Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 2

Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 2

Tác giả: Biên dịch: Pháp Sư Từ Thông, Hiệu: Như Huyễn Thiền Sư. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 376.

Kinh Đại Bát Niết Bàn (hoặc gọi ngắn là Kinh Niết Bàn) là tên gọi chung của hai bộ kinh hoàn toàn khác nhau về dung lượng và tư tưởng. Do đó, bộ kinh này sẽ thuộc về các bộ tạng tùy theo hệ truyền thừa Phật giáo:

1. Trong Nam truyền Phật giáo (Hệ Kinh tạng Pali)

Ở hệ nguyên thủy, kinh có tên là Mahāparinibbāṇa Sutta.
• Thuộc bộ: Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya), là bài kinh số 16.
• Nội dung: Là một bài kinh lịch sử, ghi chép chi tiết về chuyến du hành cuối cùng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ thành Vương Xá đến Sa-la song thọ (thành Câu-thi-na), những lời dặn dò thiết thực cuối cùng cho hàng môn đồ và sự kiện Ngài nhập diệt. Bản dịch tiếng Việt nổi tiếng nhất thuộc về Cố Hòa thượng Thích Minh Châu.

2. Trong Bắc truyền Phật giáo (Hệ Hán tạng Đại thừa)

Ở hệ Đại thừa, kinh có tên chữ Hán là Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).
• Thuộc bộ: Bộ Niết-bàn (là bộ thứ 7 trong 28 bộ loại của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh). Đây cũng được coi là một trong "Năm bộ kinh điển lớn" của Phật giáo Đại thừa.
• Nội dung: Đây là một bộ kinh vô cùng đồ sộ (bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm gồm 40 quyển, bản dịch của ngài Pháp Hiển gồm 36 quyển). Kinh không tập trung vào yếu tố lịch sử mà đi sâu vào giáo lý tối thượng của Đại thừa: khẳng định Pháp thân Như Lai là thường trụ (không mất đi), Niết-bàn có đủ 4 đức tính Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, và khẳng định tất cả chúng sinh đều có bản tính Phật (Phật tính). Bản dịch tiếng Việt phổ biến nhất là của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh.
(Mẹo phân biệt: Ngoài ra, trong hệ kinh tạng Bắc truyền cũng có một bản kinh ngắn tương đương với bài kinh bên Trường Bộ Pali, nằm trong bộ Kinh Trường A-hàm, mang tên là Kinh Du Hành).
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm này, hãy cho tôi biết:
• Bạn muốn đi sâu vào ý nghĩa tư tưởng Thường - Lạc - Ngã - Tịnh hoặc Phật tính trong bản Đại thừa?
• Hay bạn muốn tìm hiểu hành trình 3 tháng cuối cùng của Đức Phật được mô tả như thế nào trong bản Pali (Trường Bộ)?

Chương 9: Phẩm Thứ Hai Mươi Mốt: Anh Nhi Hạnh (Trang 220 - 225)

Phẩm Thứ Hai Mươi Mốt: Anh Nhi Hạnh (Trang 220 - 225)
PHẨM THỨ HAI MƯƠI MỐT
 
ANH NHI HẠNH
 
Lúc bấy giờ Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Này thiện nam tử! Như Lai muốn cho các Bồ tát nghe về Anh Nhi Hạnh. Anh Nhi Hạnh là hạnh nết của trẻ hài nhi miệng còn thơm sữa. Hài nhi này không thể đứng dậy đi tới đi lui nói chuyện. Như Lai cũng vậy, Như Lai không thể khởi dậy, vì Như Lai trọn vẹn chẳng khởi các pháp tướng. Như Lai cũng không thể đứng dừng, vì Như Lai chẳng chấp thủ tất cả pháp. Như Lai không thể có đến, vì thân Như Lai chính là pháp thân chẳng có lay động. Như Lai cũng không thể đi, vì Như Lai đã đến Đại Niết bàn rồi. Như Lai không thể nói, vì Như Lai dù nói pháp cho tất cả chúng sanh nhưng thật ra chẳng nói gì. Bởi vì pháp có cái  để nói thì  đó là pháp hữu vi. Như Lai không ngôn ngữ, như anh nhi ngôn ngữ chưa rõ, dù có ngôn ngữ, thật ra không ngôn ngữ. Ngôn ngữ
chưa rõ chính là bí mật của chư Phật. Dù chư Phật có nói nhưng chúng sanh cũng chẳng hiểu, nên gọi là không ngôn ngữ.       
Như anh nhi gọi tên những đồ vật chẳng duy nhứt, vì chưa biết rõ tên nhưng không phải nhân nơi đây mà được biết đồ vật. Cũng như vậy, tất cả chúng sanh chủng loại  địa phương, ngôn ngữ chẳng  đồng, Như Lai phương tiện thuận theo ngôn ngữ của họ, cũng làm cho các chủng loại nhân đó mà được hiểu biết.       
Anh nhi có thể nói được tiếng đơn, cũng vậy, Như Lai nói chữ cái. Như nói "bà", "hòa". "Hòa" là hữu vi. "Bà" là vô vi. Vì thế mà tỷ dụ Anh nhi. Rồi Như Lai nói "Hòa" là vô thường. "Bà" là thường. Như Lai nói thường, chúng sanh nghe rồi, người muốn cầu pháp thường họ dứt được vô thường, đấy gọi là Anh nhi hạnh.       
Anh nhi hạnh cũng chẳng biết khổ vui, ngày đêm, cha mẹ, thân sơ, thương ghét, ân oán...Cũng vậy, Đại Bồ tát vì chúng sanh nên chẳng nghĩ đến khổ vui, không câu nệ ngày  đêm, không phân biệt thân sơ cha mẹ. Cũng như vậy,  đại Bồ tát vì chúng sanh nên chẳng  để ý khổ vui, không phân biệt ngày đêm, tâm bình đẳng lợi ích chúng sanh không có tưởng thân sơ sai khác.
 Anh nhi cũng không thể tạo tác việc lớn, việc nhỏ. Cũng vậy, Bồ tát chẳng tạo nghiệp sanh tử (việc lớn). Bồ tát cũng không bao giờ thối thất tâm Bồ đề tu hạnh Thanh văn (việc nhỏ).
Anh nhi hạnh lúc kêu khóc, cha mẹ lấy lá dương vàng mà bảo rằng: nín đi  đừng khóc ! Vàng đây mẹ cho con ! Anh nhi thấy lá dương vàng bằng lòng tưởng là vàng thật, bèn thôi không khóc nữa. Trâu gỗ, ngựa gỗ, xe gỗ, người gỗ, Anh nhi cũng tưởng là người, ngựa, xe, trâu thật liền chẳng khóc nữa. Do vì chẳng phải trâu, ngựa, xe người thật mà tưởng là người, xe, ngựa, trâu thật...mà gọi là Anh nhi.      
Phương tiện của Như Lai cũng vậy, nếu có chúng sanh muốn tạo tội ác, Như Lai vì họ mà nói có cõi Đao Lợi Thiên, là cõi trời rất đẹp đẽ, an vui và tự tại...Chúng sanh nghe có cõi an vui, đẹp đẽ nghĩ mình sẽ được thỏa thích bèn sanh lòng ham muốn, thôi không làm điều tội ác nữa mà siêng năng thực hành những nghiệp lành. Nhưng thật ra cõi trời Đao Lợi vẫn là sanh tử, tử sanh, chẳng phải thật cảnh an vui tự tại.       
Nếu có chúng sanh nhàm khổ sanh tử, Như Lai vì họ nói hạnh của Nhị thừa, nhưng thật ra quả Nhị thừa chẳng phải tột đỉnh chân thật, bởi vì hàng Nhị thừa còn thấy lỗi sanh tử, còn thấy vui Niết bàn, còn quan niệm tu hành và không tu; có chứng hay không chứng như
Anh nhi kia đối với vật chẳng phải vàng mà tưởng là vàng thật.       
 Như Lai ở trong chỗ bất tịnh mà nói là tịnh mà Như Lai không có hư vọng, và Như Lai thật chứng đệ nhất nghĩa đế, Như Lai đứng trên quan điểm đệ nhất nghĩa đế mà dạy vẽ chúng sanh.       
Còn nữa, với chúng sanh mê mờ ấu trĩ như Anh nhi, đối với phi đạo mà tưởng là chân đạo, Như Lai cũng nói phi đạo là đạo, nhưng phi đạo thật không có đạo, vì có thể làm chút ít nhân duyên sanh ra đạo, nên Như Lai nói phi đạo là đạo.       
Lại nữa, qua cái nhìn Phật nhãn, Như Lai biết rõ chúng sanh tướng, nhưng thật ra không có tướng chúng sanh. Nếu Như Lai nói không, không chúng sanh thì tất cả chúng sanh sẽ đọa vào tà kiến. Do vậy, nên Như Lai nói có chúng sanh, những người đối với chúng sanh tưởng là chúng sanh thì không thể phá tướng chúng sanh. Nếu có người ngay nơi chúng sanh tướng mà phá được tướng chúng sanh, thì người này được Đại Niết Bàn. Do được Đại Niết Bàn nên chẳng còn kêu khóc nữa.      
Này Thiện nam tử ! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết năm hạnh này, nên biết người này quyết định sẽ được năm hạnh như vậy.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Thế Tôn ! Theo như chỗ tôi hiểu, y cứ theo lời Phật dạy thì tôi cũng quyết định sẽ được năm hạnh này.       
Đức Phật nói: Này Thiện nam tử ! Chẳng riêng gì ông  được năm hạnh như vậy mà trong hội này có chín mươi ba vạn người đồng được năm hạnh như ông vậy.

 
TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
 
*  Anh nhi hạnh có nghĩa  là nết hạnh của hài nhi. Ở phẩm hai mươi mốt này, Như Lai mượn cái nết hồn nhiên ngây thơ không biết  đắn  đo, không có ý tham cầu lấy bỏ, thân sơ thương ghét dùng để ví cái hạnh từ, bi, hỉ, xả ba la mật, bình đẳng tế độ chúng sanh qua nguồn giáo lý "Ưng vô sở trụ" của đạo Phật.  
*  Anh nhi có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc và có biết, nghĩa là Anh nhi vẫn có đủ LỤC CĂN.  
*  Lục căn của Anh nhi xúc đối với lục cảnh, nhưng tâm cảnh như như bất động. Thấy mà như chẳng thấy gì, nghe rồi nói...mà chẳng nói gì và chẳng có gì nói được "bất khả đắc". "Bất khả đắc" là một ngôn từ
thuộc loại ngôn từ vi diệu trong kho tàng bí mật của Như Lai !  
*  Khổ do  điên  đảo mộng tưởng. Không  điên  đảo mộng tưởng thì không khổ. Khổ không có thì không có cái gọi là vui, mà chỉ có "tịch tĩnh".  
"...Nhập thâm sơn trụ lan nhã
"...Sầm ngâm u thúy trường tòng hạ
"...Khuých tịch an cư thật tiêu sái!"
                               (Chứng Đạo Ca- Huyền Giác)
*  Sử dụng cái thấy bình đẳng: "Pháp giới nhất chân" "vô tự tánh", Như Lai ví mình là Anh nhi.  
*  Sử dụng cái thấy sai biệt: "Pháp giới trùng trùng duyên khởi" "Hữu chủng tánh", Như Lai lại ví mình với vai trò cha mẹ của Anh nhi. Như Lai rõ là người "nhất thiết trí", là đấng "vô thượng Bồ đề".  
 *  Vì người trí bậc trung, bậc hạ, Như Lai nói “vạn pháp có”, "Thế giới chư Phật trong mười phương có” !  
*  Với người trí bậc thượng, Như Lai cho biết: "chỉ có một thể tịch diệt chân như bất nhị”.  
" Niết bàn sanh tử đẳng không hoa"
/15
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »