Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 34 - Bộ Pháp Hoa I - Số 262-264

Đại Tập 34 - Bộ Pháp Hoa I - Số 262-264

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 989.

Chương 6: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quyển 5 - Phẩm 14: An Lạc Hạnh (Trang 178 - 220)

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

QUYỂN 5


Phẩm 14: AN LẠC HẠNH

Bấy giờ Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử Bồ-tát Ma-ha-tát bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn! Các vị Bồ-tát này thật là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn ở trong đời ác về sau sẽ hộ trì đọc giảng kinh Pháp Hoa này.
Bạch Thế Tôn! Các vị Bồ-tát ở đời ác về sau, làm thế nào có thể giảng thuyết được kinh này?
Phật bảo Văn-thù-sư-lợi:
–Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát ở đời ác về sau muốn giảng kinh này phải an trụ trong bốn pháp: Đó là an trụ trong Hành xứ và trong Thân cận xứ của Bồ-tát thì mới có thể vì chúng sinh mà diễn thuyết kinh này.
Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là Hành xứ của Bồ-tát Ma-ha-tát? Nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu, khéo tùy thuận mà không nóng nảy cũng không kinh sợ. Lại nữa, đối với các pháp, không khởi ý niệm tạo tác mà quán sát tướng chân thật của các pháp, cũng không khởi ý niệm là không phân biệt. Như thế gọi là Hành xứ của Bồ-tát.
Thế nào gọi là Chỗ thân cận của Bồ-tát Ma-ha-tát? Nghĩa là Bồ-tát Ma-ha-tát không gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, không gần gũi các ngoại đạo, Phạm chí, Ni-kiền tử… và cũng không gần gũi những kẻ sáng tác văn thơ viết sách ngoại đạo cho đến các phái Lộ-già-gia-đà, phái Nghịch lộ-già-gia-đà, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi bời hung hiểm đâm chém đánh đấm và bọn Na-la bày trò biến hóa.

Cũng không gần gũi người làm hàng thịt, kẻ chăn nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn, chài lưới, những người sinh sống bằng các nghề ác. Nếu khi những hạng người ấy đến thì Bồ-tát nên vì họ nói pháp mà không mong cầu gì khác.
Cũng không gần gũi những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di hạng người cầu quả Thanh văn cũng không chuyện trò hỏi han, không ở cùng phòng, không đi kinh hành cùng một nơi, không ngồi chung chỗ trong một giảng đường. Nếu khi những hạng người ấy đến thì Bồ-tát tùy cơ nghi nói pháp mà không mong cầu gì khác.
Văn-thù-sư-lợi! Lại nữa Bồ-tát Ma-ha-tát không nên nói pháp cũng không muốn trông thấy những người mà thân thể khêu gợi dục nhiễm. Khi vào nhà người, không cùng nhau chuyện trò với với các bé gái, thiếu nữ, góa phụ cũng không gần gũi năm hạng người ái nam để làm thân.
Không vào nhà người một mình. Nếu có sự duyên phải vào một mình thì chuyên tâm niệm Phật.
Nếu vì nói pháp cho người nữ thì không cười hở răng, không để lộ hông hở ngực. Cả đến vì pháp mà còn chẳng làm thân quen huống chi là việc khác.
Không nên ham nuôi đệ tử Sa-di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng không muốn cùng một thầy với chúng. Thường hay ngồi thiền nơi vắng vẻ yên tĩnh tu nhiếp tâm mình.
Văn-thù-sư-lợi! Như trên là chỗ thân cận ban đầu.
Lại nữa, Bồ-tát Ma-ha-tát quán sát tất cả các pháp là không, là tướng chân thật, không điên đảo, không lay động, không thoái lui, không thay đổi, như hư không, không thật tánh, tuyệt dứt đường ngôn ngữ, không sinh, không xuất, không khởi, không tên gọi, không tướng mạo, không sở hữu, không lường được, không biên giới, không trở ngại, không ngăn che, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sinh ra. Cho nên nói rằng thường hay quán sát tướng của các pháp là như thế đó, tức là chỗ thân cận thứ hai của Bồ-tát Ma-ha-tát.
Bấy giờ, Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa này mà nói bài kệ:
Nếu có Bồ-tát
Trong đời ác sau
Lòng không sợ sệt
Muốn nói kinh này,
Nên trụ Hành xứ
Và Thân cận xứ
Thường xa quốc vương
Và con quốc vương,
Đại thần, quan trưởng,
Dân chơi hung hãn,
Cùng Chiên-đà-la,
Ngoại đạo, Phạm chí.
Cũng không gần gũi
Người tăng thượng mạn,
Học giả tham đắm
Giáo lý Tiểu thừa,
Tỳ-kheo phá giới,
Danh tự La-hán,
Và Tỳ-kheo-ni
Ưa thích vui đùa,
Các Ưu-bà-di
Tham mê năm dục
Cầu hiện diệt độ
Đều chớ gần gũi.
Nếu những người đó
Hảo tâm mà đến,
Ở nơi Bồ-tát
Để nghe Phật đạo,
Bồ-tát nên đem
Lòng không sợ sệt,
Vì chúng nói pháp,
Không mong gì khác.
Đồng nữ, thiếu nữ,
Những kẻ ái nam,
Chớ nên gần gũi
Để mà làm thân.
Cũng không gần kẻ
Đồ tể, hàng thịt,
Săn bắn, chài lưới,
Vì lợi sát sinh,
Bán thịt nuôi sống
Buôn phấn bán hương
Những người như thế
Chớ nên gần gũi.
Các trò nguy hiểm
Đánh đấm làm vui,
Hạng gái lẳng lơ,
Chớ nên gần gũi.
Đừng ở chỗ vắng
Giảng dạy đàn bà,
Nếu vì nói pháp
Không nên cười cợt.
Vào xóm khất thực
Tỳ-kheo đi cùng,
Nếu không Tỳ-kheo,
Nhất tâm niệm Phật.
Như thế gọi là
Hành xứ, Cận xứ
Dùng hai xứ đây
Mới nên thuyết pháp.
Lại cũng chẳng theo
Pháp thượng, trung, hạ,
Hữu vi, vô vi
Thật cùng chẳng thật,
Cũng không phân biệt
Là nam hay nữ,
Các pháp: không được,
Không biết, không thấy.
Như thế gọi là
Bồ-tát Hành xứ
Tất cả các pháp
Là không, không có,
Là không thường trú,
Cũng không khởi, diệt.
Đó là Thân cận
Người trí hằng nương.
Điên đảo phân biệt
Các pháp có, không,
Là thật, chẳng thật,
Là sinh, chẳng sinh,
Ở nơi vắng vẻ
Tu nhiếp tâm mình,
An trụ không động
Như núi Tu-di,
Quán sát các pháp
Đều không thật có,
Cũng như hư không
Không chút bền chắc.
Không sinh, không xuất,
Không động, không thoái,
Thường trụ một tướng
Gọi là Cận xứ
Nếu có Tỳ-kheo
Ta diệt độ rồi,
Vào Hành xứ này
Và Thân cận xứ
Thì nói kinh này
Không chút e sợ.
Bồ-tát có lúc
Vào nơi tịnh thất,
Chân chánh nhớ nghĩ
Theo nghĩa quán pháp.
Từ thiền định ra
Vì các quốc vương,
Vương tử, quan, dân
Hàng Bà-la-môn
Khai hóa diễn giải
Nói kinh điển này
Tâm được an ổn
Không chút khiếp nhược.
Văn-thù-sư-lợi!
Đó là Bồ-tát
An trụ sơ pháp
Đời sau có thể
Nói kinh Pháp Hoa.
Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Sau khi Như Lai diệt độ, trong đời mạt pháp muốn nói kinh này phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng giảng nói, hoặc lúc đọc kinh đều không nên nói lỗi người và lỗi kinh điển. Không khinh mạn các Pháp sư khác, không nói việc hay dở tốt xấu của người khác. Với hàng Thanh văn cũng không kêu tên nói lỗi người nào, cũng không kêu tên khen ngợi điều tốt của ai.
Lại nữa cũng chẳng sinh lòng oán hận hiềm khích, vì khéo tu tâm an lạc như thế nên những người nghe pháp không làm trái ý. Nếu bị vặn hỏi, chớ nên đem pháp Tiểu thừa mà đáp. Chỉ dùng pháp Đại thừa ra giảng giải mà thôi để khiến cho được Nhất thiết chủng trí.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa trên nói bài kệ rằng:
Bồ-tát thường ưa
Thuyết pháp an ổn.
Ở nơi thanh tịnh
Tổ chức sàng tòa.
Hương dầu xoa thân
Tắm gội bụi nhơ,
Y mới sạch sẽ
Trong ngoài thơm tho,
Ngồi yên pháp tòa
Tùy hỏi mà nói.
Nếu có Tỳ-kheo
Và Tỳ-kheo-ni,
Các Ưu-bà-tắc
Và Ưu-bà-di,
Quốc vương, vương tử,
Quan cùng sĩ dân,
Dùng nghĩa nhiệm mầu
Dịu dàng giảng nói.
Có ai gạn hỏi
Tùy nghĩa mà đáp.
Nhân duyên, thí dụ,
Giải bày phân biệt.
Dùng phương tiện này,
Khiến đều phát tâm,
Dần dần thêm đông
Vào trong Phật đạo.
Bỏ tánh lười biếng
Cùng với trễ nãi.
Lìa các ưu sầu
Từ tâm thuyết pháp.
Ngày đêm thường giảng
Giáo pháp Vô thượng.
Dùng các nhân duyên,
Vô lượng thí dụ,
Khai thị chúng sinh
Đều sinh hoan hỷ.
Y phục chăn nệm
Ăn uống thuốc thang,
Trong việc làm đó
Không cầu gì hết.
Chỉ một lòng nghĩ
Nhân duyên nói pháp
Nguyện ta thành Phật
Mọi người cũng vậy.
Đó là lợi lớn,
An vui cúng dường.
Ta diệt độ rồi,
Nếu có Tỳ-kheo
Diễn thuyết được vậy
Kinh Pháp Hoa này,
Lòng không ganh tị
Cho đến mắng nhiếc.
Cũng không sợ sệt
Dao gậy đánh đập.
Cũng không bị đuổi
Vì an trụ nhẫn.
Người trí tu tập
Tâm mình như thế
Thì trụ an lạc.
Như ta đã nói,
Công đức người đó
Ngàn vạn ức kiếp
Tính toán thí dụ
Không thể nói hết. Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát ở đời sau cùng, khi pháp gần diệt mà có người thọ trì đọc tụng kinh điển này chớ nên ôm lòng ganh ghét dối trá, cũng chớ khinh mắng người học đạo Phật, vạch tìm chỗ hay dở của họ. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Duyên giác hoặc cầu Bồ-tát đạo thì không được quấy rối mà nói với họ rằng: “Các người còn cách đạo rất xa, rốt cuộc không thể đạt được Nhất thiết chủng trí đâu”, để khiến cho họ sinh lòng nghi hoặc.
Vì sao vậy? Vì nói như vậy tức các người là kẻ phóng dật, biếng trễ đối với đạo pháp. Lại nữa đối với các pháp có chỗ cạnh tranh thì không nên tranh luận cho vui. Đối với tất cả chúng sinh phải sinh lòng đại Bi. Đối với chư Như Lai phải có ý nghĩ như bậc cha lành. Đối với các Bồ-tát phải xem như bậc Đại sư. Đối với các Đại Bồ-tát trong mười phương phải thâm tâm cung kính lễ bái. Đối với tất cả chúng sinh thì bình đẳng thuyết pháp. Vì đúng thuận theo pháp mà nói nên không nói nhiều, cũng chẳng nói ít, cho đến đối với người quá ái mộ Phật pháp đi nữa cũng chẳng vì vậy mà nói nhiều.
Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát ở đời sau cùng khi pháp gần diệt, nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây thì lúc nói pháp này không ai có thể quấy rối, được các bạn tốt đồng học cùng chung đọc tụng kinh này, lại được đại chúng thường đến nghe và thọ pháp. Nghe rồi nhớ, nhớ rồi tụng, tụng rồi diễn thuyết, diễn thuyết rồi biên chép, hoặc khiến người chép, cúng dường kinh quyển, cung kính, tôn trọng ngợi khen.
Bấy giờ, Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói bài kệ:
Nếu muốn giảng kinh này
Phải bỏ ganh và kiêu,
Lừa dối và tà vạy
Thường tu hạnh ngay thẳng.
Không khinh miệt người khác
Cũng không ưa hý luận
Không khiến người nghi hoặc
Bảo rằng không thành Phật.
Là Phật tử thuyết pháp
Thường nhu hòa nhẫn nhục,
Từ bi với tất cả
Không sinh lòng biếng trễ.
Đại Bồ-tát mười phương
Thương chúng nên hành đạo.
Phải sinh lòng cung kính
Như Đại sư của mình.
Với chư Phật Thế Tôn
Xem như cha cao tột.
Phá dẹp lòng kiêu mạn
Nói pháp không chướng ngại.
Pháp thứ ba như thế
Người trí phải giữ gìn,
Một lòng hạnh an lạc
Vô lượng chúng cung kính.
Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Các Bồ-tát Ma-ha-tát ở đời sau cùng khi pháp gần diệt, vị nào trì kinh Pháp Hoa thì đối với hàng tại gia, xuất gia phải sinh lòng đại Từ, đối với hàng không phải Bồ-tát phải sinh lòng đại Bi mà nghĩ rằng: “Những người này như vậy là mất lợi ích lớn. Như Lai phương tiện tùy nghi nói pháp mà không nghe, không biết, không hay, không hiểu, không tin, không hỏi. Những người đó dầu không hỏi, không tin, không hiểu kinh này, nhưng lúc ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì người đó dù ở đâu ta cũng sẽ dùng sức thần thông, sức trí tuệ dắt dẫn người đó khiến được vào trong pháp này.”
Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát Ma-ha-tát đó, sau khi Như Lai diệt độ nếu thành tựu được pháp thứ tư này thì lúc nói pháp này sẽ không lầm lỗi, thường được các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Bà-la-môn, cư sĩ đều cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen và hàng chư Thiên trên không vì nghe pháp cũng thường theo hầu. Nếu ở trong làng xóm, thành thị hay rừng cây vắng vẻ có người đến vấn nạn điều chi thì chư Thiên ngày đêm thường vì pháp mà hộ vệ người đó khiến người nghe đều được hoan hỷ.
Vì sao vậy? Vì kinh này được thần lực của tất cả chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại hộ trì. Văn-thù-sư-lợi, kinh Pháp Hoa này ở trong vô lượng cõi nước, ngay cả tên gọi còn chưa được nghe huống chi là được trông thấy và đọc tụng thọ trì.
Văn-thù-sư-lợi! Ví như vua Chuyển luân Thánh vương uy thế mạnh mẽ, muốn dùng uy lực của mình hàng phục các nước khác,

nhưng các tiểu vương không thuận mệnh. Bấy giờ, Chuyển luân thánh vương đem các binh chủng qua đánh dẹp. Vua thấy binh sĩ chiến đấu có công liền rất vui mừng tùy công ban thưởng. Nào ban cho ruộng dất, nhà cửa, xóm làng, thành ấp, nào ban cho trang phục, nào các thứ châu báu, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, nhân dân. Chỉ có viên ngọc minh châu trong búi tóc là không cho mà thôi.
Vì sao vậy? Vì chỉ riêng trên đỉnh đầu nhà vua có một viên minh châu này. Nếu đem ban cho ắt các quyến thuộc của nhà vua sẽ rất lấy làm quái lạ.
Văn-thù-sư-lợi! Như Lai cũng vậy. Như Lai dùng sức thiền định trí tuệ được cõi đạo pháp đem giáo hóa khắp ba cõi mà Ma vương chẳng chịu thuận phục. Các Hiền thánh của Như Lai là các tướng, cùng nhau đánh dẹp ma quân. Thấy những người có công, Như Lai tâm cũng hoan hỷ vì bốn chúng giảng nói các kinh khiến tâm sinh ham thích, lại ban cho các pháp thiền định, giải thoát, vô lậu, căn lực. Lại còn ban cho thành Niết-bàn bảo rằng được diệt độ để dắt dẫn bốn chúng làm cho tâm sinh vui mừng, nhưng chưa vì vậy mà nói kinh Pháp Hoa này.
Văn-thù-sư-lợi! Cũng như vua Chuyển luân vương thấy các binh chúng có công lớn, lòng rất hoan hỷ mới đem viên ngọc minh châu khó tin, từ lâu ở trong búi tóc không cho ai cả mà nay ban cho.
Như Lai cũng vậy. Như Lai là vị Đại Pháp Vương trong ba cõi, đem pháp nhiệm mầu giáo hóa tất cả chúng sinh. Thấy quân tướng Hiền thánh đánh nhau với ma ngũ ấm, ma phiền não, ma chết chóc, có công lao lớn tiêu diệt ba độc, vượt ra khỏi ba cõi, phá dứt lưới ma. Lúc ấy Như Lai cũng rất hoan hỷ đem kinh Pháp Hoa này, có thể khiến chúng sinh đến Nhất thiết trí, là giáo pháp mà tất cả thế gian oán ghét nhiều, khó tin, từ trước chưa từng nói nay mới giảng nói.
Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp Hoa này là giáo thuyết bậc nhất của Như Lai, là rất sâu xa trong các giáo thuyết, sau cùng mới ban cho. Như nhà vua có sức mạnh kia, từ lâu gìn giữ viên ngọc minh châu

nay mới đem ra ban cho vậy.
Văn-thù-sư-lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng giáo bí yếu của chư Phật, là trên hết trong các kinh được gìn giữ từ lâu không dễ dãi nói ra, ngày nay mới phô diễn cho các ngươi đó.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa này mà nói bài kệ:
Thường tu nhẫn nhục
Thương xót tất cả
Mới có thể nói
Kinh được Phật khen.
Đời mạt thế sau
Người trì kinh này
Tại gia, xuất gia,
Chẳng phải Bồ-tát,
Nên sinh Từ bi
Với người không nghe,
Không tin kinh này
Là mất lợi lớn.
Ta chứng Phật đạo
Dùng các phương tiện,
Để nói pháp này
Khiến vào pháp đó.
Như vua Chuyển luân
Thánh vương sức mạnh.
Binh tướng có công,
Thưởng ban các thứ,
Voi, ngựa, cộ xe
Các thứ trang sức,
Ruộng đất, nhà cửa
Thành ấp, xóm làng,
Hoặc cho y phục,
Các thứ châu báu,
Của cải, nô tỳ,
Hoan hỷ ban cho.
Có người khỏe mạnh
Làm được việc khó,
Vua mở búi tóc
Lấy ngọc ban cho.
Như Lai cũng vậy
Là vua các pháp,
Sức nhẫn nhục lớn
Tạng báu trí tuệ,
Dùng đại Từ bi
Như pháp độ đời.
Tất cả mọi người
Chịu các khổ não,
Muốn cầu giải thoát,
Đánh phá ma quân.
Phật vì chúng sinh
Nói các kinh pháp.
Dùng phương tiện lớn
Nói các kinh này.
Khi biết chúng sinh
Được sức kia rồi,
Cuối cùng thì mới
Nói kinh Pháp Hoa.
Như vua mở tóc
Lấy ngọc ban cho.
Kinh này cao tột
Trên hết các kinh,
Ta thường gìn giữ
Chưa dễ dạy bày.
Nay chính là lúc
Vì các ngươi nói.
Ta diệt độ rồi,
Người cầu Phật đạo,
Muốn được an ổn
Diễn thuyết kinh này,
Phải thường gần gũi
Bốn pháp nói trên.
Người đọc kinh này
Thường không ưu não.
Lại không bệnh tật,
Sắc mặt sáng tươi.
Không sinh nhà nghèo,
Xấu xa ti tiện.
Chúng sinh ưa thấy
Như yêu Thánh hiền.
Đồng tử cõi trời
Làm kể hầu hạ.
Gậy đao chẳng động,
Độc hại chẳng nhằm,
Ai muốn mắng nhiếc,
Miệng mở không ra.
Du hành không sợ,
Như vua Sư tử.
Trí tuệ sáng suốt
Như ánh mặt trời.
Nếu gặp chiêm bao
Chỉ thấy điều tốt.
Thấy chư Như Lai
Ngồi tòa Sư tử,
Các chúng Tỳ-kheo
Vây quanh nghe pháp.
Lại thấy Long thần
Cùng A-tu-la,
Số như hằng sa
Chắp tay cung kính.
Tự thấy bản thân
Vì chúng thuyết pháp.
Lại thấy chư Phật
Thân tướng sắc vàng,
Phóng vô lượng quang
Khắp soi tất cả.
Dùng tiếng Phạm âm
Diễn thuyết các pháp.
Phật vì bốn chúng
Nói pháp Vô thượng.
Thấy mình trong đó
Chắp tay khen Phật.
Nghe pháp vui mừng
Mà vì cúng dường,
Được Đà-la-ni
Chứng trí không thoái.
Phật biết người đó
Thâm nhập Phật đạo,
Liền thọ ký cho
Vô thượng Chánh giác.
Thiện nam tử này!
Vào đời vị lai,
Chứng vô lượng trí
Đạo lớn của Phật,
Cõi nước nghiêm tịnh
Rộng lớn khôn sánh.
Cũng có bốn chúng
Chắp tay nghe pháp.
Lại thấy thân mình
Ở trong rừng vắng
Tu tập pháp lành
Chứng pháp thật tướng.
Thâm nhập thiền định
Thấy Phật mười phương.
Chư Phật thân sắc vàng
Trăm phước tướng trang nghiêm.
Nghe pháp vì người nói
Thường được gặp mộng lành.
Lại mộng làm quốc vương
Bỏ cung điện quyến thuộc,
Và thú vui năm dục
Đi đến nơi đạo tràng,
Ở dưới cội Bồ-đề
Ngồi trên tòa Sư tử.
Cầu đạo qua bảy ngày
Được trí của chư Phật.
Thành đạo Vô thượng rồi,
Dậy mà chuyển pháp luân.
Vì bốn chúng nói pháp
Trải ngàn vạn ức kiếp,
Nói pháp mầu vô lậu
Độ vô lượng chúng sinh,
Rồi sau nhập Niết-bàn,
Như khói tàn đèn tắt.
Nếu sau trong đời ác,
Nói pháp bậc nhất này,
Người đó được lợi lớn
Các công đức như trên.

Phẩm 15: TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT

 
Bấy giờ các Bồ-tát Ma-ha-tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng từ trong đại chúng đứng dậy chắp tay làm lễ mà bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn! Nếu cho phép chúng con sau khi Phật diệt độ ở tại cõi Ta-bà này siêng tu tinh tấn, hộ trì đọc tụng, sao chép, cúng dường kinh điển này thì chúng con sẽ ở trong cõi này mà diễn thuyết rộng rãi.
Khi đó Phật bảo các Bồ-tát Ma-ha-tát:
–Thiện nam, hãy thôi, các ông không phải hộ trì kinh này! Vì sao vậy? Vì cõi Ta-bà của ta đã có chúng Bồ-tát Ma-ha-tát số đông bằng số cát của sáu vạn sông Hằng. Mỗi Bồ-tát có sáu vạn hằng hà sa quyến thuộc. Những người đó sau khi ta diệt độ có thể hộ trì đọc tụng diễn thuyết rộng rãi kinh này.
Khi Phật nói lời đó thì tam thiên đại thiên cõi nước trong thế giới Ta-bà đất đều rạn nứt, trong đó có vô lượng ngàn vạn ức Bồ-tát Ma-ha-tát đồng thời vụt xuất hiện ra. Các Bồ-tát đó thân đều sắc vàng, có ba mươi hai tướng cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở dưới thế giới Ta-bà. Cõi đó trụ giữa hư không. Các Bồ-tát đó nghe tiếng diễn thuyết của Phật Thích-ca Mâu-ni nên từ dưới đến đây. Các Bồ-tát này đều là bậc dẫn đầu trong đại chúng mỗi vị đem theo sáu vạn hằng hà sa quyến thuộc. Huống chi là những vị đem theo năm vạn, bốn vạn, ba vạn, hai vạn, một vạn hằng hà sa quyến thuộc. Huống chi là cho đến những vị đem theo một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa, cho đến một phần trong ngàn vạn ức na-do-tha phần hằng hà sa quyến thuộc. Huống chi là những vị đem theo ngàn vạn ức na-do-tha quyến thuộc, huống chi là đem ức vạn quyến thuộc, huống chi là đem theo ngàn vạn trăm vạn cho đến một vạn, huống chi là đem theo một ngàn một trăm cho đến mười quyến thuộc, huống chi là đem năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử. Huống chi là những vị thích hạnh viễn ly. Số đông vô lượng, vô biên như thế không thể tính toán thí dụ mà biết được.

