SỐ 1800
THỈNH QUÁN ÂM KINH SỚ
Đại sư Thiên Thai Trí Giả đời Tùy giảng.
Đệ tử là Pháp sư Quán Đỉnh ghi chép.
NÓI VỀ NGƯỜI VÀ PHÁP
Kinh này dùng người và pháp để nêu tên. “Người” là bậc Đại sĩ rất từ bi, “Pháp” là thần chú rất tốt đẹp.
“Người” chia làm hai nghĩa chung và riêng. Nghĩa riêng là danh hiệu tốt đẹp của Bồ-tát Quán Âm; nghĩa chung là tên gọi tốt đẹp của Bồ-tát. Nghĩa riêng lại có hai nghĩa: một là năng, hai là sở. Chữ “Thỉnh” chỉ cho căn cơ chúng sinh có công năng chiêu cảm, ba chữ “Quán Thế Âm” là chỉ cho bậc Thánh chủ thường ứng hiện.
“Pháp” có hai nghĩa là dụng và thể, tiêu trừ hàng phục các độc hại là nói về lực dụng của pháp; Đà-la-ni là nói chính thể của pháp. Thể có hai nghĩa, ở đây gọi là năng trì, năng già. Trì đối với ba nghĩa, già đối với hai bên. Dụng lại có ba: một là sự, hai là hạnh, ba là lý. Sự là cọp, sói, đao, kiếm v.v… Hạnh là năm trụ phiền não; Lý là pháp giới không ngăn ngại, không nhiễm ô, mà nhiễm tức là độc hại của lý tánh. Cho nên nói dùng người và pháp để đặt tên.
Phần đầu kinh nói về năm lớp huyền nghĩa v.v... Tên kinh là từ người và pháp để đặt nên, lấy pháp thân linh tri vắng lặng chiếu soi làm thể, lấy sự cảm ứng làm Tông, lấy việc cứu nguy trừ khổ làm Dụng và lấy Đại thừa làm Giáo tướng. Về tên thì các kinh đều có tên chung, tên riêng. Người Pháp trong kinh này là tên riêng, chữ Kinh là tên chung. Sở dĩ có sự chung, riêng như vậy là do tóm tắt ba nghĩa: giáo, hạnh, lý. Giáo thì Thanh Văn chẳng đồng, tên gọi của các bộ phái khác nhau. Do
sự khác nhau đó nên gọi là riêng; nhưng đều từ miệng vàng của Như-lai nói ra, chẳng phải do các đệ tử trời, người nói nên thuộc về chung.
Hạnh là có rất nhiều đường vào đạo chẳng phải chỉ một đường, các Quán môn có khác nên sự tu tập cũng chẳng đồng, nên nói là riêng. Khi khế hợp với đạo cùng quy về một lý, cho nên nói là chung.
Lý chỉ có một pháp mà nhiều tên gọi, hoặc gọi là mé thật chân như, tướng thật, thức A-lại-da, danh từ khác nhau nên gọi là riêng, nhưng cùng một lý nên gọi là chung.
Nay xét về tên riêng đó chia là hai phần “người” và “Pháp”; nhưng “nhân” và “pháp” cùng nhau thành tựu. Nay không thể tách rời, muốn giải thích đơn giản nên chia làm hai. Trước nói về người, sau nói về Pháp. Người lại chia làm hai phần là người thỉnh và người được thỉnh. Ở đây chỉ nêu ra một chữ “thỉnh”. Người thỉnh chỉ cho những chúng sinh có căn cơ cảm ứng với Bồ-tát. Ba chữ “Quán Thế Âm” là nêu người thỉnh.
*Năng thỉnh có ba nghĩa, một là vì mình cho nên thỉnh, hai là vì người mà thỉnh, ba là vì giữ gìn chánh pháp nên thỉnh, tất cả các điều này sẽ trình bày ở văn sau: Như Tư-na v.v... là vì mình mà thỉnh, như Trưởng giả Nguyệt Cái là vì người mà thỉnh, bài kệ bảy chữ là do giữ gìn chánh pháp mà thỉnh. Lại nữa, vì mình mà thỉnh là giới Nhiếp thiện pháp, vì người mà thỉnh là giới Nhiếp chúng sinh, vị giữ gìn chánh pháp mà thỉnh là giới Nhiếp chánh pháp. Nếu nói cho đúng ý chỉ thì ba việc thỉnh ấy đều quy về một pháp. Vì sao? Vì nếu muốn cho tự thân giới mình được định, tuệ sáng sưốt thanh tịnh, tức là giới Nhiếp thiện pháp; nếu đã được định, tuệ thanh tịnh, làm lợi ích cho người thì thuộc về giới Nhiếp chúng sinh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm, Phật, chúng sinh cả ba không khác nhau. Cho nên biết ba pháp ấy chỉ là một, nay chia làm ba là tùy theo sự thể hiện qua sự kiện và ý nghĩa cầu thỉnh để gọi là phụ hay chánh; hoặc có khi chỉ có hạnh là chánh còn hai phần kia là phụ.
