ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM
KINH
TRƯỜNG A -HÀM
Hán dịch
PHẬT ĐÀ DA XÁ
TRÚC PHẬT NIỆM
Việt dịch
TUỆ SỸ
HỘI ĐỒNG PHIÊN DỊCH
ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM
Chủ tịch
Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU
Tổng biên tập
Thượng tọa THÍCH TRÍ SIÊU
Ủy viên
Hòa thượng THÍCH ĐỔNG MINH Hòa thượng THÍCH THANH TỪ
Hòa thượng THÍCH ĐỨC NGHIỆP Hòa thượng THÍCH TRÍ QUẢNG
Hòa thượng THÍCH MINH CẢNH Hòa thượng THÍCH NHẬT QUANG
Thượng tọa THÍCH PHƯỚC SƠN Thượng tọa THÍCH NGUYÊN GIÁC
Thượng tọa THÍCH PHƯỚC CẦN Đại đức THÍCH NHẬT TỪ
PHÀM LỆ
1. Đại tạng kinh Việt Nam bao gồm tất cả các bản dịch tiếng Biệt của Tam Tạng Kinh Điển Phật giáo đã xuất hiện ở nước ta từ trước đến nay, qua các thời kỳ với nhiều dịch giả khác nhau, để cho thấy quá trình hình thành Đại tạng kinh Việt Nam qua lịch sử
2. Về bản đấy, bản dịch Việt căn cứ trên ấn bản Đại chính tân tu Đại tạng kinh 100 tập, mỗi tập trên dưới 1 000 trang chữ Hán cỡ 10pt và sẽ được đánh số theo thứ tự của số ghi trong bản in Đại chính. Mỗi trang của bản in Đại chính được chia làm ba cột: a, b, c. Số trang và cột này đều được ghi trong bản dịch để tiện tham khảo.
3. Vì thế một bản kinh chữ Hán có thể có nhiều bản dịch tiếng Việt, nên sau số thứ tự của Đại chính, sẽ đánh thêm các mẫu tự A, B, C... để phân biệt các bản dịch tiếng Việt khác nhau của cùng một bản kinh chữ Hán đó.
4. Về xử lý văn bản trong khi phiên dịch, phần lớn căn cứ công trình hiệu đính và đối chiều của bản Đại chính. Ngoài ra, tham khảo thêm các công trình hiệu đính và đối chiếu khác.
5. Giữa các ấn bản có những điểm khác nhau, bản Việt sẽ lựa chọn hoặc hiệu đính theo nhận thức của người dịch.
6. Trong bản Hán, nếu chỗ nào xét thấy văn dịch hay từ ngữ không phù hợp với giáo nghĩa truyền thống phổ biến, người dịch sẽ tham khảo các Kinh, Luật, Luận cần thiết để hiệu chính. Những hiệu chính này được giải thích ở phần cước chú.
7. Bản Hán dịch thực hiện căn cứ phần lớn trên sự truyền khẩu. Do đó những từ phát âm tương tự dễ đưa đến ngộ nhận, như sam Pàli hay sama và samyak; cala cà jala; muti và muṭṭhi, v.v... Trong những trường hợp này, người dịch sẽ tham chiếu các kinh tương đương, các bản Hán biệt dịch, suy đoán tự dạng nguyên thủy có thể có trong Phạn bản để hiệu chính. Những hiệu chính này đều được ghi ở phần cước chú.
8. Do các truyền bản khác nhau giữa các bộ phái, để có nhận thức về giáo nghĩa nguyên thủy, chung cho tất cả, cần có những nghiên cứu đối chiếu sâu rộng. Công việc này ngoài khả năng
hiện tại của các dịch giả. Tuy nhiên, trong trường hop có thể, những điểm dịch biệt giữa các truyền bản sẽ được ghi nhận và đối chiếu. Những ghi nhận này được nêu ở phần cước chú.
9. Bản Hán dịch được phân thành số quyển. Bản dịch Việt không chia số quyển như vậy, nhưng sẽ ghi ở phần cước chú mỗi khi bắt đầu một quyển khác.
10. Các từ Phật học trong một số bản Hán dịch nếu không phổ biến, do đó có thể gây khó khăn cho việc đọc và nghiên cứu, trong các trường hợp như vậy, tuy vẫn giữ nguyên dịch ngữ của bản Hán, nhưng dịch ngữ tương đương thông dụng hơn sẽ được ghi trong phần cước chú. Trong trường hợp có thể, sẽ ghi luôn dịch giả của những dịch ngữ này và xuất xứ của chúng từ bản dịch nào để tiện việc tham khảo.
11. Các kinh sách tham khảo trong cước chú đều được viết tắt theo qui định phổ thông của giới nghiên cứu quốc tế; xem qui định về viết tắt ở cuối mội tập của Đại tạng kinh Việt Nam.
Vạn Hạnh, PL. 2550 - 2006
Trí Siêu và Tuệ Sỹ cẩn chí