Các vị Bồ-tát đó từ dưới đất vụt hiện lên, tất cả đều đến tháp bảy báu ở giữa hư không, nơi có Đa Bảo Như Lai và Thích-ca Mâu-ni Phật. Đến nơi rồi tất cả hướng về hai Đức Thế Tôn đầu mặt làm lễ dưới chân xong đến chỗ các Đức Phật ở trên tòa Sư tử dưới cội cây báu làm lễ, đi nhiễu quanh ba vòng bên phải, chắp tay cung kính dùng các phép ngợi khen của Bồ-tát mà ca ngợi Phật rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng hai Đấng Thế Tôn.
Từ lúc các Bồ-tát Ma-ha-tát từ dưới đất vụt xuất hiện lên cho đến khi dùng các phép ngợi khen của Bồ-tát mà ca ngợi Phật, thời gian đo trải qua năm mươi tiểu kiếp.
Bấy giờ Phật Thích-ca Mâu-ni im lặng tĩnh tọa và bốn chúng cũng đều im lặng năm mươi tiểu kiếp. Nhưng vì thần lực của Phật đã khiến đại chúng cảm thấy như bằng nửa ngày.
Bấy giờ bốn chúng cũng nhờ thần lực của Phật được thấy các Bồ-tát đầy khắp vô lượng ngàn vạn ức cõi nước hư không.
Trong chúng Bồ-tát có bốn vị Đạo sư, một tên là Thượng Hạnh, hai tên là Vô Biên Hạnh, ba tên là Tịnh Hạnh, bốn tên là An Lập Hạnh. Bốn Bồ-tát này là bốn vị hướng dẫn đứng đầu trong chúng đó. Ở trước đại chúng, bốn vị đồng chắp tay nhìn Phật Thích-ca Mâu-ni mà vấn an rằng:
–Thế Tôn có được ít bệnh, ít khổ, luôn an vui chăng? Những người đáng được độ, dạy dỗ có dễ chăng, không làm cho Thế Tôn vất vả chăng?
Khi đó bốn vị Đại Bồ-tát nói bài kệ rằng:
Thế Tôn an vui
Ít bệnh ít khổ
Giáo hóa chúng sinh
Không mệt mỏi chăng?
Với các chúng sinh
Dạy dỗ dễ chăng?
Không khiến Thế Tôn
Phải vất vả chăng?
Bấy giờ Thế Tôn bảo đại chúng Bồ-tát rằng:
–Đúng vậy, đúng vậy, thiện nam! Như Lai an vui, ít bệnh, ít khổ, dạy dỗ chúng sinh dễ dàng không chút vất vả. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh đó từ nhiều đời nay thường được ta dạy bảo và cũng từng ở nơi chư Phật quá khứ cung kính tôn trọng, trồng các căn lành. Các chúng sinh đó vừa trông thấy ta, nghe ta thuyết pháp liền tin thọ vào được trong trí tuệ của Như Lai, chỉ trừ những người trước đã tu tập học hạnh Tiểu thừa. Nhưng những người ấy ta cũng khiến được nghe kinh này để vào trong trí tuệ của Phật.
Lúc ấy, các Đại Bồ-tát nói bài kệ rằng:
Hay thay, hay thay!
Đại hùng Thế Tôn!
Các chúng sinh ấy
Hóa độ dễ dàng.
Hay hỏi chư Phật
Trí tuệ rất sâu,
Tin thọ phụng hành
Chúng con tùy hỷ.
Khi đó Đức Thế Tôn khen ngợi các Đại Bồ-tát thượng thủ rằng:
–Hay thay, hay thay, thiện nam! Các ông có thể đối trước Như Lai phát tâm tùy hỷ.
Bấy giờ, Bồ-tát Di-lặc cùng tám ngàn hằng sa các chúng Bồ-tát đều nghĩ: “Chúng ta từ xưa nay không thấy, không nghe các chúng Đại Bồ-tát từ dưới đất vụt xuất hiện lên, đối trước Thế Tôn chắp tay cúng dường vấn an Như Lai như vậy.”
Lúc đó Bồ-tát Di-lặc Ma-ha-tát biết tâm niệm của tám ngàn hằng sa chúng Bồ-tát và cũng muốn giải quyết chỗ nghi của mình, bèn chắp tay hướng về phía Phật dùng kệ hỏi:
Vô lượng ngàn vạn ức
Các đại chúng Bồ-tát
Từ xưa chưa từng thấy.
Xin thưa Lưỡng Túc Tôn
Là ở từ phương nào,
Nhân duyên gì đến hội?
Thân lớn, thần thông lớn
Trí tuệ chẳng nghĩ bàn,
Chí niệm lại vững bền
Có sức nhẫn nhục lớn.
Chúng sinh đều muốn thấy
Là từ phương nào đến?
Mỗi mỗi các Bồ-tát
Đều đem theo quyến thuộc
Số đông không thể lường
Như cát sông Hằng vậy.
Hoặc có Đại Bồ-tát
Đem sáu vạn hằng sa,
Các đại chúng như thế
Một lòng cầu Phật đạo.
Các vị Đại sư đó
Đem sáu vạn hằng sa
Đều đến cúng dường Phật
Và hộ trì kinh này.
Đem năm vạn hằng sa,
Số ấy còn hơn trên.
Bốn vạn và ba vạn,
Hai vạn đến một vạn,
Một ngàn đến một trăm,
Cho đến một hằng sa,
Một nửa, ba, bốn phần,
Một phần trong ức vạn,
Ngàn vạn na-do-tha,
Vạn ức các đệ tử,
Cho đến một nửa ức,
Còn đông hơn số trên.
Trăm vạn đến một vạn,
Một ngàn và một trăm,
Năm mươi, hoặc mười vị
Cho đến ba, hai, một,
Đơn độc không quyến thuộc,
Ưa thích ở một mình,
Đều đi đến chỗ Phật,
Số này còn hơn trên.
Các đại chúng như thế,
Nếu dùng thẻ mà đếm,
Quá hơn kiếp hằng sa
Còn không thể đếm hết.
Các vị oai đức lớn,
Chúng Bồ-tát tinh tấn,
Ai vì họ thuyết pháp,
Giáo hóa cho thành tựu?
Do ai mà phát tâm,
Dạy cho Phật pháp nào?
Thọ trì tu kinh gì?
Tu tập Phật đạo nào?
Các Bồ-tát như thế
Thần thông trí tuệ lớn,
Đất bốn phương rạn nứt
Đều từ đó vụt lên.
Thế Tôn, con xưa nay
Chưa từng thấy việc đó.
Xin Phật nói danh hiệu,
Cõi nước, từ đâu đến.
Con thường qua các nước,
Chưa từng thấy chúng ấy.
Con ở trong chúng này
Mà chẳng biết một người
Đột nhiên từ đất lên
Xin nói nhân duyên đó.
Nay trong đại hội này,
Vô lượng trăm ngàn ức,
Các chúng Bồ-tát đây
Đều muốn biết việc ấy.
Hàng Bồ-tát chúng kia
Gốc ngọn các nhân duyên.
Thế Tôn đức vô lượng
Cúi xin giải các nghi.
Khi ấy các vị Phật do Phật Thích-ca Mâu-ni phân thân, từ vô lượng ngàn vạn ức cõi nước ở phương khác đến ngồi kiết già trên tòa sư tử dưới các cội cây báu trong tám phương. Thị giả của các vị Phật đó đều thấy đại chúng Bồ-tát ở bốn phương cõi tam thiên đại thiên thế giới từ đất vụt lên trụ trên hư không, đều bạch với vị Phật của mình rằng:
–Bạch Thế Tôn! Các đại chúng vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ Bồ-tát đó từ đâu đến vậy?
Lúc ấy, các Đức Phật đều bảo thị giả:
–Các thiện nam, hãy chờ trong giây lát! Có vị Bồ-tát Ma-ha-tát tên là Di-lặc, là vị mà Phật Thích-ca Mâu-ni thọ ký kế tiếp sau sẽ thành Phật, đã hỏi việc đó và Phật sẽ trả lời. Nhờ đó các người sẽ được nghe.
Bấy giờ Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ tát Di-lặc:
–Hay thay, hay thay! A-dật-đa có thể hỏi Phật việc quan trọng như vậy. Các ông phải đồng một lòng mặc áo giáp tinh tấn, phát tâm kiên cố. Nay Như Lai muốn bày tỏ rõ ràng trí tuệ của chư Phật, sức thần thông tự tại của chư Phật, sức sư tử hùng dũng của chư Phật, uy thế lớn mạnh của chư Phật.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói kệ:
Phải một lòng tinh tấn
Ta muốn nói việc này,
Chớ đem lòng nghi hoặc,
Trí Phật khó nghĩ bàn.
Ông nay gắng sức tin,
Trụ ở trong nhẫn thiện.
Giáo pháp xưa chưa nghe,
Nay đều sẽ được nghe.
Nay ta an ủi ông
Chớ ôm lòng nghi sợ.
Phật không lời không thật
Trí tuệ không thể lường.
Phật chứng pháp bậc nhất
Rất sâu khó phân biệt.
Nay ta nói pháp ấy,
Các ông nhất tâm nghe.
Thế Tôn nói kệ xong bảo Bồ-tát Di-lặc:
–Nay ta nói rõ cho các ông trong đại chúng này. A-dật-đa, các Bồ-tát Ma-ha-tát vô lượng, vô số a-tăng-kỳ, từ dưới đất vụt hiện lên mà các ông từ xưa chưa từng thấy đó chính là khi ta ở cõi Ta-bà chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đã giáo hóa chỉ dẫn các Bồ-tát đó điều phục tâm mình khiến phát đạo tâm. Cõi đó ở phía dưới thế giới Ta-bà, trụ giữa hư không. Các vị Bồ-tát này đọc tụng thông rõ các kinh điển, tư duy phân biệt nghĩ nhớ chân chánh. A-dật-đa, các thiện nam đó không thích ở trong chúng đông, bàn luận nhiều, thường thích ở nơi yên tịnh, siêng tu tinh tấn, chưa từng thôi nghỉ, cũng không nương tựa người trời mà ở, thường thích trí tuệ sâu xa không chướng ngại, cũng thường ham thích giáo pháp của chư Phật, một lòng tinh tấn cầu trí Tuệ vô thượng.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa này mà nói kệ:
A-dật-đa nên biết
Các Bồ-tát lớn này,
Từ vô số kiếp nay
Tu tập trí tuệ Phật,
Đều do ta hóa độ,
Khiến phát đại đạo tâm.
Họ đều là con ta,
Y chỉ thế giới này
Thường tu hạnh Đầu-đà
Chỉ thích nơi yên tịnh.
Xa đám đông huyên náo
Không ưa bàn luận nhiều.
Các vị đó như thế
Học tập đạo pháp ta,
Ngày đêm thường tinh tấn,
Vì để cầu Phật đạo.
Ở phương dưới Ta-bà,
Trụ giữa khoảng hư không.
Sức chí niệm vững bền,
Thường siêng cầu trí tuệ.
Nói các pháp nhiệm mầu
Mà tâm không sợ sệt.
Ta ở thành Già-gia
Ngồi dưới cội Bồ-đề,
Thành Bậc Tối Chánh Giác
Chuyển Vô thượng pháp luân
Rồi mới giáo hóa họ
Khiến sơ phát đạo tâm.
Nay đều trụ bất thoái,
Đều sẽ được thành Phật.
Ta nói lời chân thật,
Các ông một lòng tin.
Ta từ xưa đến nay
Giáo hóa các chúng đó.
Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc Ma-ha-tát cùng vô số chúng Bồ-tát sinh lòng nghi hoặc, lấy làm lạ việc chưa từng có mà nghĩ rằng: “Làm sao trong một thời gian ngắn mà Thế Tôn có thể giáo hóa vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ các Đại Bồ-tát và khiến cho trụ vào Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như vậy?”
Rồi liền bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn! Như Lai lúc làm Thái tử rời khỏi cung điện

dòng họ Thích, ngồi ở đạo tràng cách thành Già-gia chẳng bao xa, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Từ đó đến nay mới hơn bốn mươi năm. Làm sao trong một thời gian ngắn như vậy mà Thế Tôn có thể làm nên Phật sự vó đại và dùng thế lực của Phật, công đức của Phật giáo hóa vô lượng chúng Đại Bồ-tát sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như vậy?
Bạch Thế Tôn! Chúng Đại Bồ-tát này cho dẫu có người trong ngàn vạn ức kiếp cũng không đếm hết, không giới hạn. Chúng Đại Bồ-tát đó từ lâu nay ở nơi vô lượng, vô biên chư Phật trồng các căn lành, thành tựu đạo Bồ-tát, thường tu phạm hạnh.
Bạch Thế Tôn! Việc đó người đời khó tin. Ví như có người trẻ đẹp tóc đen hai mươi lăm tuổi chỉ một người trăm tuổi mà nói rằng người đó là con mình. Người trăm tuổi nọ cũng chỉ gã thiếu niên kia mà nói là cha của mình đã sinh đẻ nuôi nấng. Đó là điều khó tin. Phật cũng vậy.
Từ lúc thành đạo đến nay kỳ thật chưa bao lâu, mà các đại chúng Bồ-tát đó đã ở nơi vô lượng ngàn vạn ức kiếp, vì Phật đạo siêng năng tu tinh tấn, khéo vào, ra, an trụ trong vô lượng ngàn vạn ức cảnh giới chánh định, được thần thông lớn, tu hạnh thanh tịnh đã lâu, thường hay tuần tự tu tập các pháp lành, có tài vấn đáp, là quý báu trong loài người, rất ít có trong tất cả thế gian.
Ngày nay Thế Tôn vừa mới nói lúc được Phật đạo khiến họ bắt đầu phát tâm, giáo hóa chỉ dạy dẫn dắt khiến họ hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn thành Phật chưa bao lâu, sao có thể làm được việc công đức lớn như vậy?
Chúng con tuy tin Phật tùy nghi thuyết pháp, những lời Phật nói ra chưa bao giờ hư vọng, tri kiến của Phật là thông thấu, nhưng sau khi Phật diệt độ rồi, các Bồ-tát mới phát tâm nếu nghe những lời này có thể sẽ không tin, không tiếp nhận mà sinh ra nhân duyên tội nghiệp là phá chánh pháp.
Bạch Thế Tôn! Xin vì chúng giải thích trừ mối nghi cho chúng con và để các thiện nam đời vị lai nghe việc này cũng khỏi sinh nghi.
Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói kệ:
Phật xưa từ dòng Thích
Xuất gia gần Già-gia,
Ngồi dưới cây Bồ-đề
Đến nay còn chưa xa.
Các hàng Phật tử này
Số đông không thể lượng,
Đã lâu tu Phật đạo,
Trụ ở sức thần thông.
Khéo học đạo Bồ-tát
Không nhiễm pháp thế gian.
Như hoa sen trong nước
Từ đất mà vụt lên.
Đều sinh lòng cung kính
Đứng ở trước Thế Tôn,
Việc đó khó nghĩ bàn
Làm sao mà tin được?
Phật đắc đạo rất gần,
Mà thành tựu nhiều quá.
Xin vì chúng trừ nghi,
Như thật phân biệt nói.
Ví như người trẻ mạnh
Tuổi mới hai mươi lăm.
Chỉ người trăm tuổi già
Mặt nhăn và tóc bạc
Nói là mình sinh ra.
Rồi con cũng gọi cha.
Cha trẻ mà con già.
Trên đời ai tin được?
Thế Tôn cũng như vậy.
Đắc đạo nay quá gần.
Mà chúng Bồ-tát đây,
Chí vững không khiếp nhược.
Từ vô lượng kiếp nay
Đã tu đạo Bồ-tát,
Có tài giỏi vấn đáp
Tâm không chút sợ sệt,
Nhẫn nhục tâm quyết định
Đoan chính có oai đức.
Mười phương Phật ngợi khen
Giỏi phân biệt thuyết pháp.
Không thích nơi đám đông
Thường ưa cảnh thiền định.
Vì cầu Phật đạo nên
Trụ hư không phương dưới.
Chúng con theo Phật nghe,
Đối việc này không nghi.
Xin Phật vì người sau,
Giảng nói khiến hiểu rõ.
Vì nếu với kinh này,
Sinh lòng nghi không tin,
Sẽ phải đọa đường dữ.
Vậy nay xin giải thích
Vô lượng Bồ-tát kia
Làm sao thời gian ngắn
Giáo hóa khiến phát tâm
Trụ được bậc Bất thoái?

Phẩm 16: NHƯ LAI THỌ LƯỢNG

 
Bấy giờ Phật bảo các Bồ-tát và tất cả đại chúng:
–Các thiện nam! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng:
–Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Rồi lại bảo đại chúng:

–Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Khi ấy đại chúng Bồ-tát do Di-lặc đứng đầu chắp tay bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn, cúi xin dạy cho! Chúng con sẽ tin nhận lời Phật.
Rồi tác bạch nói như vậy ba lần:
–Cúi xin dạy cho! Chúng con sẽ tin nhận lời Phật.
Bấy giờ Thế Tôn biết các Bồ-tát không ngớt ba lần thỉnh cầu, liền bảo:
–Các ông hãy lắng nghe sức thần thông bí mật của Như Lai. Tất cả trong đời như Trời, Người và A-tu-la đều cho rằng nay Phật Thích-ca Mâu-ni ra khỏi cung điện dòng họ Thích, ngồi nơi đạo tràng cách thành Già-gia không bao xa mà đặng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nhưng thiện nam, thật sự ta thành Phật đến nay đã vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp. Ví như năm trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem nghiền nát ra bụi nhỏ rồi qua phương Đông, cách năm trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước thì bỏ xuống một hạt bụi, rồi cứ như vậy đi qua phía Đông cho đến khi bỏ xuống hết số hạt bụi đó. Các thiện nam, các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể suy nghĩ tính toán mà biết được chăng?
Bồ-tát Di-lặc và tất cả đều bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Các thế giới đó vô lượng, vô biên không thể tính toán biết được và sức tâm trí cũng không nghĩ tới được. Tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật dùng trí vô lậu cũng không thể suy nghĩ được số hạng đó. Chúng con trụ bậc Bất thoái nhưng trong việc này cũng không đạt tới. Bạch Thế Tôn! Các thế giới như thế nhiều vô lượng, vô biên.
Bấy giờ Phật bảo các chúng Bồ-tát:
–Các thiện nam! Nay ta sẽ nói rõ cho các ông. Các thế giới đó kể cả số có bỏ hạt bụi và số không bỏ hạt bụi, tất cả đều đem nghiền nát ra thành bụi nhỏ và cứ một hạt bụi là một kiếp thì từ khi ta thành Phật đến nay còn lâu nhiều hơn số đó trăm ngàn vạn ức na
-do-tha a-tăng-kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta-bà này thuyết pháp giáo hóa, và cũng ở trong trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước khác dắt dẫn làm lợi ích chúng sinh.
Các thiện nam! Trong khoảng giữa thời gian đó ta có nói đến Phật Nhiên Đăng… và có nói các Đức Phật ấy nhập Niết-bàn. Nói như thế đều là dùng phương tiện để phân biệt.
Các thiện nam! Nếu có chúng sinh nào đến ta, ta dùng mắt Phật quan sát các căn như tín… của chúng là lanh lợi hay chậm lụt, tùy theo chỗ đáng độ, mà mỗi nơi mỗi nơi tên gọi không giống nhau, tuổi thọ có lớn nhỏ, cũng thị hiện nói sẽ nhập Niết-bàn và dùng các trí tuệ phương tiện nói pháp nhiệm mầu để làm cho chúng sinh có thể phát tâm hoan hỷ.
Các thiện nam! Như Lai thấy các chúng sinh ưa thích pháp Tiểu thừa, đức mỏng tội nặng, Phật vì người đó nói: “Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Nhưng thực sự ta đã thành Phật đến nay lâu xa dường ấy, chỉ vì dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh, khiến vào Phật đạo nên nói như vậy.
Các thiện nam! Kinh điển của Như Lai nói ra đều vì độ thoát chúng sinh. Khi nói là thân mình, khi nói là thân người, hoặc chỉ thân mình hoặc chỉ thân người, hoặc chỉ việc mình hoặc chỉ việc người, nhưng các lời nói ra đều thật chứ không hư dối. Vì sao vậy? Vì Như Lai thấy biết đúng như thật là tướng của ba cõi không có sống chết, không thoái lui, không tiến tới, không ở đời không diệt độ, không thực không hư, không giống không khác, không thấy ba cõi như là ba cõi. Những việc như thế Như Lai thấy rõ không sai lầm.
Vì chúng sinh có nhiều căn tánh khác nhau, nhiều dục vọng khác nhau, nhiều hành nghiệp khác nhau, nhiều nghĩ tưởng phân biệt khác nhau nên để làm cho phát sinh các căn lành phải dùng bao nhiêu nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, các cách nói pháp, cách ra làm Phật sự, chưa từng tạm bỏ một pháp nào. Như vậy từ khi ta thành Phật đến nay thật là lâu xa, thọ mạng vô lượng a-tăng-kỳ kiếp thường còn không mất.
Các thiện nam! Ta xưa tu hành đạo Bồ-tát thành tựu được thọ mạng số còn hơn trên, đến nay vẫn chưa hết. Nay không phải thật sự
diệt độ mà chỉ là phương tiện nói sẽ diệt độ. Như Lai dùng phương tiện đó giáo hóa chúng sinh. Vì sao vậy? Vì nếu Phật ở đời lâu thì người đức mỏng, không trồng căn lành, nghèo cùng hèn hạ, tham muốn năm thứ dục lạc, sa vào trong lưới tưởng nhớ vọng kiến, thấy Như Lai thường còn không diệt độ mà sinh lòng phóng túng trễ nãi, không có ý tưởng khó gặp cũng như lòng cung kính. Cho nên Như Lai dùng phương tiện nói: “Tỳ-kheo phải biết rằng việc chư Phật ra đời là điều khó gặp.”
Vì sao vậy? Những người đức mỏng, trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp có người thấy Phật, có người không thấy Phật. Vì sự việc này mà ta nói rằng: “Tỳ-kheo, khó có thể thấy được Như Lai.”
Các chúng sinh đó nghe nói vậy sẽ sinh ý tưởng khó gặp, ôm lòng luyến mộ, khát khao ngưỡng vọng Phật, mới trồng căn lành. Vì vậy cho nên Như Lai nói diệt độ, dầu chẳng thật sự có diệt độ.
Lại nữa thiện nam! Phương pháp của chư Phật Như Lai đều như vậy. Vì độ chúng sinh đều thật như vậy chứ không hư dối.
Ví như một lương y có trí tuệ sáng suốt, biết rõ cách luyện phương trị bệnh. Lương y này có nhiều con cái, hoặc mười, hai mươi, cho đến số trăm nhưng vì có việc phải đi nước khác. Sau đó các người con uống nhằm thuốc độc khác, thuốc làm cho mê loạn lăn lộn trên đất. Khi đó người cha từ nước ngoài về nhà. Những người con uống nhằm thuốc độc, có người mất bản tánh, có người chưa mất xa trông thấy cha về rất vui mừng vái chào hỏi han:
–Mừng cha về bình an. Chúng con dại dột uống lầm thuốc độc, xin cha cứu chữa cho chúng con được sống.
Người cha trông thấy các con khổ não như vậy liền y theo các sách thuốc tìm đủ các loại cỏ thuốc màu sắc dẹp mùi vị thơm giã nhỏ hòa vào nhau đưa cho các con uống mà bảo:
–Đây là thứ thuốc hay có đầy đủ mùi vị thơm ngon, các con hãy uống cho mau hết khổ não không còn bệnh tật.
Trong các con, những người chưa mất bản tánh thấy thuốc hay có mùi vị thơm ngon liền nhận uống, hết bệnh được lành mạnh. Còn những người đã mất bản tánh, tuy thấy cha về vui mừng hỏi han và xin trị bệnh nhưng đến khi cho thuốc thì không chịu uống.
Vì sao vậy? Vì chất độc đã thấm sâu làm mất bản tánh nên thuốc tốt thơm ngon mà bảo là khó uống. Người cha bèn nghĩ: “Đáng thương cho những đứa con này, vì trúng độc mà tâm hồn rối loạn. Tuy thấy ta về mừng xin cứu chữa, nhưng thuốc tốt như thế này mà không chịu uống. Nay ta phải bày phương tiện này khiến chúng uống thuốc.” Rồi bảo:
–Các con phải biết, ta nay già yếu sắp chết đến nơi rồi. Có món thuốc hay này ta để ở đây, các con nên lấy mà uống. Không lo gì không lành bệnh.
Bảo các con xong đi qua nước khác, rồi sai người về báo tin cho các con: “Cha của các người đã chết.”
Bấy giờ các người con nghe tin cha chết, lòng rất sầu khổ mà nghĩ rằng: “Nếu cha ta còn sống, người ắt thương xót chúng ta, chúng ta sẽ được cứu hộ. Nay cha đã bỏ chúng ta xa chết ở nước khác.” Tự nghĩ từ nay côi cút không nơi nương tựa, lòng thường bi cảm bèn tỉnh ngộ mới biết thuốc ấy thơm ngon lấy uống và được lành bệnh. Người cha nghe tin các con đã lành mạnh liền trở về cho các con được trông thấy.
–Các thiện nam, các ông nghĩ sao? Ai có thể nói vị lương y kia mắc tội dối láo không? –Bạch Thế Tôn, không! Phật bảo:
–Ta cũng vậy. Từ khi thành Phật đến nay đã vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp, vì chúng sinh dùng sức phương tiện nói sẽ diệt độ. Việc đó đúng như pháp thì không ai có thể nói rằng ta có lỗi dối láo.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói kệ:
Ta thành Phật đến nay
Trải qua nhiều số kiếp
Vô lượng trăm ngàn vạn
A-tăng-kỳ ức năm,
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số ức chúng sinh
Khiến vào nơi Phật đạo.
Đến nay vô lượng kiếp
Vì độ chúng sinh nên
Phương tiện hiện Niết-bàn,
Kỳ thật không diệt độ,
Thường ở đây nói pháp.
Ta thường ở nơi đây,
Dùng các sức thần thông,
Khiến chúng sinh điên đảo
Tuy gần mà không thấy.
Chúng thấy ta diệt độ,
Khắp cúng dường xá-lợi.
Tất cả đều luyến tiếc
Mà sinh lòng khát ngưỡng.
Chúng sinh đã tin phục
Ngay thật ý hòa dịu,
Một lòng muốn thấy Phật
Tự chẳng tiếc thân mạng.
Giờ ta cùng chúng Tăng
Đều ra khỏi Linh thứu,
Bảo với chúng sinh rằng:
Thường ở đây chẳng diệt.
Vì dùng sức phương tiện
Hiện có diệt, không diệt.
Nước khác có chúng sinh
Lòng cung kính tin mong
Ta ở lại trong đó
Vì nói pháp Vô thượng.
Các người không nghe biết
Cứ nói ta diệt độ.
Ta thấy các chúng sinh
Chìm trong các khổ não,
Nên chẳng vì hiện thân
Để cho sinh khát vọng.
Nhân lòng người luyến mộ
Mới hiện ra nói pháp.
Sức thần thông như thế
Ở trong vô số kiếp,
Thường tại núi Linh thứu
Và các trụ xứ khác.
Chúng sinh thấy kiếp tận
Khi đại hỏa thiêu đốt
Cõi ta đây an ổn
Trời người thường đông đúc.
Vườn rừng và lầu gác
Đủ thứ báu trang nghiêm.
Cây báu đơm hoa quả
Chỗ chúng sinh hưởng lạc.
Các trời đánh trống trời
Thường diễn tấu nhạc hay,
Mưa hoa Mạn-đà-la
Cúng Phật và đại chúng.
Tịnh độ ta chẳng hoại
Mà chúng thấy cháy tan.
Lo sợ các khổ não
Đều dẫy đầy như vậy.
Các chúng sinh tội đó,
Vì nhân duyên nghiệp dữ,
Quá a-tăng-kỳ kiếp
Chẳng nghe tên Tam bảo.
Người nhu hòa ngay thật
Có tu các công đức,
Đều được thấy thân ta
Ở nơi đây nói pháp.
Hoặc lúc vì chúng này
Nói Phật thọ vô lượng.
Người lâu mới thấy Phật
Thì nói Phật khó gặp.
Trí lực ta như thế,
Tuệ quang chiếu vô lượng,
Thọ mạng vô số kiếp
Tu hành lâu mà được.
Các ông người có trí
Chớ sinh lòng hoài nghi.
Phải dứt, khiến hết hẳn,
Lời Phật thật không dối.
Như lương y chước khéo
Vì để trị cuồng tử,
Còn sống mà nói chết,
Không thể bảo là dối.
Ta là cha trong đời,
Cứu các người đau khổ.
Vì phàm phu điên đảo,
Thật còn mà nói diệt.
Vì cớ thường thấy ta
Mà sinh lòng kiêu xa,
Phóng túng theo năm dục
Đọa vào các đường dữ.
Ta thường biết chúng sinh
Hành đạo, chẳng hành đạo,
Tùy cơ duyên được độ
Mà nói ra nhiều pháp.
Thường tự nghĩ thế này:
“Lấy gì khiến chúng sinh
Được trí Tuệ vô thượng
Mau thành tựu thân Phật?”

Phẩm 17: PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC

 
Sau khi tất cả chúng trong đại hội đã được nghe nói về thọ mạng kiếp số dài lâu của Phật và vô lượng, vô biên, vô số chúng sinh được lợi ích lớn như vậy, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Di-lặc Ma-ha-tát rằng:
–A-dật-đa! Ta nói Như Lai thọ mạng dài lâu như vậy và có sáu trăm tám vạn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sinh được Vô sinh pháp nhẫn.
Lại có gấp ngàn lần Bồ-tát Ma-ha-tát được pháp môn Văn trì Đà-la-ni.
Lại có một thế giới có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần được pháp Nhạo thuyết biện tài.
Lại có một thế giới có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần được trăm ngàn vạn ức vô lượng pháp môn Triền Đà-la-ni.
Lại có tam thiên đại thiên thế giới có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần có thể chuyển được Pháp luân không thoái.
Lại có hai ngàn trung thiên quốc độ có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần chuyển được Pháp luân thanh tịnh.
Lại có tiểu thiên quốc độ có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần, tám đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có bốn tứ thiên hạ có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần, bốn đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có ba tứ thiên hạ có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần, ba đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có hai tứ thiên hạ có số Bồ-tát Ma-ha-tát nhiều như vi trần, hai đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có một tứ thiên hạ có số Bồ-tát Ma-ha-tát, một đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có tám thế giới có số chúng sinh nhiều như vi trần đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Khi Phật nói các Bồ-tát Ma-ha-tát đó được lợi ích vì nghe pháp thì trên không trung mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la rải

xuống vô lượng trăm ngàn vạn ức các Đức Phật đang ngồi trên tòa Sư tử dưới cội cây báu và rải lên Phật Thích-ca Mâu-ni và Phật Đa Bảo đang ngồi trên tòa Sư tử trong tháp bảy báu và cũng rải lên tất cả các Đại Bồ-tát cùng bốn bộ chúng.
Lại còn rưới xuống bột hương gỗ Chiên-đàn, hương trầm thủy, trong không trung vang xa âm thanh tiếng trống trời kỳ diệu.
Lại còn thả xuống ngàn thứ Thiên y, chuỗi ngọc như chuỗi ngọc trai, chuỗi ngọc ma-ni, chuỗi ngọc như ý đầy khắp chín phương và những lò hương báu xông đốt các thứ hương vô giá tự nhiên từ bốn phía đến cúng dường đại chúng.
Trên mỗi Đức Phật có các vị Bồ-tát cầm phướn lọng, lần lượt lên đến trời Phạm thiên. Các vị Bồ-tát đó dùng âm thanh vi diệu hát lên vô lượng bài tụng tán, ca ngợi chư Phật.
Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc từ tòa ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên phải, chắp tay hướng Phật mà nói bài kệ:
Thế Tôn có sức lớn
Thọ mạng không thể lường.
Vô số các Phật tử
Nghe Thế Tôn phân biệt,
Nói được pháp lợi ích
Lòng hân hoan vui mừng.
Nào trụ bậc Bất thoái
Nào được Đà-la-ni,
Nào Vô ngại nhạo thuyết
Vạn ức Triền tổng trì.
Hoặc có cõi đại thiên
Bồ-tát như vi trần,
Mỗi vị đều có thể
Chuyển Pháp luân không thoái.
Lại có cõi trung thiên
Bồ-tát như vi trần,
Mỗi vị đều có thể
Chuyển Pháp luân thanh tịnh.
Lại có cõi tiểu thiên
Bồ-tát như vi trần,
Còn dư lại tám đời
Sẽ được thành Phật đạo.
Lại có bốn, ba, hai
Tứ thiên hạ như thế,
Bồ-tát như vi trần,
Theo số đời thành Phật.
Hoặc một tứ thiên hạ
Bồ-tát như vi trần,
Còn dư lại một đời,
Sẽ thành Nhất thiết trí.
Hàng chúng sinh cũng vậy
Nghe Phật thọ dài lâu,
Được vô lượng quả báo
Vô lậu rất thanh tịnh.
Lại có tám thế giới
Chúng sinh như vi trần,
Nghe Phật nói thọ mạng
Đều phát tâm Vô thượng.
Thế Tôn nói vô lượng
Pháp không thể nghĩ bàn.
Được nhiều sự lợi ích
Như hư không vô biên
Mưa hoa trời Mạn-đà,
Ma-ha mạn-đà-la
Thích, Phạm như hằng sa
Vô số cõi Phật đến
Rưới Chiên-đàn, trầm thủy
Tán mạn xuống khắp nơi
Như chim trời bay lượn
Cúng dường các Đức Phật.
Trống trời từ không trung
Tự nhiên vang tiếng lạ.
Thiên y ngàn muôn thứ
Uyển chuyển nhẹ rơi rơi.
Các lò hương đẹp quý
Vô giá khói hương xông.
Tự nhiên đều cùng khắp
Cúng dường chư Thế Tôn.
Có các Đại Bồ-tát
Tay cầm phướn lọng báu
Muôn vàn thứ quý lạ
Lần lượt đến Phạm thiên,
Trước mỗi mỗi Đức Phật
Treo tràng phan bảo cái.
Cũng dùng ngàn vạn kệ
Ca vịnh chư Như Lai.
Tất cả những việc ấy
Từ xưa chưa từng có.
Nghe Phật thọ vô lượng,
Tất cả đều vui mừng.
Phật tiếng đồn mười phương
Rộng lợi ích chúng sinh.
Đủ tất cả căn lành,
Để giúp tâm Vô thượng.
Bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Di-lặc Ma-ha-tát:
–A-dật-đa! Có chúng sinh nào nghe Phật thọ mạng dài lâu như thế, cho dù có thể sinh một niệm tin hiểu, sẽ được công đức không thể hạn lượng. Nếu có thiện nam, thiện nữ, vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong tám mươi vạn ức na-do-tha kiếp tu năm pháp Ba-la-mật: Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật, trừ Trí tuệ ba-la-mật, đem công đức này sánh với công đức tin hiểu trước không được một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn vạn ức, cho đến tính toán thí dụ cũng không thể biết được. Nếu thiện nam, thiện nữ đã có

được công đức như thế mà còn bị thoái chuyển nơi quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không thể có lẽ đó.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Nếu cầu trí tuệ Phật
Trong tám mươi vạn ức
Na-do-tha kiếp số
Tu năm Ba-la-mật.
Ở trong các kiếp đó
Bố thí cúng dường Phật
Và đệ tử Duyên giác
Cùng các chúng Bồ-tát,
Thức trân cam mỹ vị,
Trang phục, giường nệm quý,
Chiên-đàn dựng tinh xá,
Tạo vườn rừng trang nghiêm.
Lại nữa, này A-dật-đa! Nếu có người nghe nói thọ mạng của Phật dài lâu, hiểu ý nghĩa của lời nói đó, người ấy sẽ được công đức không có hạn lượng, có thể phát khởi trí Tuệ vô thượng của Như Lai. Huống chi là người rộng nghe kinh này, hoặc khuyên người nghe, hoặc tự thọ trì, hoặc khuyên người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc khuyên người chép, hoặc đem hương hoa, chuỗi ngọc, phướn lọng, dầu thơm, đèn nến cúng dường quyển kinh, công đức của người này vô lượng, vô biên, có thể phát sinh Nhất thiết chủng trí.
A-dật-đa! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe ta nói thọ mạng dài lâu sinh lòng tin hiểu, tức là thấy Phật thường tại núi Kỳ-xà-quật thuyết pháp có chúng Đại Bồ-tát và hàng Thanh văn vây quanh. Lại thấy cõi Ta-bà này đất bằng lưu ly ngay ngắn bằng phẳng, vàng Diêm-phù-đàn ngăn tám nẻo, cây báu thẳng hàng, nhà cửa lầu đài đều bằng bảy báu có chúng Bồ-tát ở. Nếu có người quán tưởng được như vậy thì phải biết rằng đó là quán tướng tin hiểu sâu sắc.
Và lại sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh này mà không chê bai, sinh lòng tùy hỷ thì phải biết rằng người đó đã có tướng tin hiểu sâu sắc, huống chi là người đọc tụng thọ trì kinh này.
Người này sẽ là người đầu đội Như Lai.
A-dật-đa! Thiện nam, thiện nữ đó không cần phải vì ta mà xây dựng chùa tháp, cất nhà Tăng, dùng bốn việc cúng dường để cúng chúng Tăng. Vì sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ đó thọ trì đọc tụng kinh điển này tức đã là xây tháp, dựng nhà Tăng, cúng dường Tăng chúng rồi, tức là đã đem xá-lợi của Phật dựng tháp bảy báu cao rộng nhỏ dần lên đến tận trời Phạm thiên, treo phướn lọng khuông báu, hương hoa, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, các thứ trống, các thứ âm nhạc, ống tiêu, ống sáo, không hầu, các thứ vũ kỹ, dùng âm thanh vi diệu ca ngâm khen ngợi, như là đã làm việc cúng dường như vậy trong vô lượng ngàn vạn ức kiếp rồi.
A-dật-đa! Nếu sau khi ta diệt độ, nghe kinh điển này có người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, tức là đã xây dựng nhà Tăng, dùng gỗ Chiên-đàn đỏ cất cung điện nhà cửa ba mươi hai tòa sở, cao bằng tám cây đa-la cao rộng đẹp đẽ cho trăm ngàn Tỳ-kheo ở. Nơi đó có lập vườn rừng, ao tắm, chỗ đi kinh hành, hang động ngồi thiền, y phục, lương thực thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, tất cả thú vui đều đủ. Những nhà Tăng có trăm ngàn vạn ức lầu gác như thế, số đó nhiều vô lượng để hiện tiền cúng dường ta và các vị Tỳ-kheo Tăng. Cho nên ta nói sau khi diệt độ nếu có người thọ trì đọc tụng, vì người khác nói, hoặc bảo người chép, cúng dường quyển kinh thì không cần phải dựng chùa tháp, tạo lập nhà Tăng, cúng dường Tăng chúng. Huống chi lại có người hay thọ trì kinh này mà cả đến tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm, trí tuệ, công đức người này rất đặc biệt vượt trội vô lượng, vô biên. Ví như hư không, Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía, trên, dưới, vô lượng, vô biên. Công đức của người đó cũng vô lượng, vô biên như vậy mau đến bậc Nhất thiết chủng trí. Nếu có người đọc tụng thọ trì kinh này, giảng giải cho người khác, hoặc tự chép, hoăïc bảo người chép, lại có thể dựng tháp, tạo lập nhà Tăng, cúng dường khen ngợi chúng Thanh văn tăng, cùng dùng trăm ngàn vạn cách tán dương mà khen ngợi công đức của Bồ-tát. Lại vì người khác mà dùng nhiều nhân duyên tùy nghĩa giải thích kinh Pháp Hoa này và còn có thể giữ giới thanh tịnh, ở chung cùng người nhu hòa, nhẫn
nhục không nóng giận, chí niệm kiên cố, thường coi trọng việc ngồi thiền, đạt các cảnh thiền định sâu xa, tinh tấn mạnh mẽ, nhiếp các căn lành, căn lanh lợi, trí tuệ sáng suốt khéo léo giải đáp các vấn nạn.
A-dật-đa! Nếu sau khi ta diệt độ, các thiện nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh điển này, lại có các công đức lành như thế, phải biết rằng người đó đã đến đạo tràng ngồi dưới cây đạo thọ tiếp cận đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
A-dật-đa! Những nơi nào các thiện nam, thiện nữ đó hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi hãy nên xây tháp, tất cả trời người đều phải cúng dường như tháp của Phật vậy.
Bấy giờ Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa này mà nói bài kệ:
Sau khi ta diệt độ
Ai phụng trì kinh này,
Người đó phước vô lượng
Như trên đã nói rõ.
Như vậy là đầy đủ
Tất cả các cúng dường.
Dùng xá-lợi xây tháp,
Dùng bảy báu trang nghiêm,
Chùa tháp rất cao rộng
Nhỏ dần đến Phạm thiên.
Chuông báu ngàn vạn ức
Gió động vang tiếng mầu.
Lại trong vô lượng kiếp
Mà cúng dường tháp đó.
Hoa, hương các chuỗi ngọc
Thiên y cùng kỹ nhạc,
Đèn thắp bằng dầu thơm
Chung quanh thường chiếu sáng.
Vào đời ác mạt pháp
Người nào trì kinh này,
Tức là đã đầy đủ
Các cúng dường như trên.
Nếu hay trì kinh này
Thì như Phật hiện tại,
Dùng Chiên-đàn ngưu đầu
Cất nhà Tăng cúng dường.
Nhà ba mươi hai sở
Cao tám cây Đa-la,
Thịnh soạn, y phục tốt,
Giường nằm đều đầy đủ,
Cho trăm ngàn chúng Tăng.
Vườn rừng các ao tắm,
Chỗ kinh hành, ngồi thiền
Đều trang nghiêm đẹp đẽ.
.Nếu có lòng tin hiểu,
.Trì tụng và sao chép,
.Nếu lại bảo người làm
.Và cúng dường kinh quyển.
.Rải hương hoa, hương bột,
Dùng Tu-mạn, Chiêm-bặc,
A-đề, Mục-đà-la,
.Thường thắp bằng dầu thơm.
Người cúng dường như thế
Được công đức vô lượng.
Như hư không vô biên,
Phước đó cũng như vậy.
Huống chi trì kinh này,
Lại bố thí, trì giới,
Nhẫn nhục, vui thiền định,
Không giận, không ác khẩu,
Cung kính nơi tháp miếu,
Khiêm tốn với Tỳ-kheo,
Xa lìa lòng tự cao
Thường tư duy trí tuệ.
Bị vấn nạn không giận,
Tùy thuận mà giải thích.
Nếu làm được hạnh đó,
Công đức lường không hết.
Nếu thấy Pháp sư này
Thành tựu công đức ấy,
Thì dùng hoa trời rải,
Lấy áo trời che thân,
Đầu mặt tiếp chân lạy,
Sinh lòng tưởng như Phật.
Và nên nghĩ thế này:
Không lâu đến đạo thọ,
Được vô lậu vô vi,
Làm lợi ích trời người.
Nơi trú xứ người ấy,
Kinh hành hoặc ngồi nằm,
Cho đến nói một kệ,
Ở đó nên xây tháp,
Trang nghiêm cho đẹp đẽ,
Dâng các thức cúng dường.
Phật tử ở chỗ này,
Tức là Phật thụ dụng,
Thường ở tại nơi đó,
Kinh hành và ngồi nằm.
/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »