KINH VÔ THƯỢNG Y
QUYỂN HẠ
Phẩm 4: CÔNG ĐỨC CỦA NHƯ LAI
Phật bảo A-nan:
–Có một trăm tám mươi pháp Bất cộng, đó là công đức tốt đẹp nhất của Như Lai.
1. Ba mươi hai tướng.
2. Tám mươi vẻ đẹp.
3. Sáu mươi tám pháp.
Thế nào gọi là ba mươi hai tướng?
Bồ-tát tu bốn nhân duyên:
1. Trì giới.
2. Thiền định.
3. Nhẫn nhục.
4. Xả bỏ của cải và các phiền não.
Do nghiệp duyên tu bốn nhân duyên này vững chắc, không lay động, nên đạt được hai tướng:
1. Bàn chân bằng phẳng, đầy đặn, những nơi chân giẫm lên, thảy đều bằng phẳng, xứng với chân của Bồ-tát không có lồi lõm.
2. Bước đi ngay thẳng, không xiêu vẹo.
Nếu như đem tất cả mọi thứ cúng dường cha mẹ, sư trưởng; đem mọi thứ cứu giúp những chúng sinh khổ nạn, ở quá khứ, vị lai thường làm việc siêng năng như vậy, thì dựa theo nghiệp duyên này; hàng Bồ-tát, sẽ được tướng bánh xe dưới lòng bàn chân, vành trục bánh xe xó một ngàn cây căm trang nghiêm. Nếu không bức não người khác, không làm việc trộm cắp, không sinh tâm tham đoạt, khi thấy những vật của người khác dù ta ham muốn, không cho mình cao ngạo kiêu
căng, trừ bỏ kiêu mạn; đối với những bậc tôn trưởng, khởi lòng trân trọng, đứng hầu, chiêm ngưỡng, chắp tay, cung kính, do nghiệp duyên này, hàng Bồ-tát sẽ đạt được hai tướng:
1. Ngón tay tròn dài.
2. Thân hình cân đối, đoan chánh, trang nghiêm.
Nếu đủ ba nghiệp nhân duyên trước, thì được gót chân dài. Nếu do trước, hành ba nghiệp, lại tu bốn Nhiếp pháp, làm lợi ích cho người, thì ở giữa mười ngón của tay và chân, thảy đều có màng lưới kín, giống như ngỗng chúa. Nếu Bồ-tát giúp đỡ, hầu hạ, cha mẹ, sư trưởng, tự tay thoa dầu, làm sữa, dán thuốc, xoa bóp, tắm rửa, giặt giũ, dâng thức ăn, trông nom chăm sóc, thì tay chân sẽ được mềm mại, mịn màng, lòng bàn tay đỏ như hoa sen màu hồng. Nếu hàng Bồ-tát tu các pháp lành, tâm không chán mệt, ngày càng tăng trưởng, thì được gót chân đầy đặn. Nếu tu học chánh pháp, diễn nói cho người, luôn luôn hướng dẫn cho người, không sinh mỏi mệt, thì do nghiệp duyên này, hàng Bồ-tát, sẽ được tướng đứng, như thế đứng của nai chúa. Bồ-tát, nếu pháp nào chưa biết, siêng năng tìm cầu muốn biết, pháp đã đạt được liền đem giáo hóa, làm lợi ích cho người; đối với ba ác nghiệp, ngăn chặn, dứt trừ, không cho khởi; đối với ác pháp sáu trần, không cho thân tâm nhiễm; đối với người thân bệnh, thì đem cho họ thuốc thang, đối với người tâm bệnh thì an ủi họ, do nghiệp duyên này, Bồ-tát sẽ đạt được thân đoan trực. Nếu Bồ-tát, thấy người sợ hãi, thì giúp đỡ họ, thấy người nghèo thì cho họ cơm áo, luôn luôn ôm lòng hổ thẹn, ngăn chặn điều ác, không cho khởi lên, do nghiệp duyên này, nên được tướng âm mã tàng. Nếu Bồ-tát với thân, miệng, ý, thường khiến cho trong sạch, nhận đồ cho biết đủ, sử dụng cũng biết lượng sức mình, đem thuốc thang cho người bệnh, đem tiền của cho người nghèo; nếu có những chúng sinh, nghiệp lực không bình đẳng, cho đến việc thọ dụng cũng không bình đẳng, thì khuyến khích họ tu hành những việc bình đẳng; do nghiệp duyên này, được thân vuông vắn cân đối, chiều ngang và chiều cao thân hình cân xứng như cây Ni-câu-loại. Bồ-tát nếu dùng phương tiện khéo léo, tu các pháp lành thù thắng, không ở mức giữa hay thấp mà thường khiến cho tăng lên; do nghiệp duyên
này, nên được những sợi lông trên toàn thân, đều xoắn theo phía bên phải. Bồ-tát nếu tự tánh lanh lợi suy nghĩ nhiều về nghĩa lý, gần kề những bậc Trí, gặp gỡ những bạn lành tri thức, quét dọn sạch sẽ nơi bậc tôn trưởng ở, tắm rửa xoa bóp thân thể tôn trưởng, trừ bỏ những thứ dơ dáy ở nơi chi đề, không để cho tâm bị khách trần phiền não làm nhiễm ố; do nghiệp duyên này, nên da bọc ở mỗi lỗ chân lông, mịn màng không bụi bám. Bồ-tát, nếu vui vẻ đem cho những thứ như quần áo, đồ ăn, thức uống, xe cộ, đồ nằm ngồi và các vật trang nghiêm khác, mà không có tâm tiếc rẻ; do nghiệp duyên này, nên thân có được sắc vàng ánh sáng rực rỡ, tỏa rộng một trượng. Nếu Bồ-tát nào, đem những món ăn, thức uống thơm ngon, cho rộng rãi, không hạn lượng, khiến nhiều chúng sinh được no đủ, thì do nghiệp duyên này, sẽ được bảy chỗ đầy đặn. Nếu Bồ-tát nào, thấy những chúng sinh tốt, muốn khởi pháp lành, cùng chánh nghiệp, thì với chúng sinh ấy, nên làm người thầy hướng dẫn cho họ, tạo sự an ổn trong pháp lành, trừ bỏ những việc ác, do nghiệp duyên này, được như cái ức của sư tử. Nếu Bồ-tát nào, ở trong chúng sinh, làm việc lợi ích, tu bốn chánh cần, như tâm của sư tử chúa, không điều gì sợ cả, do nghiệp duyên này, nên sẽ được hai tướng:
1. Hai vai ngang, bằng hai nách đầy đặn.
2. Hai cánh tay tròn thẳng như vòi voi chúa, đứng thòng dài quá gối.
Nếu Bồ-tát nào, lìa nghiệp hai lưỡi, nói những lời hòa hợp trong sự oán ghét, thực hành bốn Nhiếp pháp, thâu tóm và giữ lấy chúng sinh, ngẫm nghĩ nghĩa lý sâu xa, tu lòng từ bình đẳng, thì do nghiệp duyên này mà được hai tướng:
1.Miệng có bốn mươi cái răng bằng khít, không thưa, trắng như tuyết, giống như ngọc kha lê.
2. Có bốn cái răng được tướng như mặt trăng mới mọc.
Nếu Bồ-tát nào, thấy các chúng sinh, có điều cần muốn, bèn ban phát cho họ vừa ý, hoặc là tiền của, hoặc là những lời dạy dỗ, vì do nghiệp duyên này, nên sẽ được hai tướng:
1. Hai gò má như má của sư tử.
2. Cổ tròn sạch.
Nếu Bồ-tát nào trông nom chúng sinh, như trông con một của mình, sinh nhiều tín tâm, lòng từ vô lượng, phân phát thuốc men không có tâm vẩn đục, vì do duyên này, nên được hai tướng:
1. Yết hầu có đủ một ngàn mạch, khi nhận đồ ăn ngon nước miếng trôi chảy thấm nhuần.
2. Khớp xương móc xích chặt chẽ như Na-la-diên.
Nếu Bồ-tát nào tự hành mười điều lành, dạy người khác tu hành, thấy người tu hành thì vui mừng khen ngợi, lòng đại Bi vô lượng, thương xót chúng sinh, phát tâm thệ nguyện rộng lớn thọ lãnh đủ chánh pháp, vì do nghiệp duyên này, nên có được hai tướng:
1. Có Uất-ni-sa xương đỉnh đầu mọc lên, tự nhiên thành nhục kế.
2. Lưỡi rộng, mỏng, dài như lá hoa sen.
Nếu Bồ-tát nào, thường nói những lời chân thật, những lời thương yêu, những lời đẹp đẽ, diễn bày chánh pháp, không khiến cho điên đảo; do nghiệp duyên này, nên có được âm thanh của Phạm thiên, giống như chim Ca-lăng-tần-già, có âm hưởng nhiệm mầu, sâu xa, như tiếng vang của trống trời. Nếu Bồ-tát nào khởi lòng Từ, cung kính, xem hết thế gian như cha mẹ, xem xét chúng sinh, không khởi ba độc, vì nghiệp duyên này, nên có được hai tướng:
1. Tròng mắt xanh đẹp như hoa Ưu-bát-la.
2. Lông mi xanh biếc, sáng rỡ, như ngưu vương.
Nếu Bồ-tát nào, thấy những chúng sinh tốt, tu học ba pháp, thì ca tụng khen ngợi sự tốt đẹp của họ, không khởi lên sự phá phách; thấy người nào chê bai thì ngăn chặn, gìn giữ, do nghiệp duyên này, nên có tướng bạch hào nằm ở đoạn giữa hai chân mày, xoay theo hướng phải. Lại nữa, A-nan! Bồ-tát tu hành bốn loại chánh nghiệp, sẽ được ba mươi hai tướng:
1. Quyết định không lẫn lộn.
2. Lắng lòng quán sát kỹ và kín đáo.
3. Thường tu không gián đoạn.
4. Không có hạnh điên đảo.
Nghiệp duyên thứ nhất được bàn chân đầy bằng. Nghiệp duyên thứ hai được chín tướng:
1. Tướng bánh xe dưới lòng bàn chân.
2. Mắt cá tròn đầy.
3. Mười ngón tay và chân có màng lưới mỏng.
4. Da dẻ mịn màng.
5. Được bảy nơi đầy đặn.
6. Hai vai ngang bằng, hai nách đầy đặn.
7. Cánh tay tròn trịa.
8. Lưỡi rộng dài.
9. Ức như sư tử.
Nghiệp duyên thứ ba được năm tướng:
1. Ngón tay nhỏ, dài.
2. Gót chân dài.
3. Thân ngay thẳng không uốn cong.
4. Thân hình cân đối.
5. Cổ tròn, sạch.
Nghiệp duyên thứ tư được các tướng khác.
Lại nữa, này A-nan! Nếu như tất cả chúng sinh trong mười phương, đều hành mười điều lành, công đức này được tăng thêm gấp trăm lần, do nghiệp duyên đấy, chỉ được tướng một sợi lông nhập vào tất cả sợi lông của Bồ-tát. Công đức càng tăng thêm gấp trăm lần, rồi sau đó, mới được một vẻ đẹp, nhập vào tất cả vẻ đẹp của Bồ-tát. Công đức càng tăng thêm gấp trăm lần, rồi sau đó mới được một tướng, nhập vào tất cả tướng công đức của Bồ-tát. Lìa tướng bạch hào, lìa tướng Uất-ni-sa, như vậy, công đức ngày càng tăng thêm gấp trăm lần, mới được tướng bạch hào; lại tăng thêm gấp trăm lần nữa, thì được tướng Uất-ni-sa. Nhập vào tướng Uất-ni-sa, công đức tăng thêm gấp ngàn lần, được thâu nhiếp bởi tướng tốt
của pháp Bất cộng, của ngọc thượng kha, của Như Lai. Do tướng tốt này, một tiếng của Như Lai, vang khắp cả vô lượng thế giới trong mười phương.
Này A-nan! Đó là ba mươi hai tướng, có ba nhân duyên không thể nghĩ bàn:
1. Thời tiết không thể nghĩ bàn, số lượng tu hành đầy cả ba a-tăng-kỳ kiếp.
2. Tâm vui không thể nghĩ bàn, vì để làm an vui lợi ích, cho tất cả chúng sinh.
3. Phẩm loại không thể nghĩ bàn, là tu tất cả đều lành, lìa tất cả điều ác, vì chủng loại không cùng vậy.
Thế cho nên, thân Như Lai đầy đủ tướng hảo, không thể nghĩ bàn.
Này A-nan! Tám mươi vẻ đẹp của Như Lai. Những gì là tám mươi?
1. Không thấy được đỉnh đầu.
2. Xương đỉnh đầu không có mạch máu.
3. Trán rộng, bằng thẳng.
4. Mày cao, dạng giống như mặt trăng mới mọc, màu sắc xanh biếc, như ngọc lưu ly.
5. Mắt rộng dài.
6. Mũi cao rộng thẳng, lỗ mũi không hiện ra.
7. Tai rộng, dày, dài, trái tai thòng xuống.
8. Thân chắc thật như Na-la-diên.
9. Mỗi phần của thân, không thể hoại.
10. Mỗi đốt xương của thân chắc, khít.
11. Mỗi lần thân quay trở như voi chúa.
12. Thân mềm mại.
13. Thân không từng khúc.
14. Thân luôn trẻ.
15. Thân thấm nhuần.
16. Thân tự gìn giữ, không đi xiêu vẹo.
17. Mỗi phần của thân đều đầy đủ.
18. Sự hiểu biết đầy đủ.
19. Dung nghi đầy đủ.
20. Oai đức vang xa.
21. Tùy thuận người khắp mọi nơi.
22. Ở nơi an ổn, không thể lay động.
23. Khuôn mặt cân đối, không lớn không dài.
24. Khoan dung.
25. Khuôn mặt trong sáng như ánh trăng rằm.
26. Mặt đầy đặn.
27. Dung mạo ngay thẳng, không mất sắc.
28. Dáng vẻ như sư tử.
29. Đi đứng như voi chúa.
30. Thực hành pháp như ngỗng chúa.
31. Đầu như trái Na-đà-na.
32. Chân đầy đặn, khi đi dấu hoa văn ở chân in hiện ra.
33. Màu móng chân như đồng đỏ, dày mỏng tròn mềm.
34. Xương đầu gối rắn chắc tròn đẹp.
35. Chỉ văn trang nghiêm.
36. Mạch máu trầm.
37. Chỉ tay rõ thẳng.
38. Chỉ tay dài.
39. Chỉ tay không bị cắt đứt.
40. Tay chân như ý.
41. Tay chân hồng hào như màu hoa sen.
42. Tướng khổng môn đầy đủ.
43. Bước đi không rộng hẹp.
44. Eo tròn lớn.
45. Bụng không hiện.
46. Rốn như rắn cuộn tròn, xoay theo phía phải, tròn sâu.
47. Màu sợi lông xanh hồng, như phía sau cổ của chim khổng tước.
48. Lông sạch sẽ.
49. Lông xoắn theo phía phải.
50. Miệng phát ra mùi hương Vô thượng, lông trên thân đều có mùi thơm.
51. Môi đỏ mọng như quả Tần-bà.
52. Màu lưỡi đỏ.
53. Lưỡi mỏng.
54. Tất cả đều ưa nhìn.
55. Tùy theo ý chúng sinh, mà vui vẻ nói với họ.
56. Ở mọi nơi, đều nói những lời tốt đẹp.
57. Được nói trước.
58. Tùy theo các âm thanh của chúng sinh, mà phát ra, không hơn không giảm.
59. Tùy những cách nói của chúng sinh mà vì họ nói pháp phù hợp.
60. Không dính mắc vào những pháp đã nói.
61. Xem chúng sinh bình đẳng.
62. Thấy trước làm sau.
63. Phát ra một âm, mọi loài đều hiểu.
64. Theo thứ tự có nhân duyên thì nói pháp.
65. Tất cả mắt của chúng sinh, không thể thấy hết các tướng.
66. Nhìn không biết chán.
67. Tất cả âm thanh, mỗi phần đều đầy đủ.
68. Việc lành luôn hiện ra.
69. Những chúng sinh ngang bướng nhìn thấy, tức liền hiền hòa, những chúng sinh sợ hãi, liền được an vui.
70. Âm thanh rõ trong.
71. Thân không nghiêng ngã, lay động.
72. Các phần thân thể đều to lớn.
73. Thân cao.
74. Thân không dính mắc.
75. Quanh thân, ánh sáng tỏa xa một trượng.
76. Khi đi, ánh sáng tỏa theo thân.
77. Thân thể trong sáng.
78. Tóc xoắn ốc, không rối; sợi tóc dài, đẹp; màu tóc sáng dịu, giống như hạt châu xanh.
79. Tay chân đầy đặn.
80. Tay chân đều có tướng phước đức.
Này A-nan! Đó là tám mươi vẻ đẹp của Như Lai, làm trang nghiêm thân Phật.
Này A-nan! Như Lai có mười Lực:
1. Xứ phi xứ trí lực.
2. Tùy nghiệp trí lực.
3. Định loại trí lực.
4. Căn phẩm trí lực.
5. Dục lạc trí lực
6. Tánh loại trí lực.
7. Chí Nhất thiết trí lực.
8. Túc sinh trí lực.
9. Tử sinh trí lực.
10. Lậu tận trí lực.
Do mười trí lực này, Như Lai hiện ra nói pháp chỗ nào cũng tối đại thắng, xoay chuyển bánh xe Phạm thiên Vô thượng trong sạch, ở giữa đại chúng, cất tiếng sư tử rống.
Này A-nan! Như Lai có bốn Vô úy:
1. Nhất thiết trí vô úy.
2. Lậu tận vô úy.
3. Thuyết chướng đạo vô úy.
4. Thuyết tận khổ đạo vô úy.
Này A-nan! Như Lai có ba Niệm xứ:
1. Chánh hạnh, chánh niệm.
2. Tà hạnh, chánh niệm.
3. Tạp hạnh, chánh niệm.
Này A-nan! Như Lai có pháp đại Bi.
Này A-nan! Như Lai có mười tám pháp Bất cộng:
1. Thân không lỗi.
2. Miệng không lỗi.
3. Ý không lỗi.
4. Không có tâm bất định.
5. Không chấp vào ý tưởng khác.
6. Đều biết xả bỏ.
7. Không có tham muốn, không có giảm mất.
8. Không có chánh tinh tấn, không có giảm mất.
9. Không niệm, không có giảm mất.
10. Không trí, cũng không có giảm.
11. Không giải thoát, cũng không có giảm.
12. Không giải thoát trí kiến không giảm.
13. Thân làm theo trí tuệ.
14. Miệng nói theo trí tuệ.
15. Ý nghĩ theo trí tuệ.
16. Trí tận cùng quá khứ, tròn đầy.
17. Trí tận cùng hiện tại, tròn đầy.
18. Trí tận cùng vị lai, tròn đầy.
A-nan! Chỉ một mình Như Lai đạt được thần thông mau chóng tự tại như ý; chỉ một mình Như Lai đạt được thần thông biến hóa vô cùng; chỉ Như Lai, đạt được nơi thần thông của bậc Thánh vô lượng, vô tận; chỉ Như Lai đạt được pháp tự tại của tâm; chỉ Như Lai, đạt được thần thông biết được tâm người khác, một cách vô biên; chỉ Như Lai, đạt được thần thông thiên nhĩ vô ngại; chỉ Như Lai, đạt được sự hiểu biết về các loài chúng sinh khác nhau ở cõi Vô sắc; chỉ Như Lai, thấu đạt được cái sau khi Niết-bàn, của hàng Thánh chúng; chỉ Như
Lai, có trí tuệ, thấu rõ sự trả lời không mắc mứu; chỉ Như Lai, đạt được đại Ba-la-mật, hay khéo đáp hỏi; chỉ Như Lai, thuyết pháp có phân biệt, mà không bị lầm lỗi; chỉ Như Lai, đạt được sự khai hóa chúng sinh, không có không quá; chỉ Như Lai, đạt được sự đứng đầu trong việc hướng dẫn; chỉ Như Lai, đạt được sự không thể hại diệt; chỉ Như Lai, đạt được Kim cang Tam-muội; chỉ Như Lai, đạt được tất cả pháp, chẳng phải sắc, chẳng phải tâm, tâm không tương ưng, Như Lai biết hết cả; chỉ Như Lai, đạt được sự giải thoát vô ngại; chỉ Như Lai, đạt được ba bất, hộ, pháp; chỉ Như Lai, đạt được sự dứt trừ hết tập khí; chỉ Như Lai, đạt được Nhất thiết chủng trí; chỉ Như Lai, đạt được Kim cang tụ thân; chỉ Như Lai, đạt được việc chưa từng nghĩ ra mà tất cả các việc đều thành tựu; chỉ Như Lai, có được tất cả các tướng, tương ưng với mỗi nơi, rõ ràng đầy đủ; chỉ Như Lai, đạt được vấn đề thọ ký, không có bất định; chỉ Như Lai, đạt được cái mà đối với tâm hơn thua, Phật không chấp nhận, người nào có tâm đó thì không được thấy Phật; chỉ Như Lai, chuyển được bánh xe, của tất cả pháp thắng diệu; chỉ Như Lai, có thể gánh vác được cho chúng sinh, có thể xả bỏ những gánh vác nặng cho chúng sinh; chỉ Như Lai, nhập vào Bát-niết-bàn lại còn khiến khởi tâm; chỉ Như Lai, đạt được nguyên nhân tu hành tròn đầy không dư; chỉ Như Lai, đạt đến quả tròn đầy không dư; chỉ Như Lai, làm việc lợi ích cho người tròn đầy không dư; chỉ Như Lai, đạt được sự biện tài không tận; chỉ Như Lai, nói tất cả pháp đều như lý.
A-nan! Công đức Như Lai, lược nói có sáu loại:
1. Đầy đủ.
2. Không nhơ.
3. Không lay động.
4. Vô ngại.
5. Lợi ích cho người.
6. Tài năng tự tại.
Này A-nan! Thế nào gọi Như Lai là công đức không thể nghĩ bàn? Tất cả công đức vô biên, hằng sa kiếp của tất cả Như Lai, ở hoặc địa và tịnh địa, thâu tóm nhau, hợp vào nhau, chưa từng rời
nhau, không sạch, không nhơ, không thể nghĩ bàn.
Phẩm 5: VIỆC CỦA NHƯ LAI
Này A-nan! Như Lai có mười tám việc:
1. Như Lai là bậc không thể so sánh, rất cao cả, rất tốt đẹp, không ai sánh kịp, khiến cho các chúng sinh khởi tâm kỳ lạ, cung kính cúng dường. Đấy là việc thứ nhất, nhờ đó mà ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp được thành tựu.
2. Như Lai như lý, thông đạt nhân quả, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, nói không có nhân quả, nói pháp nhân quả, không có bình đẳng, thì Ta liền chế phục, khiến họ vào thế bế tắc. Đấy là việc thứ hai, nhờ đó mà thị xứ phi xứ trí lực được thành tựu.
3. Như Lai thấy biết việc, tự gây nghiệp, thì tự thọ quả; không có việc tự mình gây ra, mà người khác phải chịu quả; nếu Sa-môn, Bà-la-môn tin và thực hành theo tà thuyết, tà giáo, thì ta liền chế ngự, khiến họ rơi vào thế bế tắc. Đấy là việc thứ ba, nhờ đó mà nghiệp loại trí lực được thành tựu.
4. Như Lai giáo hóa hiện rõ ba loại xe: Một là xe thần thông; hai là xe ký tâm; ba là xe thị giáo. Hướng dẫn đệ tử, trở thành những bậc Thánh; nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, có tâm hơn thua, nói pháp trái nghịch, để chống đối với chánh pháp, thì ta liền chế phục, khiến rơi vào thế bế tắc. Đấy là việc thứ tư, nhờ đó mà thiền định trí lực được thành tựu.
5. Như Lai thông suốt những căn cơ trên dưới, trong ngoài, cứ như lý mà nói, khiến những người căn cơ thấp kém cũng được thành thục giải thoát. Đấy là việc thứ năm, nhờ đó mà căn chủng trí lực được thành tựu.
6. Như Lai thấy biết ba hạng chúng sinh, tà, chánh, dục, lạc đều thấy đúng như thật, dứt trừ những ham muốn xấu tăng trưởng những ham muốn tốt. Đấy là việc thứ sáu, nhờ đó mà dục lạc trí lực được thành tựu.
7. Như Lai xem, biết chúng sinh có ba hạng: Một là thô; hai là trung; ba là diệu; và khiến cho ba hạng người này như lý mà vào được các pháp môn. Đấy là việc thứ bảy, nhờ đó mà tánh giới trí lực được thành tựu.
8. Như Lai thấy một cách rõ ràng về đạo pháp xuất ly, được quả giải thoát; về đạo pháp chướng ngại, được quả sinh tử; khiến diệt được đạo chướng ngại, tu đạo xuất ly. Đấy là việc thứ tám, nhờ đó mà chí Nhất thiết xứ trí lực được thành tựu.
9. Như Lai thấy một cách rõ ràng, về các việc ở đời trước, các việc đã nói ở quá khứ sự, khiến cho chúng sinh khởi tâm chán sợ; nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, chấp thường kiến, thì liền chế phục, khiến có chỗ dựa, không bị đọa.
Đó là việc thứ chín, nhờ đó mà túc sinh trí lực được thành tựu.
10. Như Lai thấy rõ các chúng sinh, chết nơi này, sinh nơi kia, cứ như lý mà thọ ký; nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, chấp đoạn kiến, thì liền chế phục, khiến họ có chỗ dựa, không rơi vào thế bế tắc. Đấy là việc thứ muời, nhờ đó mà sinh tử trí lực được thành tựu.
11. Như Lai tự biết giải thoát, thông suốt, không ngăn ngại; nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, tăng thượng mạn, chưa đắc A-la-hán mà nói rằng đã đắc, tức liền chế phục, khiến họ có chỗ dựa, không rơi vào thế bế tắc.
Đó là việc thứ mười một, nhờ đó mà lậu tận trí lực được thành tựu.
12. Như Lai làm việc lợi ích, rất là khéo léo và cao cả; nếu có người nào, hỏi về mười Lực của Như Lai, thì cứ như thật mà trả lời, dứt trừ sự nghi ngờ cho họ, có khả năng tự lập chánh pháp, có khả năng phá tà thuyết của người.
Đó là việc thứ mười hai, nhờ đó mà bốn Vô úy được thành tựu.
13. Chánh giáo của Như Lai, có người có thể tu, có người không thể tu, cũng có người tu mà không tu; đối với ba hạng người này Như Lai, không có tâm nhiễm đục.
Đó là việc thứ mười ba, nhờ đó mà ba niệm xứ được thành tựu.
14. Mắt Phật của Như Lai, ngày đêm luôn xem xét chúng sinh,
ở những nơi tranh đua hơn thua, để cứu vớt họ.
Đó là việc thứ mười bốn, nhờ đó mà đại Bi được thành tựu.
15. Như Lai cứ như những gì đã nói mà hành; lại rất năng hành, năng thuyết.
Đó là việc thứ mười lăm, nhờ đó mà tam, bất, hộ, pháp được thành tựu.
16. Đối với tất cả chúng sinh, Như Lai đều làm việc lợi ích cho họ, thảy đều tròn đầy, không có tổn giảm.
Đó là việc thứ mười sáu, nhờ đó mà sự nhớ nghĩ không quên mất được thành tựu.
17. Trong bốn oai nghi, tùy theo lý Như Lai không hề có sự lầm lẫn.
Đó là việc thứ mười bảy, nhờ đó mà sự diệt trừ tập khí được thành tựu.
18. Như Lai xem ba loại pháp: Một là hành pháp được lợi ích; hai là hành pháp bị tổn giảm; ba là hành pháp vừa lợi, vừa ổn. Lìa hai pháp cuối, Như Lai tuyên bố, cái gì đem lại lợi ích thì hành.
Đó là việc thứ mười tám, nhờ đó mà Nhất thiết trí và các pháp Bất cộng được thành tựu.
Này A-nan! Những việc của Như Lai là như vậy, ông nên học tập.
Này A-nan! Thế nào gọi Như Lai là việc không thể nghĩ bàn? A-nan! Những việc của Như Lai là vô số vô lượng, chúng sinh ở thế gian, không thể nào hiểu hết được. Mặc dù dựa vào lời nói, nhưng những việc của Như Lai không thể nào hiện rõ ràng được, cũng không thể chỉ bày và khiến cho mọi người hiểu được. Tất cả cõi Phật, mọi nơi đều thông suốt. Tất cả Như Lai, tùy thuận bình đẳng, vượt qua cảnh giới của ý tưởng, không có tướng phân biệt, giống như hư không, không thể nào phân biệt, tương xứng với pháp giới.
–Này các thiện nam! Thế nên Phật nói, việc của Như Lai là không thể nghĩ bàn, hành biến khắp mọi nơi, mọi nơi đều không mất; tùy nơi mà làm trong ba đời, không làm mất tánh Tam bảo. Như Lai trụ vào những việc này, tướng thân Như Lai không xả bỏ tánh hư
không, tất cả cõi Phật hiển hiện tự thân; những lời nói của Như Lai, chẳng phải là tánh của âm thanh, cùng loại âm với chúng sinh, nhưng Ngài lại nói pháp chân chánh. Như Lai không ôm gữi tâm làm cảnh giới; những tâm tánh ham ưa dục lạc, của tất cả chúng sinh, Ngài đều thông suốt.
Này A-nan! Đó gọi là công việc của Như Lai không thể nghĩ bàn.
Khi Phật nói kinh xong, trong chúng hội, có bảy vạn năm ngàn Đại Bồ-tát liền chứng được “kiến Pháp thân viên mãn”. Lại có bảy vạn năm ngàn Đại Bồ-tát, đắc Vô sinh pháp nhẫn đối với hết thảy các pháp. Lại có bảy vạn năm ngàn Đại Bồ-tát liền đắc Đại thừa Tam-muội Diệu quang. Đối với quả vị Vô thượng Bồ-đề, hàng chúng sinh trong vô số a-tăng-kỳ, không khởi tâm thoái chuyển. Chúng sinh trong vô lượng a-tăng-kỳ, được xa lìa bụi trần nhơ bẩn, được mắt pháp sáng. Lại có vô lượng chúng sinh đắc quả tăng thượng.
Phẩm 6: KHEN NGỢI
Bấy giờ, sau khi nghe Phật nói, từ giữa đại chúng Tôn giả A-nan, vui mừng hớn hở như chưa từng có, liền đứng dậy, trịch áo vai phải, cung kính, đảnh lễ Phật, chắp tay, ngước nhìn dung nhan Thế Tôn, với tâm trong sạch, nói kệ:
Trong hàng chúng sinh ở ba đời
Như Lai cao cả, không sánh được
Ở nơi nhân pháp, không gì bằng
Thế Tôn, bình đẳng, khắp tất cả
Dứt trừ hết thảy, điều cần dứt
Thông đạt hết thảy, điều cần biết
Trí tuệ vượt trội, bậc thứ nhất
Chỉ Phật Thế Tôn, chẳng ai khác
Có sức, không sợ, lời thật này
Như Lai có sức, nên không sợ
Năng lực Thế Tôn, không tổn người
Thật là những việc hiếm, khó nghĩ
Phương tiện khéo léo, dạy chúng sinh
Chẳng phải tâm hiểm ác, mơ hồ
Chúng sinh tà, mạn, tự kiêu ngạo
Thế Tôn tách phục, khiến dứt trừ
Nếu ai có sức, thắng được người
Đó thành lỗi miệng, ở thế gian
Nếu cho Như Lai tôn quý nhất
Thì những lời ấy thật không sai
Nếu ai dựa lý, mà hỏi khó
Thì không thể khiến Ngài khuất phục
Như Lai hàng phục, không sai sót
Dẫn dắt chúng sinh, đến an vui
Bốn món thanh tịnh không lầm lỗi
Cho nên, vì thế không cần giữ
Đủ bốn Biện tài, nói không cùng
Mùi pháp tràn đầy, chúng sinh no
Hết thảy pháp xứ, trí không ngại
Tất cả niệm xứ không giảm mất
Đại Bi bình đẳng khắp chúng sinh
Với pháp thế gian, tâm không nhiễm
Thông đạt hết thảy căn, dục, tánh
Có pháp giáo hóa, độ mọi loài
Phiền não có nhiều loại sai biệt
Diễn nói nhiều pháp để đối trị
Như Lai thuyết pháp là bậc nhất
Phàm phu gặp Phật, không giải bày
Vô minh hoặc ám, đã che lấp
Hạng này nhiều, khó thể độ ngay
Tiếng tăm Như Lai, khiến ngưỡng vọng
Thấy Phật, khiến người vui vô cùng
Phật nói, khiến tâm người trong sạch
Chánh pháp của Phật, thoát tử sinh
Chỉ Phật giúp trừ điều không tốt
Nhớ Phật, khiến tâm luôn an vui
Thấy Phật, liền sinh đại trí tuệ
Hiểu Phật, liền được thành chủng trí
Nhờ giới Như Lai, sạch không bẩn
Nhờ định Như Lai, ý lắng trong
Nhờ trí Như Lai, không lay động
Biển pháp Như Lai, đầy cam lồ
Chúng sinh hôn mê Phật tỉnh táo
Nhìn căn, tánh, dục của chúng sinh
Chúng sinh buông thả Như Lai không
Xem xét chúng sinh, đều bình đẳng
Phật nói pháp, phá giặc phiền não
Phật đã trừ, huyễn hóa, ma vương
Đã chỉ sinh tử là lầm lỗi
Đã rõ Niết-bàn nơi không sợ
Khiến người đạt được những pháp độ
Giống như Thế Tôn hành đại Bi
Làm tối thượng, Đề-bà-đạt-đa
Tất cả chúng sinh, thí Bồ-đề
Nay con không thể thấy chánh hạnh
Tu trì, để báo ân Thế Tôn
Nếu ai đã đến diệt vô dư
Vẫn còn chưa báo được Phật ân
Nếu ai hành trì Phật chánh hạnh
Người này chỉ tu pháp lợi mình
Thế Tôn mệt mỏi vì chúng sinh
Ân sâu Vô thượng, sao báo được
Thế Tôn diễn nói pháp chân chánh
Khiến người tự hành dạy mọi người
Nếu khiến Như Lai không ra đời
Thì phải chịu não hổ bức thân
Cả thế gian chỉ có đường ác
Nghe âm thanh thê thảm kêu gào
Sáu nẻo chịu khổ đều không khác
Đều do phiền não trói chặt vào
Thế Tôn giải kết cho chúng sinh
Rằng buộc đại Bi để thọ mãi
Thế Tôn là ruộng phước cao tột
Người nên nương Phật hành chánh hạnh.
Như con không thấy hết báu lành
Thì hành ác hạnh cũng như vậy
Với Phật, nếu khởi tâm buông lung
Thì những người này đọa đường ác
Chợt khởi oán tránh với Thế Tôn
Chìm khổ, tối tăm, còn nghi gì!
Giống như Đại sư, hiểu thân mình
Tương tự, Đại sư cũng thể biết
Người khác không thể hiểu như vậy
Nay con lạy khắp mười phương Phật
Tất cả công đức cùng trí lực
Thế Tôn hiện rõ cùng pháp môn
Lòng đại Bi, muốn chúng sinh hiểu
Thế nên hôm nay, con lễ Phật
Sắc đẹp, hương thơm nhìn không chán
Các tướng tròn đầy vượt cả màu
Ba thời, khai mở rất đáng yêu
Phật hoa như vậy, con đảnh lễ
Thế Tôn khéo biết chỗ Vô thượng
Tất cả hiểm nạn đều ra khỏi
Không tích, không tụ, không giả dối
Nay con lạy Đấng Lưỡng Túc Tôn
Thế Tôn tẩy sạch các nhơ bẩn
Trụ nơi chánh pháp, nước công đức
Xưa nay, trong ngoài đều sạch cả
Nay con lạy Đấng Chân Tịnh Thân
Thế Tôn đầy đủ các pháp lành
Thường làm bạn ích cho mọi người
Mưa cam lồ rưới khắp chúng sinh
Nay con lạy Đấng Năng Lợi Tha
Là người cao cả, đời tôn trọng
Bởi vậy nên họ kính Thế Tôn
Dứt sạch các ác, tròn đầy lành
Nay con đảnh lễ Đấng Tối Thắng
Mọi phương tiện, thảy đều tu học
Vì thương chúng sinh muốn cứu giúp
Sinh tử hiểm nạn, khiến độ thoát
Nay con đảnh lễ và quy y
Lạy thân đẹp đẽ, không ví được
Lạy đấng hay nói pháp cam lồ
Lạy trí thanh tịnh lìa nhơ bẩn
Và lạy tất cả, rừng công đức.
Phẩm 7: CHÚC LỤY
Phật bảo A-nan:
–Ông nên thọ trì pháp môn chân chánh này.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan quỳ dài bạch:
–Bạch Thế Tôn! Nay con theo Phật được nghe pháp sâu xa này, được chưa từng có, con lấy đầu thờ phụng thọ trì. Bạch Thế Tôn! Nên gọi kinh này là gì và thực hành ra sao?
Phật nói:
–Này A-nan! Kinh này gọi là Vô Thượng Y, cũng gọi là Vị Tằng Hữu và cũng gọi là Nhiếp Thiện Pháp, là Thanh Tịnh Hạnh, là Hành Cứu Cánh.
Này A-nan! Có mười cách để thọ trì kinh này:
1. Biên chép.
2. Cúng dường.
3. Lưu truyền.
4. Lắng nghe.
5. Tự đọc.
6. Nhớ, trì.
7. Rộng nói.
8. Tự tụng.
9. Suy nghĩ .
10. Tu hành.
Này A-nan! Với mười cách này mà có thể thọ trì kinh này, thì công đức chân chánh tụ lại sẽ vô lượng, vô tận.
A-nan! Ví như hạt châu như ý, xuất hiện nơi nào, thì tất cả các vật báu khác thảy đều xuất hiện theo. Người thọ trì kinh này, cũng như vậy, tất cả pháp lành thảy đều được thành tựu.
A-nan! Ví như dựa từ nơi đất, các cây cỏ, các loại cây thuốc, đều được sinh trưởng. Các pháp lành cũng như vậy, đều nhờ nơi kinh này mà được tăng trưởng.
Này A-nan! Ví như các pháp lành đã sinh, đang sinh, sẽ sinh, đều là chỗ để tóm thu và gìn giữ, không cho buông thả, hạnh không buông thả được xem là đệ nhất. Như vậy, những pháp được nói trong kinh này, đề cập tới các hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, thì đó được xem là chỗ thâu tóm bậc nhất của kinh này.
A-nan! Ví như Chuyển luân thánh vương, nếu còn ở đời, bảy báu thường theo sát. Như vậy, kinh này cũng thế, nếu còn trụ ở đời, dòng giống Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, sẽ liên tục không dứt.
Này A-nan! Nay ông có thể, lần lượt diễn rộng kinh này, cho những hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân. Vì sao? Vì muốn cho tất cả các loài chúng sinh, trồng căn lành vào Như Lai xứ.
Sau khi ở trong đại hội, được nghe Phật nói kinh này, pháp môn hiếm có này, Tôn giả A-nan cùng với các vị Đại Bồ-tát, các vị Đế Thích, Phạm thiên, các vị trời hộ đời… thảy đều vui mừng hớn hở, tín nhận và phụng thờ.