Tự thỉnh lại chia làm ba: Một là mời thỉnh, hai là cầu thỉnh, ba là nguyện thỉnh. Vì muốn giữ gìn pháp cho người đều phải đủ ba phép thỉnh: mời rước, cầu thỉnh và nguyện thỉnh. Ba pháp thỉnh này chỉ là nhân cơ cảm. Dùng ba phép thỉnh ấy là đối với ba nghiệp.
1.“Diên” tức là co, duỗi, cúi ngước, dùng thân nghiệp để thỉnh.
2.“Kỳ” là phát ra lời cầu thỉnh, là dùng khẩu nghiệp để thỉnh.
3.“Nguyện” tức là lòng tha thiết mời thỉnh, là ý nghiệp thỉnh.
Những điều này văn sau nói rõ.
Như năm vóc gieo sát đất là thân nghiệp. Bốn hàng kệ nói đại Bi
bao trùm tất cả là khẩu nghiệp. Nhất tâm nhất ý là ý nghiệp.
Lại nữa, “diên” là thỉnh người, “kỳ” là thỉnh pháp, “nguyện” là thỉnh cả người lẫn pháp.
Nay nói “diên thỉnh” lại chia làm ba phần, một là nêu Tâm thỉnh, hai là y theo Hạnh thỉnh, ba là y theo Chứng thỉnh.
1.Nêu tâm là như tâm ý chuyên nhất thành tâm kính thỉnh, căn cơ cảm ứng với bậc Đại Thánh.
2.Hạnh thỉnh là như người tuy không bày tỏ lòng mình, nhưng ba nghiệp thân, khẩu, ý thuần tịnh không lầm lỗi, tự nhiên đại sĩ cảm ứng.
3.Chứng thỉnh là như lúc tu Tam-muội niệm Phật, Chư Phật mười phương thảy đều hiện tiền.
Thân nghiệp đã đầy đủ ba thỉnh này, miệng, ý cũng vậy, cộng chung có chín cách thỉnh. Ba nghiệp vì mình có chín cách, ba nghiệp vì người cũng có chín cách, ba nghiệp giữ gìn pháp cũng có chín cách. Ba lần chín hai mươi bảy, cộng với mười hai phép ở trước thành ba mươi chín cách thỉnh. Năng thỉnh đã có ba mươi chín cách, năng sở hợp lại có bảy mươi tám cách thỉnh.
Người năng thỉnh là chúng sinh trong mười pháp giới. Trong mười cõi ấy, có chín cõi thì nói về thỉnh, còn cõi Phật thì phải phân biệt.
Kế là nói người được thỉnh là Bồ-tát Quán Thế Âm. Phần này chia làm hai: Một là chung, hai là riêng. Riêng là ba chữ Quán Thế Âm, chung là hai chữ Bồ-tát. Chung, riêng này cũng có ba nghĩa: Giáo, hạnh, lý.
Giáo là Bồ-tát có đầy đủ đức độ, tu muôn hạnh lành, thuận theo căn cơ hiển bày giáo pháp để tùy duyên hóa độ. Mỗi vị tùy theo hạnh nguyện lại đặt một tên gọi khác nhau. Ví dụ như ngài Văn-thù lấy tên là Diệu Đức, ngài Di-lặc tên là Từ Tâm, còn Bồ-tát này dùng trí quán xét làm danh hiệu tiêu biểu, cho đến nói về lý mầu ba đức cũng không khác với lòng từ vô duyên. Bồ-tát dùng trí Nhất thiết chủng lắng nghe để tùy nghi cứu độ chúng sinh nên mỗi vị nêu một tên. Vì nêu tên nên nói có riêng khác, Từ giai vị Sơ địa lên đến bậc Đẳng giác đồng là nhân địa nên gọi là chung.
Hạnh là muôn hạnh đều tu nên chỉ nêu một hạnh làm đầu. Như năm trăm vị Tỳ-kheo, mỗi vị đều nói nhân tu của mình; cũng như ba mươi hai vị Bồ-tát đều tự nói sự thể nhập pháp môn bất nhị. Ấy cho nên gọi là riêng. Nhưng đồng nhập lý vô sinh không khác nhau nên nói là chung.