Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 47 - Bộ Niết Bàn I - Số 374

Đại Tập 47 - Bộ Niết Bàn I - Số 374

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 842.

Chương 3: Kinh Đại Bát Niết Bàn - Quyển III (Trang 51 - 73)

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

QUYỂN III

Phẩm 1: THỌ MẠNG 3

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đối với giới luật, các ông có điều gì nghi ngờ, nay nên tùy ý thưa hỏi. Ta sẽ giải thích cho các ông được vừa ý. Ta đã tu học thông đạt tường tận bản tánh rỗng lặng của tất cả các pháp. Này các Tỳ- kheo! Chớ nghĩ Như Lai chỉ tu tập bản tánh vắng lặng của các pháp.
Lại bảo các Tỳ-kheo:
–Đối với giới luật nếu ai có điều gì nghi ngờ thì nay nên thưa hỏi. Bấy giờ, các Tỳ-kheo liền bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con không đủ trí tuệ làm sao có thể hỏi Như Lai, bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Vì sao? Vì cảnh giới của Như Lai không thể nghĩ bàn, các thiền định của Như Lai không thể nghĩ bàn, những lời dạy của Như Lai không thể nghĩ bàn. Cho nên chúng con không đủ trí tuệ để hỏi Đức Như Lai. Bạch Thế Tôn! Ví như có người già một trăm hai mươi tuổi, bị bệnh lâu ngày, nằm liệt trên giường không thể dậy được, khí lực suy yếu, mạng sống không còn bao lâu. Có một người nhà giàu nhân có việc muốn đi nơi khác đem một trăm cân vàng gởi cho người già kia rồi nói: “Nay tôi phải đi nơi khác nên đem vật báu này gửi cho ông, ông giữ giúp tôi, mười năm hoặc hai mươi năm, tôi trở về thì ông trao lại cho tôi”. Khi ấy, người già nhận lấy, nhưng ông ta không có người thừa tự. Không bao lâu sau, ông ta bệnh nặng qua đời. Vật báu kia đều bị mất. Người giàu trở về không biết đòi ai. Người ngu si đó không biết suy lường chỗ đáng gửi hay không đáng gửi. Cho nên, khi trở về không biết đòi ai. Vì lý do này, ông ta mất hết của báu.
Bạch Thế Tôn! Hàng Thanh văn chúng con cũng như thế, tuy
nghe Như Lai ân cần dạy bảo, nhưng không thể giữ gìn để chánh pháp được tồn tại lâu dài. Như người già kia nhận vật của người khác gửi. Nay đối với giới luật, chúng con không đủ trí tuệ làm sao hỏi được.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Nếu các ông hỏi Ta thì sẽ được lợi ích cho tất cả chúng sinh. Cho nên, Ta cho các ông tùy ý hỏi những điều còn nghi ngờ.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Ví như có người hai mươi lăm tuổi, trẻ trung tráng kiện, có nhiều của báu vàng bạc, lưu ly; cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc còn sống, có người đến gửi vật báu cho ông ta và nói: “Tôi có việc phải đi đến nơi khác, xong việc trở về, ông sẽ trao vật báu lại cho tôi”. Người trẻ tuổi cất giữ vật ấy như của mình. Bỗng nhiên, anh ta mắc bệnh, liền bảo người nhà: “Châu báu này là của người khác gửi, nếu ông ấy về thì trả lại”. Người trí cũng vậy, nếu khéo biết tính toán thì khi trở về vật báu được trả lại không bị mất. Thế Tôn cũng vậy, nếu đem pháp bảo phó chúc cho A-nan và các Tỳ-kheo thì chánh pháp không được tồn tại lâu dài. Vì sao? Vì tất cả Thanh văn và Đại Ca-diếp đều sẽ vô thường. Như người già kia, nhận vật báu của người khác gửi. Vì vậy, nên đem pháp vô thượng phó chúc cho Bồ-tát, vì các Bồ-tát khéo thưa hỏi và giải đáp đúng pháp bảo thì giáo pháp sẽ được tồn tại lâu dài đến vô lượng ngàn đời, làm tăng trưởng mạnh mẽ, tạo lợi ích an vui cho chúng sinh, như người trẻ kia nhận vật người khác gửi. Do ý nghĩa này, cho nên các vị Bồ-tát mới có thể thưa hỏi. Trí tuệ của chúng con giống như con muỗi, con ruồi thì chúng con làm sao có thể thưa hỏi giáo pháp thâm sâu của Như Lai. Khi ấy, hàng Thanh văn ngồi yên lặng.
Đức Phật khen ngợi các Tỳ-kheo:
–Lành thay! Lành thay! Các ông hoàn toàn được tâm vô lậu, tâm A-la-hán. Ta đã từng nghĩ, vì hai nhân duyên trên nên đem pháp Đại thừa phó chúc cho hàng Bồ-tát, làm cho diệu pháp được tồn tại lâu dài ở đời.
Bấy giờ, Phật bảo với tất cả đại chúng:
–Này thiện nam, thiện nữ! Thọ mạng của Như Lai không thể tính lường, biện tài nhạo thuyết cũng không thể kể hết, các ông nên tùy ý
thưa hỏi, hoặc về giới luật, hoặc về pháp quy y.
Đức Phật nói hai ba lần như vậy. Khi ấy, trong đại chúng có vị Bồ-tát tuổi còn trẻ, vốn là người ở xóm Đa-la, họ Đại Ca-diếp, dòng Bà-la-môn, nhờ thần lực của Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai phải, đi quanh trăm ngàn vòng, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Phật thưa:
–Bạch Thế Tôn! Nay con muốn thưa hỏi đôi điều, nếu Thế Tôn cho phép thì con mới dám thưa.
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cho ông tự do hỏi, Ta sẽ giải thích, dứt trừ những nghi ngờ của ông để ông được hoan hỷ.
Bấy giờ, Bồ-tát Đại Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như Lai đã thương xót chấp nhận thì con sẽ hỏi, nhưng trí tuệ của chúng con thấp kém như ruồi muỗi, mà đạo hạnh và uy đức của Như Lai thì cao vời vợi, Ngài thuần dùng chúng chiên-đàn, sư tử, khó điều phục, chẳng thể hoại làm quyến thuộc. Thân của Như Lai như chân kim cang, sắc như ngọc lưu ly, chân thật khó hoại, lại được biển đại trí tuệ như thế vây quanh. Đại Bồ-tát trong chúng này đều thành tựu vô lượng vô biên công đức sâu xa vi diệu giống như hương tượng. Ở trước đại chúng như thế con đâu dám thưa hỏi. Nhưng nhờ nương sức thần thông của Phật và nhờ căn lành oai đức của đại chúng, con xin thưa hỏi đôi điều.
Bồ-tát Ca-diếp ở trước Phật, nói kệ:
Làm sao được trường thọ
Thân kim cang không hoại
Lại dùng nhân duyên gì
Được sức kiên cố lớn.
Làm sao với kinh này
Rốt ráo đến bờ kia
Xin Phật vì chúng sinh
Khai mở pháp nhiệm mầu.
Làm sao được rộng lớn
Làm chỗ dựa muôn loài
Chẳng phải A-la-hán
Mà đồng bậc La-hán.
Làm sao biết thiên ma
Để mà ngăn cản chúng
Làm sao để biết rõ
Lời Phật hay Ba-tuần.
Làm sao bậc Điều Ngự
Hoan hỷ thuyết Chân đế
Thành tựu thiện chân chánh
Diễn nói bốn điên đảo.
Làm sao tạo nghiệp thiện
Nay Đại tiên sẽ nói
Làm sao các Bồ-tát
Thấy được tánh khó thấy.
Làm sao hiểu đủ nghĩa
Một chữ hay nửa chữ
Làm sao cùng Thánh hạnh
Như chim Ta-la-ta.
Ca-lân-đề nhật nguyệt
Thái bạch cùng tuế tinh
Làm sao chưa phát tâm
Mà gọi là Bồ-tát.
Làm sao giữa đại chúng
Vẫn không bị sợ hãi
Giống như vàng Diêm-phù
Không ai chỉ lỗi được.
Làm sao trong đời ác
Như sen không lấm bùn
Làm sao trong phiền não
Chúng không thể nhiễm được.
Như lương y trị bệnh
Không bị bệnh lây truyền
Làm sao lái con thuyền
Trong biển lớn sinh tử.
Làm sao thoát luân hồi
Như rắn lột bỏ da
Làm sao xem Tam bảo
Giống như cây Thiên ý.
Làm sao mà nói được
Nếu ba thừa vô tánh
Làm sao nói là vui
Khi niềm vui chưa có.
Làm sao các Bồ-tát
Có được chúng bất hoại
Làm sao vì người mù
Mà làm người dẫn đường.
Làm sao hiện nhiều thân
Nguyện xin Phật thuyết giảng
Làm sao người thuyết pháp
Sáng dần như trăng non.
Làm sao thị hiện được
Rốt ráo nơi Niết-bàn
Làm sao người dũng kiện
Hiện nhân, thiên, ma đạo.
Làm sao biết pháp tánh
Thọ ở nơi pháp lạc
Làm sao các Bồ-tát
Xa lìa tất cả bệnh.
Làm sao vì chúng sinh
Diễn nói pháp bí mật
Làm sao nói rốt ráo
Và cả không rốt ráo.
Làm sao nói bất định
Như Phật đoạn lưới nghi
Làm sao mà được gần
Đạo tối thắng vô thượng.
Nay con xin Như Lai
Vì các hàng Bồ-tát
Giảng nói pháp sâu xa
Tất cả hạnh vi diệu.
Trong hết thảy các pháp
Đều có tánh an lạc
Nguyện xin đấng Thế Tôn
Giảng rõ cho chúng con.
Đức Thế Tôn Diệu Dược
Nơi muôn loài nương tựa
Nay muốn hỏi các ấm
Mà con không trí tuệ.
Các Bồ-tát tinh tấn
Cũng không thể biết được
Cảnh giới của chư Phật
Rất sâu xa như vậy.
Bấy giờ, Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:
–Lành thay! Lành thay! Này thiện nam! Ông chưa đạt được Trí nhất thiết chủng mà Ta đã đạt được, nhưng điều mà ông hỏi về tạng bí mật sâu xa giống như điều mà bậc Nhất thiết trí hỏi không có gì khác. Này thiện nam! Khi Ta mới thành Chánh Giác ngồi nơi cội Bồ-đề, nơi đạo tràng, có vô lượng vô số Bồ-tát ở khắp tất cả cõi Phật nhiều như số cát sông Hằng, cũng từng hỏi Ta nghĩa lý sâu xa này. Nhưng ý nghĩa, công đức của câu hỏi đó cũng giống như ông hỏi không khác. Người hỏi như vậy thì được lợi ích cho vô lượng chúng sinh.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ trí lực để có thể hỏi Như Lai về nghĩa lý sâu xa như thế. Bạch Thế Tôn! Ví như con ruồi con muỗi không thể bay qua bờ bên kia của biển lớn và lượn khắp hư không. Cũng như vậy, con không thể hỏi Như Lai về ý nghĩa sâu xa của hư không pháp tánh và biển lớn trí tuệ như thế.
Bạch Thế Tôn! Ví như quốc vương đem viên minh châu trong búi tóc trao cho quan giữ kho. Quan giữ kho nhận ngọc rồi, hết lòng cung kính giữ gìn. Con cũng cung kính giữ gìn nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa mà Phật đã nói. Vì sao? Vì làm cho con được trí tuệ sâu rộng.
Bấy giờ, Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Này thiện nam! Hãy lắng nghe, lắng nghe! Ta sẽ giảng nói cho ông về hạnh nghiệp trường thọ mà Như Lai đã sở đắc. Do nhân duyên hạnh nghiệp này nên Bồ-tát thọ mạng lâu dài. Vì vậy, nên các ông chí
tâm lắng nghe và lãnh thọ nghĩa này. Nếu hạnh nghiệp có thể làm nhân Bồ-đề thì phải thành tâm lắng nghe, lãnh thọ nghĩa này, đã nghe và lãnh thọ rồi nên giảng nói cho người khác. Này thiện nam! Ta nhờ tu tập những hạnh nguyện như vậy nên chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nay vì mọi người mà giảng nói rộng nghĩa.
Này thiện nam! Ví như vương tử phạm tội, bị giam vào ngục, vua rất thương xót, nhớ nghĩ đến con, đích thân ngự giá đến ngục. Bồ-tát cũng vậy, muốn trường thọ phải hộ trì, nhớ nghĩ đến tất cả chúng sinh xem như con ruột, sinh lòng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, truyền giới không sát, dạy tu pháp thiện, khuyên tất cả chúng sinh gìn giữ năm giới cấm, mười điều thiện. Lại vào các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A- tu-la để cứu vớt chúng sinh đau khổ, giải thoát cho người chưa được giải thoát, cứu độ cho người chưa được cứu độ, người chưa đạt được Niết-bàn làm cho đạt được Niết-bàn, an ủi tất cả những người sợ hãi. Do những nghiệp nhân như vậy mà Bồ-tát thọ mạng lâu dài, đối với các trí tuệ được tự tại, sau khi qua đời sinh lên cõi trời.
Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát bình đẳng xem chúng sinh như con ruột, nghĩa đó rất thâm sâu con chưa hiểu được. Thế Tôn chẳng nên nói: “Bồ-tát tu tập bình đẳng đối với tất cả chúng sinh đồng xem như con”. Vì sao? Vì ở trong pháp Phật có người phá giới, có kẻ tạo tội ngũ nghịch, có người phá hủy chánh pháp, sao lại đối với những hạng người đó mà lại xem như con được?
Phật bảo Ca-diếp:
–Đúng thế, đúng thế! Như Lai đối với chúng sinh thật xem là con như La-hầu-la.
Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Trước kia vào ngày rằm chư Tăng đang bố-tát, trong chúng hội thanh tịnh đã thọ giới cụ túc, có một đồng tử không khéo tu tập nghiệp thân, khẩu, ý, núp ở chỗ kín, rình nghe chư Tăng thuyết giới. Lực sĩ Mật Tích nương thần lực của Phật, dùng chày kim cang đánh đồng tử nát ra như bụi. Bạch Thế Tôn! Thần Kim cang thật bạo ác mới có thể giết đồng tử. Thế sao Như Lai lại nói xem chúng sinh như con đồng La-hầu-la?
Phật bảo Ca-diếp:
–Ông không nên nói như vậy, đứa trẻ ấy là người biến hóa, không phải là người thật, vì muốn xua đuổi những kẻ phá giới, hủy pháp ra khỏi chúng Tăng, nên hiện như vậy. Thần Kim cang Mật Tích cũng là người biến hóa. Này Ca-diếp! Kẻ hủy báng chánh pháp, hạng Nhất-xiển-đề, kẻ sát sinh, tà kiến và cố ý phạm giới cấm, Ta đối với họ đều yêu thương như con La-hầu-la. Này thiện nam! Ví như quần thần của vua phạm vương pháp, thì tùy theo tội xử chém mà không bỏ qua. Như Lai Thế Tôn không phải như vậy, đối với hạng người hủy báng chánh pháp, làm yết-ma Khu khiển, yết-ma Ha trách, yết-ma Trí, yết- ma Cử tội, yết-ma Bất khả kiến, yết-ma Diệt, yết-ma Vị xả ác kiến. Này thiện nam! Sở dĩ Như Lai chế ra các pháp yết-ma hàng phục như vậy là nhằm tới những kẻ hủy báng chánh pháp, vì muốn chỉ rõ những người làm ác thấy có quả báo. Này thiện nam! Ông nên biết, Như Lai là người đem lại sự không sợ hãi cho chúng sinh ác. Nếu Như Lai phóng ra một tia sáng, hoặc hai, hoặc ba, người nào gặp được tia sáng ấy, liền xa lìa tất cả điều ác. Như Lai có đủ vô lượng thế lực như vậy. Này thiện nam! Pháp chưa được thấy, nếu ông muốn thấy nay Ta sẽ giảng nói cho ông tướng mạo đó. Sau khi Ta nhập Niết-bàn, ở nơi nào có Tỳ-kheo trì giới, oai nghi đầy đủ, hộ trì chánh pháp, nếu thấy có kẻ phá hoại chánh pháp thì có thể trị bằng cách quở trách, đuổi đi, nên biết vị Tỳ-kheo ấy được phước vô lượng không thể tính kể. Này thiện nam! Ví như có vị vua chuyên làm những việc tàn bạo, hung ác, rồi mắc bệnh nặng. Vua nước láng giềng biết tình hình liền khởi binh đến, ý muốn tiêu diệt hết. Bấy giờ, vua bị bệnh không có thế lực nên hoảng sợ, bèn sửa tâm tánh, làm các việc lành. Thế là vua nước láng giềng được vô lượng phước đức. Tỳ-kheo giữ gìn giới pháp cũng như vậy, xua đuổi khiển trách những người hủy hoại pháp làm cho họ thực hành pháp thiện thì Tỳ-kheo kia được vô lượng phước đức. Này thiện nam! Ví như nhà cửa, ruộng vườn của ông Trưởng giả mọc lên những cây cối độc hại. Trưởng giả biết được liền sai chặt tận gốc.
Lại như người trai trẻ đầu có tóc bạc, vì hổ thẹn nên nhổ tiệt không cho mọc nữa. Tỳ-kheo giữ gìn giới pháp cũng vậy, thấy có người phá giới, hủy hoại chánh pháp liền quở trách, đuổi đi, cử tội. Có Tỳ-
kheo trì giới thấy người phá hoại chánh pháp nếu bỏ qua không khiển trách, cử tội, đuổi đi, thì nên biết Tỳ-kheo này là giặc trong pháp Phật; nếu khiển trách, cử tội, đuổi đi, thì Tỳ-kheo ấy là đệ tử Thanh văn của Ta.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như lời Ngài giảng nói thì không bình đẳng, xem tất cả chúng sinh đồng như con là La-hầu-la. Bạch Thế Tôn! Nếu có người dùng dao hại Phật, lại có người dùng chiên-đàn xoa thân Phật, đối với hai hạng người này Phật đều sinh tâm bình đẳng như nhau, thì tại sao lại bảo phải trừng trị kẻ phá giới. Nếu trừng trị kẻ phá giới thì ngược lại lời dạy của Thế Tôn sao?
Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ví như quốc vương, đại thần, tể tướng nuôi dưỡng các người con diện mạo khôi ngô, thông minh trí tuệ. Họ đem các người con hoặc hai đứa, ba đứa, bốn đứa đến giao cho vị thầy nghiêm minh dạy dỗ và dặn: “Thầy có thể vì tôi chỉ bày, dạy dỗ các con của tôi để chúng thành tựu các môn: oai nghi, lễ tiết, kỹ nghệ, thư sớ, kế toán, tôi nay có bốn đứa con đều đến thầy thọ học. Giả sử có ba đứa con bị đánh đòn mà chết, còn lại một đứa nhất định phải nghiêm trị để nó nên người, thì tuy mất ba đứa con tôi vẫn không hối hận”. Này Ca-diếp! Như vậy, cha và thầy của những đứa trẻ có phải mang tội giết người không?
–Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao? Vì lòng thương, muốn cho đứa trẻ nên người chứ không có tâm ác. Nếu dạy dỗ như vậy, sẽ được vô lượng phước đức.
–Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, xem người phá hoại giới pháp bình đẳng như đứa con một. Nay Như Lai đem chánh pháp vô thượng phó chúc cho các vua, đại thần, tể tướng, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Các quốc vương và bốn bộ chúng nên khuyên răn khích lệ những người tu học khiến được tăng trưởng giới – định – tuệ. Nếu có người không học ba phẩm pháp này mà lười biếng, phá giới, hủy hoại chánh pháp, thì quốc vương, đại thần, bốn bộ chúng nên trừng trị nghiêm khắc.
Này thiện nam! Như vậy, quốc vương và bốn bộ chúng có phạm
tội chăng?
–Bạch Thế Tôn! Không.
–Này thiện nam! Quốc vương và bốn bộ chúng còn không có tội huống nữa là Như Lai. Này thiện nam! Như Lai tu tập hoàn hảo pháp bình đẳng đối với tất cả chúng sinh xem như con một. Người tu tập như vậy gọi là Bồ-tát tu tâm bình đẳng dối với tất cả chúng sinh xem như con một. Này thiện nam! Bồ-tát tu tập hạnh nghiệp này thì tuổi thọ được tăng trưởng, cũng có thể biết những việc của đời trước.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy, nếu Bồ-tát tu tâm bình đẳng xem các chúng sinh như con một thì tuổi thọ được tăng trưởng. Như Lai không nên nói như vậy. Vì sao? Ví như người biết pháp có thể nói đủ các pháp hiếu thuận, nhưng trái lại, về nhà dùng ngói, đá đánh ném cha mẹ. Cha mẹ là ruộng phước tốt có nhiều lợi ích, khó thấy, khó gặp, đáng được phụng dưỡng chu đáo, thế mà trở lại não hại. Người biết pháp như vậy, lời nói và việc làm trái ngược nhau. Lời nói của Như Lai cũng như vậy, nói Bồ-tát tu tập tâm bình đẳng xem chúng sinh như con một nên được sống lâu, biết rõ kiếp trước, thường trụ ở đời, không có biến đổi. Ngày nay, do duyên gì mà thọ mạng của Như Lai quá ngắn giống như mọi người? Không lẽ Như Lai đối với chúng sinh sinh tưởng oán ghét? Ngày trước Như Lai gây nghiệp ác gì, giết bao nhiêu mạng mà nay thọ mạng ngắn ngủi sống không đầy trăm tuổi?
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Hôm nay, vì lý do gì trước Như Lai ông phát ra lời thô lỗ như vậy? Sự trường thọ của Như Lai đối với các loại trường thọ khác là hơn hết. Như Lai đã chứng pháp thường trụ hơn hết các pháp thường trụ.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Vì sao Đức Như Lai sống lâu?
Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Như tám con sông lớn: Hằng hà, Diêm-ma-la, Tát-la, A-lợi-la-bạt-đề, Ma-ha, Tân-đầu, Bát-xoa, Tất-đà cùng các con sông nhỏ đều chảy về biển lớn. Này Ca-diếp! Cũng vậy, các sông lớn thọ mạng của muôn loài trong trời, đất, hư không đều chảy vào biển
thọ mạng của Như Lai. Vì vậy, Như Lai thọ mạng vô lượng. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như ao A-nậu-đạt chảy ra thành bốn con sông lớn, cũng vậy Như Lai sinh ra tất cả thọ mạng. Này Ca-diếp! Ví như trong tất cả các pháp thường trụ, hư không là bậc nhất, cũng vậy, ở trong các pháp thường trụ, Như Lai là bậc nhất; như trong các vị thuốc, đề hồ là bậc nhất, cũng vậy, trong các chúng sinh, thọ mạng của Như Lai là bậc nhất.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu thọ mạng của Như Lai như thế, thì Thế Tôn nên ở đời một kiếp hoặc ít hơn một kiếp thường giảng pháp vi diệu như tuôn mưa lớn.
Phật bảo:
–Này Ca-diếp! Đối với Như Lai, ông chẳng nên sinh tưởng diệt tận. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cho đến ngoại đạo, thần tiên ngũ thông hạng được tự tại hoặc sống một kiếp, hoặc non một kiếp, ở giữa hư không đi, đứng, nằm, ngồi tự tại, hông trái phun lửa, hông phải tuôn nước, thân xuất ra khói lửa như đám cháy, họ muốn sống lâu, đều được như ý, đối với mạng sống hoặc dài, hoặc ngắn đều được tự tại. Bậc ngũ thông còn được thần lực tùy ý như vậy, huống gì là Như Lai có được lực tự tại đối với các pháp mà không thể ở đời nữa kiếp, một kiếp, trăm kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc vô lượng kiếp sao? Do nghĩa này, nên biết Như Lai là pháp thường trụ không đổi. Thân này của Như Lai là thân biến hóa chẳng phải là thân tạp thực. Vì cứu độ chúng sinh mà thị hiện như cây độc, cho nên phải xả bỏ để vào Niết-bàn. Này Ca-diếp! Ông nên biết, Phật là pháp thường trụ, không biến đổi, đối với Đệ nhất nghĩa đế, các ông phải nên siêng năng nhất tâm tu tập, đã tu tập rồi nên giảng nói cho mọi người.
Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp thưa:
–Bạch Thế Tôn! Pháp xuất thế gian và pháp thế gian có gì sai khác? Như lời Phật dạy, Phật là pháp thường trụ, pháp không biến đổi. Người đời cũng nói Phạm thiên là thường trụ, Tự Tại thiên là thường không biến đổi, ngã thường, tánh thường, vi trần cũng thường. Nếu nói Như Lai là pháp thường sao Như Lai chẳng thường hiện ở đời? Nếu không thường hiện thì có gì sai khác với nghĩa thường của thế gian? Vì
sao? Vì Phạm thiên cho đến thế tánh, vi trần cũng không hiện.
Phật bảo Ca-diếp:
–Ví như Trưởng giả có nhiều bò, tuy màu sắc khác nhau nhưng chung một đàn. Trưởng giả giao bầy bò cho người chăn thả đi ăn cỏ, uống nước, chỉ vì muốn được đề hồ chứ không cần sữa kem. Người chăn bò ấy tự ý vắt sữa uống. Trưởng giả chết, đàn bò bị giặc cướp hết. Giặc cướp được bò rồi nhưng không có phụ nữ liền tự vắt sữa ra uống. Bấy giờ, giặc cướp cùng nhau bàn bạc: Trưởng giả kia nuôi bò chỉ vì đề hồ chứ không cần sữa kem. Chúng ta làm cách gì để được đề hồ? Đề hồ là phẩm vật quý nhất trong đời. Chúng ta không có đồ chứa, dù vắt được sữa cũng không có gì để đựng. Chúng lại bàn với nhau chỉ có túi da có thể dùng để đựng. Dù có túi đựng nhưng không biết cách khuấy cho đông lại nên nước để uống còn khó được huống nữa là đề hồ. Bấy giờ, bọn cướp vì muốn được đề hồ nên đổ thêm nước vào túi sữa, vì quá nhiều nước nên sữa, kem, đề hồ đều mất. Chúng sinh cũng vậy, tuy có pháp thiện nhưng đều là pháp của Như Lai để lại. Vì sao? Vì sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, họ trộm pháp thiện của Như Lai để lại như Giới – định – tuệ như bọn cướp đoạt bầy bò. Hàng phàm phu tuy có được Giới – định – tuệ đó nhưng không có phương pháp nên chẳng thuyết được. Do nghĩa này, nên họ không thể đạt được sự giải thoát của thường giới, thường định, thường tuệ. Như bọn cướp kia không biết phương pháp nên làm tan mất đề hồ. Cũng như bọn cướp vì muốn được đề hồ nên thêm nước vào, phàm phu cũng vậy, vì giải thoát nên nói ngã, chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu, Phạm thiên, Tự Tại thiên, vi trần, thế tánh, giới, định, tuệ, giải thoát, Phi tưởng, phi phi tưởng thiên tức là Niết-bàn, thật ra họ chẳng được giải thoát Niết-bàn, như bọn cướp kia không được đề hồ. Cũng như phàm phu có chút ít phạm hạnh, cúng dường cha mẹ, nhờ duyên này được sinh lên cõi trời hưởng chút an lạc như bọn cướp kia được sữa pha thêm nước. Như hàng phàm phu thật chẳng biết do tu ít phạm hạnh phụng dưỡng cha mẹ được sinh lên cõi trời, lại không biết Giới - định - tuệ, quy y Tam bảo; do không biết nên nói thường, lạc, ngã, tịnh. Tuy nói được, nhưng thật ra họ chẳng biết. Do đó, sau khi xuất hiện ở đời, Như Lai mới thuyết giảng pháp thường, lạc, ngã, tịnh cho chúng sinh. Như vua Chuyển luân xuất hiện ở đời,
nhờ sức phước đức nên giặc cướp tan tác, đàn bò được an toàn. Bấy giờ, vua Chuyển luân liền giao đàn bò cho người chăn bò giỏi. Người ấy biết phương pháp chế ra đề hồ, nhờ đề hồ mà muôn loài được thoát khổ. Lúc pháp Chuyển luân Thánh vương ra đời, các phàm phu nào không thể nói được Giới – định – tuệ liền bị tan tác như giặc cướp kia. Bấy giờ, Như Lai khéo giảng nói pháp thế gian và xuất thế gian, khiến cho các Bồ-tát tùy theo đó mà thuyết pháp cho chúng sinh. Đại Bồ-tát đã được đề hồ lại khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh được pháp vị cam lồ vô thượng. Đó là pháp thường, lạc, ngã, tịnh của Như Lai. Này thiện nam! Do nghĩa này nên Như Lai là pháp thường không biến đổi, chẳng phải như hàng phàm phu ngu muội ở thế gian cho rằng Phạm thiên là pháp thường. Pháp thường này chính là Như Lai, chẳng phải là pháp thường nào khác. Này Ca-diếp! Nên biết thân Như Lai cũng như thế. Này Ca-diếp! Thiện nam, thiện nữ thường nên nhất tâm tu tập hai chữ Phật là “thường trụ” này.
Này Ca-diếp! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào tu tập hai chữ này thì nên biết người đó đi theo con đường mà Ta đã đi, đến chỗ Ta đã đến. Này thiện nam! Nếu người nào tu tập hai chữ ấy là tướng diệt tỳ, nên biết Như Lai sẽ vì người ấy mà nhập Niết-bàn. Này thiện nam! nghĩa Niết-bàn chính là pháp tánh của chư Phật.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Pháp tánh của Phật nghĩa đó thế nào? Nay con muốn biết nghĩa pháp tánh. Cúi xin Như Lai thương xót giảng nói rộng. Pháp tánh tức là xả thân, xả thân gọi là không sở hữu. Nếu thân không sở hữu thì làm sao tồn tại? Nếu thân tồn tại sao nói thân có pháp tánh? Nếu thân có pháp tánh thì sao lại được tồn tại? Nay con làm thế nào để hiểu biết nghĩa ấy?
Đức Phật bảo Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ông không nên nói diệt là pháp tánh như thế. Pháp tánh không có diệt. Ví như trời Vô tưởng thành tựu sắc ấm mà không có tưởng sắc, không nên hỏi các vị trời ấy làm thế nào hưởng thụ vui sướng? Thế nào là nghĩa tưởng? Thế nào là thấy nghe? Này thiện nam! Cảnh giới của Như Lai, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể biết được, chẳng nên nói thân Như Lai là pháp diệt. Pháp diệt như
vậy là cảnh giới của Phật, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể biết được. Này thiện nam! Nay ông không nên suy lường Như Lai ở chỗ nào, đi tới đâu, thấy cái gì, vui thế nào. Những nghĩa ấy các ông chẳng biết được. Pháp thân của chư Phật đủ các loại phương tiện không thể nghĩ bàn.
Lại nữa, này thiện nam! Cần phải tu tập Phật, Pháp, Tăng mà quán tưởng là thường. Ba pháp ấy không có tưởng khác, không tưởng vô thường, không tưởng biến đổi. Nếu người đối với ba pháp ấy tu tập tưởng khác, nên biết đối với Tam quy thanh tịnh, nhóm người này không nơi nương tựa, giới cấm đều không đầy đủ, không bao giờ có thể chứng được quả Thanh văn, Duyên giác và Bồ-đề. Nếu ai có thể đối với pháp chẳng thể nghĩ bàn này mà tu tập tưởng thường thì có chỗ quay về.
Này thiện nam! Ví như có cây mới có bóng cây. Như Lai cũng thế, có pháp thường mới có chỗ quay về, chẳng phải là vô thường. Nếu cho rằng Như Lai là vô thường thì Như Lai chẳng phải là chỗ quay về nương tựa của hàng trời, người.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Ví như trong chỗ tối tăm có cây mà không có bóng cây.
Này Ca-diếp! Ông chẳng nên nói có cây mà không có bóng cây, chỉ vì mắt thường không thể thấy được. Cũng vậy, tánh của Như Lai thường trụ, không biến đổi. Người không có mắt trí tuệ không thể thấy được. Như trong tối không thể thấy bóng cây. Sau khi Như Lai diệt độ, hàng phàm phu cho rằng Như Lai là vô thường cũng lại như thế. Nếu có người nói Phật khác với Pháp và Tăng thì chẳng thể thành tựu ba nơi nương tựa. Như cha mẹ của ông mỗi người đều sai khác nên khiến cho họ vô thường.
Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Bắt đầu từ nay, con sẽ dùng Phật, Pháp, Tăng ba pháp thường trụ để khai ngộ cho cha mẹ hiện tại cho đến bảy đời đều khiến cho họ phụng trì. Thế Tôn thật kỳ diệu!! Nay con học Phật, Pháp, Tăng chẳng thể nghĩ bàn. Tự mình học rồi, lại sẽ nói rõ nghĩa này cho người khác. Nếu có người nào không thể tin nhận thì những
người đó tu pháp vô thường đã lâu. Con sẽ làm sương mù, mưa đá cho hạng người này.
Bấy giờ, Đức Phật khen ngợi Bồ-tát Ca-diếp:
–Lành thay! Lành thay! Nay ông khéo có thể hộ trì chánh pháp. Hộ trì chánh pháp như vậy thì không thể lừa dối người. Do nhân duyên nghiệp thiện không lừa dối mọi người mà được trường thọ, biết rõ được nhiều đời trước.

Phẩm 2: KIM CANG THÂN
Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Này thiện nam! Thân Như Lai là thân thường trụ, thân không thể hoại, thân kim cang, chẳng phải là thân tạp thực, mà là pháp thân.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như lời Ngài dạy, những thân như thế con đều không thấy, chỉ thấy những thân vô thường, tan hoại, vi trần, tạp thực. Vì sao? Vì Như Lai sắp nhập Niết-bàn.
Đức Phật dạy:
–Này Ca-diếp! Ông không nên cho rằng thân của Như Lai không kiên cố, tan hoại như thân phàm phu. Này thiện nam! Ông nên biết, thân Như Lai trong vô lượng ức kiếp bền chắc, không tan hoại, chẳng phải thân của hàng trời người, chẳng phải thân sợ sệt, chẳng phải thân tạp thực. Thân của Như Lai chẳng phải thân mà là thân, không sinh không diệt, không tu không tập, vô lượng vô biên không có dấu vết, vô tri vô hình, thanh tịnh hoàn toàn, không có lay động, không thọ, không đi, không ở, không làm, không mùi vị, không xen tạp, chẳng phải hữu vi, chẳng phải nghiệp, chẳng phải quả, chẳng phải hành, chẳng phải diệt, chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở không thể nghĩ bàn, thường trụ chẳng thể nghĩ bàn, không không thức, rời tâm, cũng chẳng rời tâm. Tâm kia bình đẳng, không có mà cũng có, không đến đi mà cũng đến đi, không phá, không hoại, không đoạn, không tuyệt, không sinh không diệt, không chủ mà cũng là chủ, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải giác, chẳng phải quán, chẳng phải danh tự, chẳng phải
không danh tự, chẳng phải định, chẳng phải không định, không thể thấy mà thấy rõ ràng, không nơi chốn mà cũng là nơi chốn, không nhà mà cũng là nhà, không tối không sáng, không vắng lặng mà cũng vắng lặng, không sở hữu, chẳng nhận lấy, chẳng ban cho, thanh tịnh không cấu uế, không tranh đua, dứt tranh đua, trụ nơi vô trụ, chẳng lấy, chẳng đoạ, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, chẳng phải ruộng phước, chẳng phải không ruộng phước, vô tận, bất tận, xa lìa tất cả tận, không, xa lìa không, tuy không thường trụ mà chẳng phải niệm niệm diệt, không có uế trược, không văn tự, xa lìa văn tự, chẳng phải âm thanh, chẳng phải lời nói, chẳng phải tu tập, chẳng phải cân, chẳng phải lường, chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải hình tượng, chẳng phải tướng mạo mà các tướng trang nghiêm, chẳng phải dũng, chẳng phải sợ, không tịch, chẳng tịch, không nhiệt, chẳng nhiệt, không thể nhìn thấy, không có tướng mạo. Như Lai độ thoát tất cả chúng sinh vì không thấy có sự độ thoát, có thể giải thoát chúng sinh vì không thấy có sự giải thoát, giác ngộ cho chúng sinh vì không thấy có sự giác ngộ, thuyết pháp như thật, vì không có sự phân biệt, chẳng thể lường, không gì sánh bằng, bình đẳng như hư không, không tướng mạo, đồng với tánh vô sinh, không thường, không đoạn, luôn hành một thừa mà chúng sinh thấy ba thừa, không thoái, không chuyển, dứt tất cả kiết sử, không tranh hơn, không xúc chạm, chẳng phải tánh mà trụ nơi tánh, chẳng phải hòa hợp, chẳng phải tan rã, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải tròn, chẳng phải vuông, chẳng phải ấm nhập giới mà cũng là ấm nhập giới, chẳng phải thêm, chẳng phải bớt, chẳng phải hơn, chẳng phải thua. Thân của Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy, không có ai biết mà không ai là không biết, không có ai thấy mà không ai là không thấy, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải thế gian chẳng phải chẳng thế gian, chẳng phải làm chẳng phải chẳng làm, chẳng phải nương tựa chẳng phải chẳng nương tựa, chẳng phải bốn đại chẳng phải không bốn đại, chẳng phải nhân chẳng phải không nhân, chẳng phải chúng sinh chẳng phải không chúng sinh, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn, là sư tử, là đại sư tử, chẳng phải thân, chẳng phải không thân, chẳng thể tuyên thuyết, trừ một pháp tướng, không thể tính đếm được, khi nhập Niết-bàn chẳng nhập
Niết-bàn. Pháp thân của Như Lai đều thành tựu vô lượng công đức vi diệu như vậy.
Này Ca-diếp! Chỉ có Như Lai mới biết tướng ấy, chẳng phải hàng Thanh văn, Duyên giác biết được. Này Ca-diếp! Những công đức như vậy thành tựu thân Như Lai, chẳng phải thân do tạp thực nuôi lớn. Này Ca-diếp! Chân thân của Như Lai có công đức như vậy, làm sao có các bệnh tật khổ hoạn mong manh không bền chắc như đồ gốm được. Này Ca-diếp! Sở dĩ Như Lai thị hiện có bệnh khổ là vì muốn điều phục chúng sinh. Này Ca-diếp! Ông nên biết thân của Như Lai là thân Kim cang. Từ hôm nay ông phải chuyên tâm suy nghĩ nghĩa này, chớ nghĩ là thân tạp thực, cũng nên giảng nói cho mọi người rõ thân Như Lai tức là pháp thân.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như Lai thành tựu công đức như vậy, sao thân của Như Lai lại có bệnh, khổ, vô thường, tan hoại? Từ nay con phải thường suy nghĩ thân của Như Lai là pháp thân thường trụ, thân an lạc, con cũng sẽ nói rộng nghĩa ấy cho người khác.
Bạch Thế Tôn! Pháp thân Kim cang của Như Lai không hoại, mà con chưa rõ nguyên do thế nào?
Đức Phật dạy:
–Này Ca-diếp! Nhờ nhân duyên hay hộ trì chánh pháp nên nay thành tựu được thân Kim cang này. Này Ca-diếp! Do ngày trước Như Lai hộ trì chánh pháp nên nay được thân Kim cang thường trụ không hoại. Này Ca-diếp! Người hộ trì chánh pháp chẳng thọ năm giới, chẳng tu oai nghi, mà phải nắm giữ đao kiếm, cung tên, giáo mác để hộ trì Tỳ-kheo giữ giới thanh tịnh.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu có Tỳ-kheo xa lìa sự hộ trì, một mình ở nơi vắng vẻ, nơi gò mả, nơi gốc cây, nên gọi vị ấy là chân Tỳ-kheo. Nếu có người theo giữ gìn thì nên biết những người này là cư sĩ trọc.
Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Ông chớ nói là cư sĩ trọc. Hoặc có Tỳ-kheo tùy theo chỗ ở được sự cung cấp nuôi thân vừa đủ, đọc tụng kinh điển, tư duy, tọa thiền, có người đến hỏi giáo pháp thì giảng pháp bố thí, trì giới, phước đức, thiểu
dục tri túc cho họ. Tuy có thể nói đủ các pháp như vậy, nhưng không thể nói pháp Đại thừa, không được đồ chúng Đại thừa vây quanh, không thể hàng phục kẻ ác và phi pháp. Tỳ-kheo như thế không thể đem lại lợi ích cho chính mình và cho chúng sinh. Nên biết những hạng người này lười nhác, trễ nải, tuy hay giữ giới, chấp trì hạnh thanh tịnh nhưng nên biết người này không làm được việc gì, hoặc có Tỳ-kheo vật dụng cung cấp nuôi thân luôn được đầy đủ, lại có thể giữ gìn giới cấm đã thọ, thường hay giảng nói rộng giáo pháp Đại thừa, đó là chín bộ loại kinh điển: Tu-đa-la, Kỳ-dạ, Thọ Ký, Già-đà, Ưu-đà-na, Y-đế-mục- đa-già, Đà-xà-già, Tỳ-phật-lược, A-phù-đà-đạt-ma; dùng chín bộ loại kinh điển như vậy để rộng giảng nói cho người khác, tạo lợi ích an lạc cho chúng sinh, mà xướng lên lời nói như vầy: “Trong kinh Niết-bàn, Đức Phật dạy các Tỳ-kheo không nên nuôi dưỡng các vật phi pháp: tôi tớ, dê, bò. Nếu Tỳ-kheo nào nuôi các vật không thanh tịnh như thế phải nên trị phạt họ. Trước đây, trong những bộ kinh khác, Đức Phật dạy, nếu có Tỳ-kheo nào nuôi những vật bất tịnh ấy, thì bất cứ vua của nước nào cũng như pháp mà trị phạt họ, đuổi bắt hoàn tục”. Tỳ-kheo nào khi nói những lời như trên, nếu người phá giới lắng nghe được những lời này, liền sinh giận dữ muốn hại vị pháp sư Tỳ-kheo ấy. Giả sử vị pháp sư Tỳ-kheo có chết đi thì cũng được gọi là người trì giới tạo lợi ích cho mình và cho mọi người. Vì nhân duyên này nên Như Lai cho phép vua chúa, quần thần, tể tướng và hàng Ưu-bà-tắc hộ trì người thuyết pháp. Nếu ai muốn được hộ trì chánh pháp phải nên học như vậy. Này Ca-diếp! Người phá giới không trì chánh pháp gọi là cư sĩ trọc, chứ không phải người trì giới có tên gọi như vậy.
Này Ca-diếp! Về đời quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp, nơi thành Câu-thi-na này có Đức Phật ra đời hiệu là Hoan Hỷ Tăng Ích Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự, Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Bấy giờ, thế giới rộng lớn trang nghiêm hưng thịnh an vui, dân chúng giàu có, không đói khát, như hàng Bồ-tát ở cõi An lạc. Đức Phật ấy ở đời rất lâu, giáo hóa chúng sinh đã viên mãn, sau đó mới nhập Niết-bàn, chánh pháp trụ ở đời vô lượng ức năm. Còn bốn mươi năm nữa khi pháp Phật chưa diệt, bấy giờ có một Tỳ-kheo trì giới hiệu
là Giác Đức, được nhiều đồ chúng quyến thuộc vây quanh, có thể giảng rõ chín bộ loại kinh điển Đại thừa, cấm các Tỳ-kheo không được nuôi các vật phi pháp như nô tỳ, bò dê.
Bấy giờ, có nhiều Tỳ-kheo phá giới nghe nói như vậy liền sinh tâm ác, cầm dao gậy đi đến dọa pháp sư. Khi ấy quốc vương Hữu Đức nghe việc này rồi, vì hộ trì chánh pháp nên liền đến chỗ pháp sư thuyết pháp, cùng với những Tỳ-kheo phá giới đánh một trận ác liệt. Nhờ đó mà pháp sư thoát khỏi nguy hại. Khi ấy, thân nhà vua bị đao kiếm cung tên làm bị thương, toàn thân bị đâm thủng như hạt cải, không chỗ nào lành lặn. Bấy giờ, Tỳ-kheo Giác Đức liền khen nhà vua: “Lành thay! Lành thay! Hôm nay nhà vua thật là người hộ trì chánh pháp. Vào đời vị lai thân này sẽ là pháp khí vô lượng”. Khi vua nghe pháp này rồi tâm rất vui mừng, liền băng hà, sinh về cõi Phật A-súc làm đệ tử thứ nhất của Phật ấy. Các tướng, dân chúng, quyến thuộc theo vua chiến đấu và người tùy hỷ, tất cả đều phát tâm Bồ-đề không thoái chuyển, khi chết đều được sinh về cõi Phật A-súc. Tỳ-kheo Giác Đức, sau khi mạng chung cũng sinh về cõi Phật A-súc làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh văn đó. Nếu lúc chánh pháp sắp diệt, phải nên thọ trì ủng hộ như vậy. Này Ca-diếp! Nhà vua lúc ấy là tiền thân của Ta. Tỳ-kheo thuyết pháp là Phật Ca-diếp. Này Ca-diếp! Người hộ trì chánh pháp được vô lượng kết quả như vậy. Do nhân duyên này, nên hôm nay Ta được nhiều tướng tốt để tự trang nghiêm, thành tựu pháp thân, thân không thể hoại.
Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thân chân thường của Như Lai giống như khắc chạm vào đá.
Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Này thiện nam! Do nhân duyên như vậy nên Tỳ-kheo, Tỳ-kheo- ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di phải siêng năng hộ trì chánh pháp, quả báo của việc hộ trì chánh pháp rộng lớn vô lượng. Này thiện nam! Vì thế những Ưu-bà-tắc… hộ trì chánh pháp nên cầm dao gậy để ủng hộ vị Tỳ-kheo trì pháp như vậy. Nếu có người thọ trì năm giới thì không được gọi là người Đại thừa. Người không thọ trì năm giới mà hộ trì chánh pháp mới gọi là Đại thừa. Người hộ trì chánh pháp cần phải nắm giữ đao, kiếm,
binh khí để tự bảo vệ người thuyết pháp.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo làm bạn với những Ưu-bà-tắc nắm giữ dao, gậy như vậy có phải là thầy hay không phải là thầy, là trì giới hay phá giới?
Phật dạy Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ông chớ cho rằng những vị ấy phá giới. Sau khi Ta nhập Niết-bàn, vào đời xấu ác cõi nước rối ren, dân chúng đói khát cướp bóc lẫn nhau. Bấy giờ, có nhiều người vì đói khổ mà phát tâm xuất gia, những kẻ như vậy gọi là người đầu trọc. Hạng người này thấy Tỳ-kheo thanh tịnh giữ giới, oai nghi đầy đủ, hộ trì chánh pháp liền xua đuổi, hoặc giết, hoặc hại.
Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì người trì giới, hộ trì chánh pháp làm sao vào được thôn xóm phố phường để giáo hóa?
Này thiện nam! Vì vậy, Ta cho phép người trì giới làm bạn với những cư sĩ nắm giữ dao gậy. Nếu có quốc vương, đại thần, Trưởng giả, Ưu-bà-tắc vì giữ gìn chánh pháp mà cầm giữ dao gậy Ta cũng gọi là người trì giới. Tuy cầm dao gậy nhưng không giết chết người, nếu được như vậy thì gọi là người trì giới bậc nhất. Này Ca-diếp! Người hộ trì chánh pháp nghĩa là đầy đủ chánh kiến, có thể rộng giảng nói kinh điển Đại thừa hoàn toàn không cầm nắm lọng báu của vua; bình dầu, gạo thóc, các thứ hoa quả không vì lợi dưỡng đó mà gần gũi vua quan, đại thần, trưởng giả. Đối với tín thí tâm không dua nịnh quanh co, phải đầy đủ oai nghi, bài trừ bọn người ác phá giới, đó gọi là bậc thầy trì giới hộ pháp, là chân thiện tri thức của chúng sinh. Tâm của vị này rộng lớn như biển cả. Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo vì lợi dưỡng mà nói pháp cho người thì đồø chúng thân cận của người ấy cũng bắt chước thầy mà tham cầu lợi dưỡng như thế. Đó là người tự phá hoại Tăng chúng. Này Ca-diếp! Tăng chúng có ba hạng: một là Tăng tạp phạm giới, hai là Tăng ngu si, ba là Tăng thanh tịnh. Tăng tạp phá giới thì dễ hoại, Tăng trì giới thanh tịnh thì nhân duyên lợi dưỡng không thể phá hoại. Sao gọi là Tăng tạp phá giới? Nếu có Tỳ-kheo tuy giữ gìn giới cấm nhưng vì lợi dưỡng nên cùng với người phá giới cùng ngồi, đứng,
đi lại, cùng gần gũi, cùng làm việc thì đây gọi là Tăng phá giới, cũng gọi là Tăng tạp. Sao gọi là Tăng ngu si? Nếu có Tỳ-kheo ở nơi vắng vẻ, các căn chẳng lanh lợi, tăm tối đần độn, ít muốn đi khất thực, đến ngày thuyết giới và khi tự-tứ, chỉ bảo các đệ tử thanh tịnh sám hối, nhưng thấy những người không phải đệ tử của mình phạm nhiều giới cấm lại không bảo họ thanh tịnh sám hối mà lại cho họ cùng chung thuyết giới tự-tứ thì đây gọi là Tăng ngu si. Sao gọi là Tăng thanh tịnh? Có Tỳ-kheo Tăng không bị trăm ngàn ức ma quân ngăn cản phá hoại. Chúng Bồ-tát này tánh vốn thanh tịnh, có thể điều phục chúng của hai bộ trên, làm cho an trụ trong chúng thanh tịnh. Đó gọi là vị đại sư hộ trì chánh pháp vô thượng. Người khéo giữ gìn giới luật vì muốn điều phục, tạo lợi ích cho chúng sinh, nên biết các giới tướng hoặc nhẹ, hoặc chẳng phải luật thì không chứng biết, nếu là luật thì chứng biết. Thế nào là điều phục chúng sinh? Nếu các Bồ-tát vì giáo hóa chúng sinh, nên thường vào thôn xóm mà không chọn thời tiết, hoặc đến nhà quả phụ, nhà dâm nữ cùng ở chung, trải qua nhiều năm, nếu là Thanh văn thì không nên làm như vậy, đó gọi là điều phục tạo lợi ích cho chúng sinh. Thế nào là biết giới trọng? Nếu thấy Như Lai nhân sự việc mà chế giới “Từ nay ông nên cẩn thận chớ sai phạm”, như bốn giới trọng là giới mà người xuất gia không nên phạm mà cố ý phạm, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải là con dòng họ Thích, thì đó gọi là giới trọng. Thế nào là giới khinh? Nếu người phạm tội nhẹ, ba lần can gián mà có thể bỏ thì gọi là giới khinh. Chẳng phải luật không chứng biết là, nếu có người khen ngợi nói vật không thanh tịnh nên thọ dụng, thì không cùng họ ở chung.
Đúng luật nên chứng biết là, người khéo học giới luật không gần với người phá giới, thấy có người thực hành đúng với giới luật thì sinh tâm vui mừng, có thể biết đúng như thật việc làm pháp Phật và có khả năng khéo léo giảng nói, gọi là Thầy dạy luật. Người khéo hiểu một chữ, khéo trì khế kinh, cũng lại như vậy. Này thiện nam! Như vậy là pháp Phật vô lượng chẳng thể nghĩ bàn. Như Lai cũng vậy chẳng thể nghĩ bàn.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đúng thế, đúng thế! Thật đúng như lời Thế Tôn
dạy, pháp Phật vô lượng chẳng thể nghĩ bàn, Như Lai cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế nên biết, Như Lai thường trụ, không hoại, không biến đổi. Ngày nay, con đã học kỹ và cũng giảng nói rộng nghĩa này cho mọi người.
Bấy giờ, Phật khen ngợi Bồ-tát Ca-diếp:
–Lành thay! Lành thay! Thân của Như Lai tức là thân Kim cang không thể hoại. Bồ-tát nên học kỹ, thấy đúng biết đúng như vậy. Nếu có thể thấy biết rõ ràng như vậy tức là thấy được thân Kim cang của Phật, thân chẳng thể hoại như thấy các hình ảnh trong gương.

Phẩm 3: DANH TỰ CÔNG ĐỨC
Bấy giờ, Như Lai lại bảo Bồ-tát Ca-diếp:
–Này thiện nam! Ông nên thọ trì công đức danh tự, chương cú của kinh này. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe tên kinh này mà sinh vào bốn đường ác thì đó là điều không có. Vì sao? Vì kinh này là chỗ tu tập, là công đức đạt được của vô lượng vô biên chư Phật, nay Như Lai sẽ giảng nói.
Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Kinh này đặt tên là gì? Đại Bồ-tát phụng trì thế nào?
Phật bảo Ca-diếp:
–Kinh này tên là “Đại Bồ Tát Niết Bàn”, tất cả lời nói đầu cũng thiện, lời nói giữa cũng tiện, lời nói sau cũng thiện, ý nghĩa sâu xa, lời văn hoàn hảo, thuần nhất, đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, tạng báu kim cang phong phú không thiếu. Nay ông nên khéo lắng nghe, Ta sẽ giảng nói cho.
Này thiện nam! Nói Đại, đó là thường trụ, như tám con sông lớn đều chảy vào biển cả, kinh này cũng vậy, hàng phục tất cả phiền não kiết sử và các tánh của ma. Sau đó cần phải ở nơi Đại Bát Niết Bàn xả bỏ thân mạng, cho nên gọi là Đại Bát Niết Bàn.
Này thiện nam! Lại như thầy thuốc có một phương thuốc bí truyền, gồm thâu tất cả các phương thuốc khác. Này thiện nam! Như
Lai cũng vậy, đã nói đủ các loại pháp môn vi diệu bí mật thâm sâu, đều nhập vào Đại Bát Niết Bàn, cho nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Ví như người nông dân, cuối mùa xuân gieo trồng thường trông mong cho đến khi đã thu hoạch quả hạt thì không còn trông mong nữa. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh cũng lại như thế, tu học các kinh khác thường hy vọng thấm nhuần hương vị nhưng nếu được nghe kinh Đại Bát Niết Bàn này thì mọi hy vọng thấm nhuần hương vị của các kinh khác đều chấm dứt. Kinh Đại Bát Niết Bàn này có thể khiến chúng sinh vượt qua các dòng hữu. Này thiện nam! Cũng như trong các dấu chân, dấu chân voi là hơn hết. Cũng vậy, kinh này là bậc nhất trong tất cả các kinh Tam-muội. Này thiện nam! Ví như cày ruộng vào mùa thu là tốt nhất. Cũng vậy, trong các kinh, kinh này là hơn hết. Này thiện nam! Trong các loại thuốc, đề hồ là thứ tốt nhất, trị lành các bệnh phiền não, loạn tâm của chúng sinh, kinh Đại Bát Niết Bàn này là bậc nhất. Này thiện nam! Ví như váng sữa đầy đủ tám vị. Kinh Đại Bát Niết Bàn này cũng đủ tám vị. Những gì là tám? Một là thường, hai là hằng, ba là an, bốn là mát mẻ, năm là chẳng già, sáu là chẳng chết, bảy là không dơ, tám là an lạc. Đầy đủ tám vị ấy nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Nếu các vị Bồ-tát an trú ở trong ấy, mà có thể thị hiện Niết- bàn khắp nơi thì gọi là Đại Bát Niết Bàn. Này Ca-diếp! Nếu thiện nam, thiện nữ nào muốn ở nơi Đại Bát Niết Bàn này mà Niết-bàn thì phải tu học như vầy: Như Lai thường trụ, Pháp và Tăng cũng vậy.
Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Kỳ lạ thay! Công đức của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, Pháp, Tăng cũng vậy, chẳng thể nghĩ bàn. Nếu người nào tu học kinh điển này thì được pháp môn chân chánh, có thể làm lương y. Nếu người nào chưa học thì nên biết, người này đui mù không có mắt trí tuệ, bị vô minh che lấp.
/41
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »