Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 128, Bộ Kinh Sớ XIV, Số 1736 (Quyển 34- 66)

Đại Tập 128, Bộ Kinh Sớ XIV, Số 1736 (Quyển 34- 66)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1146.

Chương 24: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao - Quyển 57 (Trang 796 - 832)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
                             TẬP 143




                               BỘ LUẬT SỚ
                                        I
                               SỐ 1804- 1805





                     HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
                 LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
                                             Lời Giới Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh cho riêng họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một giảm sút dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác Phẩm chú thích, sớ giải v.v... của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học sĩ cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ­–Tiến sĩ Tiết học– hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm họ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v...
-Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v...
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ Phật giáo Việt Nam, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn, ngày 16 – 12 – 1998
                                                         Hội đồng Chứng minh
 
                                              Lời Nói Đầu

Ba Tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải qua mấy mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hôi đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vò sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đúng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nhận cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày khoảng một ngàn trang khổ 17 x 24 cm, như
_________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, xb 1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vị Phật học gia. Phật học bổn vị Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kì gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
 quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Wantanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay, Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về mặt hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng Giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
                            NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
                          TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I-Viết hoa toàn bộ:

1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…

 
V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…
梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.
                                                           Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
                                                                 Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
                                      VÀI NÉT VỀ TẬP 40

Tập 40 Luận Sớ Bộ phần 1, được thu lục vào Đại Chánh Tân Tu Hán tạng gồm 17 luận sớ giải chủ yếu đa phần về Luật từ No 1804 đấn No 1820 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 143, 144, 145, và 146 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam:
No 1804 Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao 12 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Sách này căn cứ vào Tứ Phần Quảng Luật mà bỏ bớt những chỗ rườm rà, bỏ bớt phần thiếu sót, trình bày nghĩa cốt yếu của luật Tứ Phần, đồng thời tham khảo thuyết của ác nhà Luật học, nói rõ những quy chế về luật hạnh trong lịch sử, đối với sự xác lập phong cách tăng hạnh đời sau, đã có ảnh hưởng rất lớn.
No 1805 Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký 16 quyển, do ngài Nguyên Chiếu soạn vào đời Tống.
No 1806 Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Hàm Chú Giới Bổn 3 quyển, do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Cũng gọi Tứ Phần Hàm Chú Giới Bổn. Nội dung dựa theo Quảng Luật để chú giải Tứ Phần Luật Giới Bổn, lập ra 4 môn: Nói về lý do có giáo pháp, Phần hạn nhiếp giáo, Giải thích danh nghĩa, Giải thích đề hiệu
No 1807 Tứ Phần Tỳ Khưu Hàm Chú Giới Bổn Sớ 2 quyển, do ngài Định Tân soạn vào đời Đường. Nội dung sách này chú thích Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Giới Bổn. Ngài Định Tân thuộc hệ thống Tướng Bộ Tông của ngài Pháp Lệ đời Đường, cho nên trong sách này có nhiều chỗ bác bỏ thuyết của Luật sư Nam sơn Đạo Tuyên, hơn nữa có khá nhiều tên giới khác với thuyết của ngài Đạo Tuyên, và trích dẫn lời của Ma ha Tăng Kỳ, luận Nhị Luật Thập Minh Liễu, luận Du Già Sư Địa, Nhiếp Đại Thừa, Luận Câu Xá… để giải thích văn giới
No 1808 Tứ Phần San Bổ Tuỳ Cơ Yết Ma 2 quyển, chưa biết tác giả
No 1809 Tăng Yết Ma 3 quyển, do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường
No 1810 Ni Yết Ma 3 quyển, do ngài Hoài Tố soạn vào đời Đường
No 1811 Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ 2 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tuỳ, ngài Quán Đảnh ghi chép lại. Cũng gọi Bồ Tát Giới kinh Nghĩa Sớ. Đây là sách chú thích kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới. Trước hết lập ba khoa: Giải thích tên, nêu ra thể và biện biệt, kế đến giải thích văn kinh, rất ngắn gọn dễ hiểu.
No 1812 Thiên Thai Bồ Tát Giới Sớ 3 quyển, do ngài Minh Kháng tu chỉnh vào đời Minh
No 1813 Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Sớ 6 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường. Nội dung sách này lập 10 môn để giải thích rõ giới bổn của Bồ tát trong kinh Phạm Võng. Đặc sắc của sớ giải này là ở chỗ giải thích các giới tướng một cách cặn kẽ rõ ràng trong 10 giới trọng, mỗi giới lập ra 10 môn, còn 48 giới khinh mỗi giới chia làm 8 môn. Hơn nữa sách còn trích dẫn 80 thứ kinh luật luận…
No 1814 Bồ Tát Giới Bổn Sớ 3 quyển do ngài Nghĩa Tịch, người nước Tân La soạn thuật.
No 1815 Phạm Võng Kinh Cổ Thuật Ký 3 quyển, do ngài Thái Hiền, người nước Tân La soạn tập. Nội dung sách này chú thích kinh Phạm Võng chia làm 7 môn: Thời Xứ, Cơ căn, Tạng nhiếp, Phiên Dịch, Tông thú, Đề danh và Bản văn. Sách này tham gia khảo các bộ sớ của các ngài Trí Khải, Pháp tạng, Nghĩa tịch mà lập kiến giải riêng rất được các tông như Luật, Chân Ngôn, Pháp Tướng coi trọng.
No 1816 Kim Cương Bát Nhã Luận Hội Thích 3 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn thuật vào đời Đường.
No 1817 Lược Minh Bát Nhã Mạt Hậu Nhất Tụng Tán Thuật 1 quyển, do ngài Nghĩa Tịnh soạn thuật vào đời Đường.
No 1818 Pháp Hoa Luận Sớ 3 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tuỳ. Đây là sách chú giải bộ luận Pháp Hoa của ngài Thế Thân. Nọi dung sách này nhằm chỉ ra sự sai lầm của những giáo phán Tứ Tông, Ngũ thời của thời Nam Bắc triều, như đã hiểu sai ý chỉ mà hạ thấp kinh Pháp Hoa là Vô thường giáo hoặc Phú tướng thường trụ giáo.
No 1819 Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sinh Kệ Chú 2 quyển, do ngài Đàm Loan chú giải
No 1820 Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ Tiết Yếu 1 quyển, do ngài Tịnh Nguyện tóm yếu vào đời Tống, ngài Châu Hoành bổ sung chú thích vào đời Minh.
Trên đây là sơ lược nội dung toàn tập 40.

                                                         BAN BIÊN TẬP
                                    MỤC LỤC
                       (BỘ LUẬT SỚ 1- TẬP 143)

SỐ 1804- TỨ PHẦN LUẬT SAN PHỒN BỔ KHUYẾT
HÀNH SỰ SAO.................................................................... 3

BÀI TỰA............................................................................... 3
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 1)........................................... 13
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 2)........................................... 49
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 3)........................................... 86
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 4)........................................... 121
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1)............................................... 161
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 2)............................................... 214
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 3)............................................... 268
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 4)............................................... 339
QUYỂN HẠ: (PHẦN 1)....................................................... 387
QUYỂN HẠ: (PHẦN 2)....................................................... 436
QUYỂN HẠ: (PHẦN 3)....................................................... 480
QUYỂN HẠ: (PHẦN 4)....................................................... 535

SỐ 1805- TỨ PHẦN LUẬT HÀNH SỰ SAO TƯ TRÌ KÝ
 ...............................................................................................587

QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 1- Thượng)............................ 587
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 1- Hạ).................................... 660
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 2)........................................... 742
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 3)........................................... 788
QUYỂN THƯỢNG: (PHẦN 4)........................................... 842
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1- 1).......................................... 923
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1- 2).......................................... 960
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1- 3).......................................... 981
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1- 4).......................................... 1010
QUYỂN TRUNG: (PHẦN 1- 5).......................................... 1037
/33
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »