nó, cũng không thể buông bỏ nó; mà trong khi ngươi không thể nắm không thể buông, nó vẫn tiếp diễn theo cách của nó."
[31]"Nó" đây chính là chứng nhân tối hậu, hay là ‘Con Người’ theo nghĩa của Lâm Tế. Ta không thể nắm giữ cũng không thể buông bỏ chứng nhân tối hậu hay ‘Con Người’ này. Ây thế, ngay trong những cái bất khả, ‘Nó’ hay ‘Hắn’ vốn có sẵn. Cho nên ‘Vô vị chân nhân’ của Lâm Tế cũng như chứng nhân tối hậu không có
[28] ìíìí.$t, Nh. Shõdõka.
[29] 7^^, Nh. Yõka Taishi (665-713).
[30] Linh giác, t %, Nh. Reikaku.
[31] D.T. Suzuki, Manual of Zen Buddhism (London 1965), tr. 98. (Phụ chú của ND: nguyên văn Hán: thủ bất đắc xả bất đắc; bất khả đắc trung chỉ ma đắc
trước cũng không phải sau sự sáng thế của Thượng đế. Y đứng đó và hành động ngay tại đây và bây giờ "tiên thiên" đối với bất cứ hình thái nhị nguyên nào như trước và sau, thời gian và vĩnh cửu, con người và Thượng đế, người thấy và cái được thấy. Chứng nhân tối hậu đó không là gì hơn sự ‘thấy’ chính nó. ‘Thấy’ là hoạt dụng tuyệt đối có trước cả nhân cách hóa lẫn thần thánh hóa. Theo ý nghĩa này, ‘Thấy’ không là gì khác ngoài ‘Vô’ hay ‘Không’. Chính vì lý do này mà ‘Thấy’ thực sự là hoạt dụng tuyệt đối không thể khách thể hóa được. Là hoạt dụng tuyệt đối, ‘Thấy’ không nhìn thấy chính nó cũng như con mắt không nhìn thấy con mắt. Đối với chính mình, ‘Thấy’ là không-thấy. Và chính vì không-thấy đối với chính mình mà ‘Thấy’ là ‘sự thấy hoạt dụng tuyệt đối.’
Lời của Thượng đế "Hãy có ánh sáng" tuôn trào từ cái ‘Thấy’ như là hoạt dụng tuyệt đối này - có nghĩa là chính bản thân Thượng đế và sự sáng thế của Ngài. Trong cái ‘Thấy’ đó Thượng đế nhìn thấy ánh sáng và ánh sáng nhìn thấy Thượng đế; Thượng đế thấy Thượng đế và ánh sáng thấy ánh sáng. Vì ‘Thấy’ luôn vận hành bất kể trước hay sau, do đó nó vận hành ngay đây và bây giờ, nên Lâm Tế, nắm bắt được nó cách sinh động nhất, đã gọi nó là ‘Nhân’. Cho nên ông chỉ rõ: "Nó là người hiện đang đứng trước chúng ta, lắng nghe ta nói pháp" và túm cổ nhà sư mà hét "nhìn, nhìn đi!" và "nói, nói đi!"
Do đó, Bác sĩ Suzuki nhấn mạnh rằng: ‘Nhân’ của Lâm Tế vừa siêu-cá
[32] thể vừa là cá thể.
33 ‘Nhân’ siêu-
[32] Siêu-cá thể (supra-individual), thuật ngữ chỉ sự siêu việt khỏi mọi giới hạn của hình thái và màu sắc, thời gian và không gian, ‘tôi’ và ‘anh’, một và nhiều, v.v... trong khi ‘Cá thể’ bị giới hạn bởi những hiện trạng này.
cá thể vì ‘Nhân’ của Lâm Tế đồng nhất với ‘Rỗng không’, ‘Nhìn thấy’, hay theo thuật ngữ của Bác sĩ Suzuki, ‘vô thức Vũ trụ’. Cùng lúc ‘Nhân’ đó là cá thể, một sự hiện hữu cụ thể và sinh động như Lâm Tế, Đức Sơn, anh hay tôi.
‘Nhân’ có hai phương diện - nó hiện hữu như một cá thể hữu hạn mà đồng thời lại là một ‘vực thẳm không đáy’. Không thể nắm bắt ‘Nhân’ trên bình diện cá thể. Vì cá thể (hữu hạn) chắc chắn phải song hành cùng ‘vực sâu không đáy’, và chúng ta cần phải xuyên suốt (phương diện) ‘vực sâu’ này (của nó) nếu chúng ta muốn là những cá thể đúng nghĩa.
[34] Vực thẳm không đáy đó, khỏi phải nói, chính là ‘Tánh không’, ‘Hư không’, hay ‘Vô thức vũ trụ’, cái siêu-cá thể. Người ta thường coi Tánh không, Hư không, hay Vô thức vũ trụ là một cái gì tách biệt với hiện hữu cá thể. Vậy mà Lâm Tế nói rằng nó luôn vào ra nơi cửa mặt các ông. Ai chưa từng thấy, hãy nhìn, nhìn đi! Cái Tánh không, hay Vô thức vũ trụ vượt ngoài cá thể đó không thể tự biểu lộ một cách trực tiếp trừ phi nó vật chất hóa trong một hữu thể cá biệt. Mặt khác, một hữu thể cá biệt chỉ thực sự là cá biệt chừng nào cái Tánh không hay Vô thức vũ trụ siêu cá thể còn tự biểu lộ trong nó và qua nó. ‘Nhân’ của Lâm Tế chẳng qua là một cá thể sống động vốn luôn luôn có mặt (do đó mà ngay tại đây và
______________________
mọi giới hạn của hình thái và màu sắc, thời gian và không gian, ‘tôi’ và ‘anh’, một và nhiều, v.v... trong khi ‘Cá thể’ bị giới hạn bởi những hiện trạng này.
[33] RKS, các tr. 13,30
Trên đây là đại cương kiến giải của Lâm Tế về ‘Nhân’ mà Bác sĩ Suzuki đã giải thích là cốt lõi của Lâm Tế lục và cũng là nền tảng cụ thể nhất của Thiền. Đến đây chúng ta có thể thấy Bác sĩ Suzuki quan niệm thế nào là chân hiện hữu của con người.
IV
Như tôi đã nói trước trong tiểu luận này, Bác sĩ Suzuki cho rằng Triệu Châu cũng chia sẻ khái niệm ‘Nhân’ như Lâm Tế dù ông không sử dụng thuật ngữ này cách rõ ràng như Lâm Tế. Bác sĩ Suzuki minh họa điều này qua vấn đáp sau đây từ Triệu Châu lục:
Một hôm có nhà sư hỏi Triệu Châu: "Bản ngã của tôi là gì?"
[39]Triệu Châu đáp: "Ông đã ăn cháo sáng chưa?"
"Thưa, đã ăn rồi", nhà sư đáp.
Triệu Châu bảo: "Ăn rồi thì rửa bát đi".
[40]Lời khuyên của Triệu Châu ở đây không đơn giản là hãy rửa bát sau khi ăn, mà để thức tỉnh cái ‘ngã’ trong việc ăn và rửa chén bát. Bình luận về vấn đáp này, Bác sĩ Suzuki nói: "Ăn là một hành động, rửa bát là một hành động, nhưng cái thiếu trong Thiền là chính người hành động; người ăn và người rửa bát làm cái việc ăn
[39] Nếu dịch sát theo văn Hán, Truyền đang lục 10: “Người học này mê muội, xin Sư chỉ dẫn”. Vô môn quan, tắc 7: “Con mới vào Chùa, xin Thầy chỉ dạy”. - ND.
bị cho là bị năm trọng chướng. Làm sao tôi có thể thoát khỏi?"
Thiền sư đáp: "Cầu cho mọi người sinh lên Trời, còn tôi bà lão này
[44] thì trầm luân mãi trong biển khổ".
[45]Có người hỏi: "Một nhân cách thánh thiện như Thầy khi chết sẽ về đâu?"
[46]Triệu Châu Thiền sư đáp: "Sẽ xuống địa ngục trước tất cả các ông."
Người hỏi kinh ngạc: "Sao vậy?"
Thiền sư không chút do dự: "Ta không xuống trước thì ai chờ ở đó để cứu vớt những người như ông?"
[47]Với vấn đáp đầu, Bác sĩ Suzuki bảo: "Nó thể hiện cái bản nguyện (pranidhãna) chịu khổ thay kẻ khác".
[48]
[44] Theo phần còn lại của vấn đáp, nghĩa đen của đoạn này phài dịch là: “còn bà lão này cứ ở lại biển khổ muôn đời”. Nói như vậy, Triệu Châu dù bề ngoài có vẻ nhẫn tâm, thực ra đang cố giúp bà lão cắt đức sự chấp trước vào mong cầu giải thoát khỏi năm chướng ngại. Câu trả lời tưởng như thô bạo của Triệu Châu xuất phát từ lòng Đại Bi nơi mà sự phân biệt giữa Triệu Châu và bà lão bị xóa nhòa, và chính Triệu Châu muốn gánh thay mọi phiền não của người khác. Tôi cho rằng chính vì điểm này mà Bác sĩ Suzuki đã dịch đoạn văn trên là “còn tôi bà lão này...”
[45] The Essence of Buddhism Tokyo 1948, tr. 91.
[46] Xem Truyền đăng lục 10: “Có người hỏi: ‘Hòa thượng còn vào địa ngục nữa không?’ Sư nói: ‘Ta là người vào đầu tiên (Hán: mạt thượng: người cuối cùng?)’. Hỏi: ‘Đại thiện tri thức sao còn vào địa ngục?’ Sư nói: ‘Ta không vào, lấy ai giáo hóa ngươi?’” - ND.
[48] Jõshũ-Zen no Ichitokusei, tr. 308.
trên Đại Trí. Minh chứng sự thấu đạt tư tưởng này của Triệu Châu, Bác sĩ Suzuki trích dẫn thêm một vấn đáp khác:
Có người hỏi Triệu Châu "Phật là đấng Giác ngộ là Bổn sư của tất cả chúng ta. Ngài ắt đã hoàn toàn thoát khỏi mọi đam mê (klesa:phiền não)?"
Triệu Châu đáp: "Không, Ngài là người ôm ấp đam mê lớn nhất".
"Có thể vậy sao?"
Triệu Châu đáp: "Đam mê lớn nhất của Ngài là cứu độ hết thảy chúng sinh".
[52]Từ quan điểm này Bác sĩ Suzuki đ ã nêu rõ, nhất là vào những năm cuối đời ông, sự tương đồng giữa Phật giáo Tịnh độ và Thiền. Quả thật ông đã nhấn mạnh căn tính nhất như của chân bản nguyện (pranidhãna) của Phật A-di-đà và chứng ngộ của Thiền về ‘chân Nhân’. Ông đã thường xuyên trích dẫn câu chuyện về chiếc cầu đá của Triệu Châu trong các tác phẩm và bài giảng của ông với cảm tình thân thiết.
Một hôm có vị sư đến thăm Triệu Châu, nói: "Thưa thầy, chiếc cầu đá của thầy
[53] được nói đến khắp nơi, nhưng khi tôi nhìn thấy, nó chỉ là cây cầu gỗ ọp ẹp".
Triệu Châu đáp trả: "Ông chỉ thấy cây cầu khập khễnh của mình nên khó lòng nhìn thấy cây cầu đá thực sự".
[53] Nguyên văn Hán: Triệu Châu thạch kiều, Truyền đăng lục 10. - ND.
Nhà sư hỏi: "Thế nào là cầu đá?"
Triệu Châu: "Ngựa đi qua trên đó; lừa cũng đi qua trên đó".
[54]Bình luận sau đây của Bác sĩ Suzuki cho thấy quan điểm của ông về Thiền và phong cách sống của con người:
Cây cầu của Triệu Châu cũng như cát của sông Hằng, bị đủ loại súc sinh giẫm đạp và vấy bẩn nhưng cát vẫn không một lời ta thán. Mọi dấu chân để lại của đủ loại tạo vật trong phút chốc đều bị xóa tan, và cũng như bao rác rưỡi của chúng, hết thảy đều bị cuốn trôi đi, trả lại cho cát sự trong sạch ban đầu. Cây cầu đá của Triệu Châu cũng vậy, không những lừa ngựa đi qua mà ngày nay mọi phương tiện chuyên chở kể cả xe tải hay xe lửa cũng đi qua đó mà nó vẫn (tận tâm) thích nghi hết tất cả. Ngay cả khi họ tận dụng nó, nó cũng không phiền toái chút nào. Thiền giả ở giai đoạn thứ tư
[55] cũng giống như cây cầu này. Y không cần đưa má phải ra khi đã bị tát vào má trái, nhưng y âm thầm thực hiện lợi ích vì chúng sinh. "
[56]
[55] Kiêm trung chí, ặỷỉ, giai đoạn thứ tư trong năm giai đoạn (Ngũ vị) Thiền tập. Kiêm trung chí là giai đoạn Thiền giả hoàn toàn vượt khỏi sự hiểu biết bằng trí năng về chân lý Thiền, “nỗ lực cần cầu giác ngộ với tất cả năng lực bình sinh” (Thiền và Phân tâm học, tr. 60) bằng cách bước vào thế giới đối đãi hiện tiền. Bàn về ‘Ngũ vị’, xem thêm Thiền và Phân tâm học, các tr. 59-76.
Bác sĩ Suzuki, theo tôi, không chỉ xem trọng giá trị của câu chuyện về chiếc cầu đá của Triệu Châu; mà chính ông đã là chiếc cầu đá cho mọi người, nam hay nữ, học giả và thường dân, nghệ sĩ và nhà phân tâm học, người phương Đông hay người phương Tây, tất cả đã đi qua trên đó trong suốt quãng đời trường thọ chín mươi lăm năm của ông. Dù sao, ông hay vô vị chân nhân hiển hiện trong ông, cũng sẽ không ngừng phụng sự như một nhịp cầu nối hai bờ Đông-Tây cho hết thảy đồng lo ại của mình. □
M.A.