Đại Tập 185, Bộ Sử Truyện VII, Số 2060- 2061 (Quyển 9- 30)
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 18 chương/phẩm, dày 517 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 890.
1.Giới: Nhận thức ăn của ni không phải bà con:
2.Giới thọ thức ăn từ tay ni trao:
3.Giới thọ thực ở nhà học giả:
4.Giới lan nhã khủng bố mà thọ thực:
2/ Giới mặc ba y ngay ngắn:
3/ Giới: Lật ngược y vào nhà thế tục:
4/ Không được lật ngược y vào nhà thế tục ngồi Thức-xoa-ca-la- ni.
5/ Giới: Y quấn cổ vào nhà người tại gia:
6/ Không được y quấn cổ vào nhà người tại gia ngồi Thức-xoa- ca-la-ni.
7/ Giới che đầu vào nhà người tại gia:
8/ Không được che đầu vào nhà người tại gia ngồi.
9/ Không được vừa đi vừa nhảy vào thế tục:
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm Tỳ-kheo sáu vị dù đi dù nhảy vào nhà thế tục. Các cư sĩ chê trách là không biết hổ thẹn, vào nhà người tại gia giống như chim sáo. Tỳ-kheo nêu tội, Phật do đó chế giới.
Không được dù đi dù nhảy: Nhảy hai chân mà đi.
Vào nhà người tại gia Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là bị bịnh hoặc bị người đánh. Có giặc đuổi hay bị thú dữ cắn. Nhảy qua mương ao hay chỗ bùn nước.
10/ Không được vừa đi vừa nhảy vào nhà thế tục mà ngồi:
11/ Ngồi xổm trong nhà cư sĩ:
Phật ngự tại Xá-vệ. Các cư sĩ thỉnh tăng đến nhà thọ thực. Nhóm Tỳ-kheo bảy vị ngồi chồm hỗm, đưa tay lên tòa làm cho thân hình ng- hiêng ngửa ra. Các cư sĩ chê trách là không biết xấu hổ, lộ hình ra chẳng khác gì Bà-la-môn. Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Không được vào nhà người tại gia ngồi xổm, hoặc trên đất hay trên giường ngồi mà không dính đất.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là lúc đó có mục ghẻ ở dưới, hoặc lễ, hoặc sám hối, hoặc thọ giáo giới.
12/ Không được chống nạnh vào nhà thế tục:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, nhóm sáu vị chống nạnh đi vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê cười nói: Sa-môn tự xưng là mình biết chánh pháp, lại đưa tay chống nạnh như người đêm tân hôn đắc chí kiêu ngạo. Tỳ- kheo nêu tội. Phật do đây chế giới.
Không được chống nạnh.
Thức-xoa-ca-la-ni đi vào nhà thế tục: Không phạm là: Hoặc bị bịnh, sau lưng có mụt. Trong tăng-già-lam, hoặc ngoài thôn, hoặc làm việc, hoặc đi đường.
13/ Không được chống nạnh, chống khuỷu tay lên làm trở ngại
14/ Giới không được lắc mình đi vào nhà thế tục:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Nhóm sáu vị đi lắc mình vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê cười nói: Thật không biết hổ thẹn, lắc mình đi như bậc vua quan. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền quở trách, chế giới.
Không được lắc mình đi: bước đi thân lắc qua hai bên.
Vào nhà người tại gia Thức-xoa-ca-la-ni. Không phạm: Là hoặc bị bịnh, hoặc bị người đánh, lách mình chạy tránh gậy. Hoặc bị thú dữ xúc não, hoặc tránh các vật đâm chém vào thân, hoặc lắc mình để qua hầm hố, hoặc mặc đồ ngắm lại cho ngay ngắn.
15/ Không được lắc mình đi vào nhà thế tục ngồi Thức-xoa-ca- la-ni.
16/ Không được đánh đàng xa vào nhà thế tục ngồi:
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm sáu vị lắc tay đi vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê cười: - Thật không biết hổ thẹn, đánh tay đi vào nhà cư sĩ, giống như vua quan, Trưởng giả. Tỳ-kheo nêu tội. Phật quở trách chế giới.
Không được đi đánh tay đằng xa: là duỗi tay ra trước sau mà đi. Vào nhà thế tục Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: Hoặc bị bịnh,
bị người đánh giơ tay đỡ, hoặc thú dữ xông vào người đưa tay đỡ. Hoặc qua ao rạch đưa tay vẫy gọi bạn.
17/ Không được tay đánh đàng xa đi vào nhà thế tục ngồi, Thức- xoa-ca-la-ni.
18/ Lộ thân đi vào nhà thế tục:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Nhóm sáu vị không thích che thân đi vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê trách nói: Y phục che thân không khéo chẳng khác gì Bà-la-môn.
Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới. Khéo che thân đi vào nhà thế tục: hoặc lộ ở trong làng xóm chỗ nào cũng lộ bày thân thể.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: hoặc bị bịnh, hoặc bị ràng buộc, gió thổi làm y tung ra.
19/ Phải khéo che thân vào nhà thế tục ngồi Thức-xoa-ca-la-ni.
20/ Liếc ngó hai bên đi vào nhà thế tục:
21/ Thức-xoa-ca-la-ni không được liếc ngó hai bên đi vào nhà thế tục ngồi.
22/ Lớn tiếng đi vào nhà thế tục:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, nhóm sáu vị lớn tiếng đi vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê cười: Như Bà-la-môn không biết hổ thẹn, không phải chánh pháp. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Im lặng thanh tịnh vào nhà thế tục: Trong đó không im lặng, cao tiếng nói lớn. Hoặc dặn dò trao đổi. Hoặc lớn tiếng thí thực.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: hoặc bị bịnh. Hoặc điếc không nghe, phải lớn tiếng dặn dò trao đổi, hoặc cao tiếng thí thực. Hoặc bị hai nạn sinh mạng và phạm hạnh lớn tiếng mà đi.
23/ Im lặng vào nhà bạch y mà ngồi Thức-xoa-ca-la-ni.
24/ Cười giỡn vào nhà thế tục:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, nhóm sáu vị đùa giỡn đi vào nhà thế tục. Các Cư sĩ chê trách: Cười nói như khỉ vượn không biết hổ thẹn, làm sao có chánh pháp, Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được cười giỡn: là cười hở răng. Vào nhà thế tục Thức- xoa-ca-la-ni. Không phạm là: hoặc bị bịnh, hoặc môi hở răng không kín. Hoặc niệm pháp vui mừng mà cười.
25/ Không được cười giỡn vào nhà bạch y ngồi, Thức-xoa-ca-la- ni.
26/ Không dụng ý thọ thực (Phải chú ý thọ thực):
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thỉnh tăng cúng dường. Nhóm sáu vị không dụng ý thọ thực, làm rơi đổ cơm canh. Các Cư sĩ chê cười nói Sa-môn không biết thỏa mãn, tâm tham thọ nhiều như lúc lúa gạo kém thiếu. Các Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Dụng ý thọ thực: Vì không chú ý nên làm rơi đổ cơm canh.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: Hoặc lúc bị bịnh, hoặc bát nhỏ nên lúc ăn bị đổ cơm, hoặc lượm rớt trên bàn.
27/ Giới thọ thực đầy bát:
Phật ngự tại Xá-vệ, có cư sĩ thỉnh tăng, nhóm sáu vị thọ thực đầy bát, làm cơm canh đổ ra ngoài. Các Cư sĩ chê trách nói: Không biết hổ thẹn, không biết thỏa mãn, như loài ngọa quỷ tham ăn. Tỳ-kheo nêu tội, Phật nhân đó quở trách, chế giới.
28/ Thọ canh đầy bát:
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường. Nhóm sáu vị lấy cơm quá nhiều không thể chứa canh. Các Cư sĩ chê cười: - Người gì tham ăn như ngạ quỷ. Các Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Bình bát thọ canh làm tràn nước ra dơ.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là hoặc lúc bị bịnh, hoặc bát nhỏ làm đổ cơm trên bàn.
29/ Giới không theo thứ lớp thọ thực:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường, tự tay sớt thức ăn. Canh để ở dưới rồi bỏ cơm thêm, ăn cơm hết mà canh vẫn còn. Lại lấy thêm cơm. Canh hết mà cơm vẫn còn, tựa như người đói. Các Tỳ-kheo nêu tội, Phật quở trách rồi chế giới.
Nên cơm canh cùng ăn: Vì không ăn một lượt thì cơm hết hoặc canh hết.
Thức-xoa-ca-la-ni, không phạm: là hoặc bị bịnh, hoặc cần ăn canh hơn cơm, hoặc cơm hơn canh. Hoặc mặt trời sắp qua, hoặc bị hai nạn sinh mạng và phạm hạnh phải ăn cho mau.
30/ Thọ thực không thứ lớp:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường, tự tay sớt thức ăn. Nhóm sáu vị không theo thứ lớp gắp thức ăn. Các Cư sĩ chê bai, không biết thỏa mãn, chẳng khác nào như chó lợn, trâu lừa, diều qua chim chóc. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền quở trách chế giới.
Nên theo thứ lớp lấy thức ăn, kia không theo thứ lớp mà ăn, bỏ lộn lạo vào bát mà ăn.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là lúc bịnh. Sợ cơm nóng nên khều chỗ nguội ăn trước. Vì giờ ngọ sắp qua, hoặc bị nạn liên quan đến tánh mạng và phạm hạnh cần phải ăn mau.
31/ Giới moi cơm giữa bát mà ăn.
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường, tự tay dâng thức ăn. Nhóm sáu vị thọ thực, moi ở giữa ăn hết làm cho giữa bát trống rỗng. Các Cư sĩ chê bai nói: Ăn không biết thỏa mãn, như lừa ngựa heo chó. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Nhân đó Phật chế giới.
Không được khều giữa bát ăn: Moi cơm giữa bát cho đến tận đáy.
32/ Giới vì mình xin thức ăn:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai, nhóm sáu vị tự xin ăn như lúc đói khát. Các Cư sĩ chê cười: Thọ thực không thỏa mãn như vậy làm sao đúng chánh pháp. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Vô bịnh: bị bịnh thì cho xin ăn.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không được tự mình xin cơm canh ăn. Không phạm là lúc bịnh, hoặc vì người, người vì mình, không mong mà được.
33/ Giới dùng cơm phủ canh:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường. Nhóm sáu vị ăn canh hết, cư sĩ lại châm thêm canh nữa. Sau đó Tỳ-kheo dùng cơm phủ lên canh. Cư sĩ trách rằng: Thọ dụng không biết thỏa mãn, như người đói khát, làm sao đúng chánh pháp. Tỳ-kheo nêu tội, Phật quở trách và chế ra giới này.
Thức-xoa-ca-la-ni không được dùng cơm phủ canh, ăn rồi xin canh
nữa.
Không phạm: là hoặc bị bịnh, hoặc được mời thỉnh. Hoặc có lúc cần ăn canh, có lúc cần ăn cơm.
34/ Giới: nhìn vào bát người ngồi bên cạnh:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường, nhóm sáu vị được ít, phần người ngồi bên cạnh nhiều, nên nói với cư sĩ: - Nay ông thỉnh tăng mà có tâm cho người nhiều người ít. Cư sĩ bảo: Tôi cúng dường bình đẳng. Tỳ-kheo nêu tội, Phật quở trách rồi chế giới.
Không được nhìn trong bát người ngồi bên, xem ai nhiều ít.
Mà ăn, Thức-xoa-ca-la-ni. Không phạm là: - Vì người bên cạnh bị bịnh, hoặc mắt kém nên nhìn xem được thức ăn hay không được thức ăn, tịnh hay bất tịnh, thọ hay chưa thọ. Nếu bị bịnh thì khai cho.
35/ Giới duyên trong bát mà ăn:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường, nhóm sáu vị ăn xong thì liếc ngó hai bên, không biết người ngồi bên cạnh lấy bát dấu đi. Tỳ-kheo bạch lên Đức Phật. Do đó mà Phật chế giới.
Nên duyên trong bát quán tưởng mà ăn: Là không được liếc ngó hai bên.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là lúc bị bịnh, người ngồi bên mắt kém, như các phương tiện trước, hoặc là xem giờ giấc, hoặc bị nạn duyên muốn chạy nhìn xem hai bên.
36/ Vắt cơm lớn miếng mà ăn:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, cư sĩ thiết trai cúng dường, nhóm sáu vị vắt cơm lớn miếng bỏ vào miệng nuốt không được. Các Cư sĩ chê cười cho là không biết thỏa mãn. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được vắt cơm lớn miếng mà ăn: Vì khó nuốt.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm: là bị bịnh, giờ ngọ sắp qua, bị nạn liên quan đến tánh mạng, phạm hạnh, cần ăn nhanh.
37/ Giới: Há miệng lớn đợi cơm ăn:
Phật ngự tại Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường. Thức ăn chưa tới mà Tỳ-kheo há miệng lớn đợi ăn. Cư sĩ chê cười cho là không biết đủ, không nhàm chán. Tỳ-kheo nêu tội. Phật bèn quở trách, chế giới. Không được há miệng lớn đợi cơm ăn. Cơm chưa đến mà há miệng đợi.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: Hoặc bị bịnh, hoặc gặp nạn duyên muốn ăn nhanh.
38/ Ngậm cơm nói chuyện:
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường, nhóm sáu vị miệng dù ngậm cơm dù nói chuyện. Các Cư sĩ chê cười. Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Không được vừa ngậm cơm vừa nói chuyện: Ngậm cơm thì nói không rõ làm cho người không hiểu.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: Hoặc lúc bị bịnh, hoặc nghẹn xin nước. Hoặc bị nạn duyên nên nhai đồ ăn có tiếng.
39/ Vắt cơm ném vào miệng:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, các Cư sĩ thỉnh tăng, tự tay sớt thức ăn. Lục quần vắt cơm từ xa ném vào miệng ăn, các cư sĩ chê trách là không biết đủ, không biết thỏa mãn, chẳng khác gì nhà ảo thuật. Các Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không được vắt cơm từ xa quăng vào miệng mà ăn.
Không phạm: là bị bịnh, hoặc bị buộc vắt cơm ném ăn.
40/ Ăn cơm đổ rớt:
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường. Nhóm sáu vị đưa cơm lên ăn, phân nửa đổ ra ngoài, các cư sĩ chê trách, các Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Ăn cơm không được để thừa lại: là phân nữa cho vào miệng, phân nửa cầm trên tay.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là bị bịnh ăn ít, ăn bánh hoặc trái cây nửa, rau quả, v.v...
41/ Ăn búng hai má:
Phật ngự tại Xá-vệ. Cư sĩ cúng trai phạn, nhóm sáu vị ăn ngốn nghiến, các cư sĩ hiềm trách, cho rằng Sa-môn không biết hổ thẹn. Tỳ- kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được ăn cơm búng hai má: làm hai bên má phùng ra như loài khỉ vượn.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm: là lúc bịnh, sắp hết giờ ngọ, hoặc bị nạn liên quan đến tánh mạng,phạm hạnh nên ăn nhanh.
42/ Nhai cơm có tiếng:
Phật ngự tại Xá-vệ. Cư sĩ cúng dường trai phạn, nhóm sáu vị nhai cơm có tiếng. Cư sĩ chê trách. Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Thức-xoa-ca-la-ni: không được nhai cơm lớn tiếng mà ăn. Không phạm là: Khi bịnh nhai bánh khô và cơm cháy, mía, trái cây...
43/ Hớp cơm mà ăn:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường. Nhóm sáu vị hớp cơm lớn miếng mà ăn. Các Cư sĩ chê trách cho là không biết hổ thẹn. Các Tỳ-kheo bạch lên Phật, do đây Phật chế giới.
Không hớp cơm lớn miếng mà ăn: Há miệng lớn hớp cơm ăn.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là: Bị bịnh đau miệng, hoặc ăn canh, hoặc uống các loại nước sữa, rượu đắng, v.v...
44/ La lưỡi liếm mà ăn:
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai cúng dường. Nhóm sáu vị ăn dùng lười liếm. Các Cư sĩ chê cười, cho là không biết hổ thẹn. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được dùng lưỡi liếm thức ăn: Dùng lưỡi liếm cơm đưa vào miệng.
Thức-xoa-ca-la-ni, không phạm: là bị bịnh hoặc bị trói, tay dơ bẩn nên dùng lưỡi liếm thức ăn.
45/ Vung tay mà ăn:
Phật tại Xá-vệ. Cư sĩ thiết trai cúng dường và tự châm thức ăn. Lục quần lấy vung tay mà ăn. Các Cư sĩ chê bai, cho là không có chánh pháp, như vua đại thần. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được vung tay mà ăn Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm: là bị bịnh, hoặc trong cơm có cỏ trùng, hoặc tay có đồ dơ cầm vứt đi, hoặc tay chưa cầm thức ăn mà dơ nên phải rẫy tay.
46/ Tay lượm cơm đổ mà ăn:
Phật ngự tại Xá-vệ, cư sĩ thiết trai cúng dường, nhóm Tỳ-kheo sáu vị tay nhặt cơm đổ ăn. Các Cư sĩ chê cười, cho là như chim ăn. Tỳ-kheo
47/ Tay dơ cầm đồ đựng cơm ăn:
Phật ngự tại Xá-vệ, Cư sĩ thiết trai, nhóm sáu vị tay dơ mà cầm đồ đựng thực ăn. Các Cư sĩ chê cười, cho là không đúng pháp, giống như vua chúa, Đại thần. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được tay dơ cầm đồ đựng thức ăn: là Tay dơ mà cầm thức ăn.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm là bị bịnh hoặc là trên cỏ, trên lá, khi thọ có rửa tay.
48/ Nước rửa bát đổ vào nhà thế tục:
Phật ngự tại Xá-vệ. Nhóm sáu vị đổ nước rửa bát có lẫn lộn thức ăn vào nhà ăn của người. Các Cư sĩ chê trách, ăn nhiều như người đói. Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Không được đổ nước rửa bát: là nước có lẫn thức ăn.
Đổ vào nhà bạch y Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm: là bị bịnh, hoặc lúc đậy nắp, hoặc rửa chậu đổ nước ra ngoài.
49/ Đại tiểu tiện trên cỏ tươi.
Phật ngự tại Xá-vệ. Nhóm sáu vị khạc nhổ và đại tiểu tiện trên cỏ tươi. Cư sĩ nhìn thấy cho là không biết hổ thẹn như loài vật. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được đại tiểu tiện và khạt nhổ trên rau cỏ tươi, trừ khi bịnh.
Vì bịnh không thể y theo lời Phật dạy nên không phạm.
Thức-xoa-ca-la-ni: Không phạm: Làm rớt trên lá cỏ tươi, hoặc hạt chim ngậm rơi xuống.
50/ Đại tiểu tiện, khạc nhổ vào nước sạch:
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm sáu vị đại tiểu tiện và khạc nhổ xuống nước. Cư sĩ chê trách, cho là như loài vật. Tỳ-kheo nêu tội. Phật liền chế giới.
Thức-xoa-ca-la-ni không được khạc nhổ và đại tiểu tiện xuống nước sạch. Không phạm là khi bịnh, hoặc đại tiểu tiện trên bờ chảy xuống nước, hoặc gió thổi chím ngậm làm rớt.
51/ Không được đứng đại tiểu tiện:
Phật ngự tại Xá-vệ. Nhóm sáu vị đứng đại tiểu tiện. Các Cư sĩ trông thấy cho là không biết hổ thẹn, không có chánh pháp, đứng tiểu tiện như loài vật. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
52/ Nói pháp cho người không cung kính:
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm sáu vị nói pháp cho người lật ngược y không cung kính nghe. Bấy giờ, Tỳ-kheo ít ham muốn nghe biết chuyện đó, lấy làm hổ thẹn nên nêu tội. Do đây Phật chế giới.
Không được nói pháp cho người lật ngược y không cung kính nghe, Thức-xoa-ca-la-ni.
Không phạm: hoặc người bị bịnh, hoặc là vua chúa, đại thần.
53/ Không được nói pháp cho người quấn y vào cổ nghe, trừ bịnh: Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
54/ Không được nói pháp cho người che đầu nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
55/ Không được nói pháp cho người bịt đầu nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
56/ Không được nói pháp cho người chống nạnh nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
57/ Không được nói pháp cho người mang giày da nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
58/ Không được nói pháp cho người mang guốc cây nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
59/ Không được nói pháp cho người đi xe nghe, trừ khi bịnh, Thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
60/ Ngủ đêm trong pháp Phật:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Nhóm Tỳ-kheo sáu vị vào ngủ đêm trong tháp Phật. Các Tỳ-kheo nêu tội, bạch lên Đức Phật, do đó mà Phật chế ra giới này.
Không được ở trong tháp Phật ngủ trừ khi giữ gìn.
Không phạm: Hoặc bị bịnh, hoặc giữ gìn thì nên vào ngủ, hoặc bị bắt buộc phải giữ gìn nên vào ngủ, hoặc bị bắt buộc phải chấp hành. Hoặc bị nạn duyên nên dừng lại ngủ.
61/ Không được giấu của cải trong tháp Phật: Tỳ-kheo ít muốn bạch lỗi này lên Đức Phật, Phật quở trách và chế ra giới nầy.
Thức-xoa-ca-la-ni: không được giấu tài vật trong tháp Phật, trừ cất cho chắc chắn. Không phạm là: Hoặc bị bịnh, hoặc muốn chắc chắn nên cất, hoặc bị bắt buộc, hoặc bị nạn duyên.
63/ Không được xách giày da vào tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
64/ Không mang giày da vào đi nhiễu quanh tháp Phật, thức-xoa- ca-la-ni: như trên.
65/ Không được mang phú-la (hia ngắn) vào tháp Phật, thức-xoa- ca-la-ni: như trên.
66/Không được xách hia vằn vào tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
67/Không để thức ăn dơ dưới tháp Phật:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, nhóm sáu vị ngồi dưới tháp và để đồ dơ lại đó rồi đi. Tỳ-kheo bạch lên Đức Phật, Phật liền chế giới không được ngồi ăn dưới tháp. Lại lúc xây tháp, làm phòng, đào giếng, thí thực. Chúng tăng nhóm họp lại dưới tháp ăn uống không nên để đồ dơ dưới đất.
Không được ở dưới tháp để thức ăn và cỏ lại.
Không phạm: là ngồi mà không để thức ăn, bị bịnh, hoặc lúc bước vào trở ra cầm lấy đồ dơ đi.
68/ Không được khiêng thây chết đi qua dưới tháp Phật,
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm sáu vị khiêng thây chết đi qua dưới tháp Phật. Người giữ tháp tức giận đem lỗi này bạch lên Đức Phật. Phật liền chế giới.
Không được khiêng thây chết đi qua dưới tháp Phật, thức-xoa-ca- la-ni.
Không phạm là: Hoặc bị bịnh, hoặc cần đi qua con đường này.
Hoặc bị cưỡng bức kêu gọi mà đi.
69/ Không được chôn thây chết dưới tháp Phật thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
70/ Không được thiêu thây chết dưới tháp Phật, thức-xoa-ca-la- ni: như trên.
71/ Thức xoa không được thiêu thây chết trước tháp Phật, thức- xoa-ca-la-ni: như trên.
72/ Không được thiêu thây chết xung quanh bốn phía tháp, khiến hơi hôi bay vào, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
73/ Không được đem giường và áo người chết đi qua dưới tháp
74/ Không được đại tiểu tiện dưới tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
75/ Không được đại tiểu tiện trước tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
76/ Không được đại tiểu tiện xung quanh bốn phía pháp khiến hơi hôi bay vào, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
77/ Không được đem tượng Phật đến chỗ đại tiểu tiện, thức-xoa- ca-la-ni.
Như trên có ba việc. Không phạm là lúc bị bịnh, hoặc đường đi phải ngang qua đó, hoặc bị bắt buộc đi.
78/ Không được xỉa răng dưới tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
79/ Không được xỉa răng trước tháp Phật, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
80/ Không được xỉa răng xung quanh bốn phía tháp, thức-xoa-ca- la-ni: như trên.
81/ Không được khạc nhổ xung quanh bốn phía tháp, thức-xoa- ca-la-ni: như trên.
82/ Không được khạc nhổ dưới tháp, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
83/ Không được khác nhổ trước tháp, thức-xoa-ca-la-ni: như trên:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, nhóm Tỳ-kheo sáu vị khạc nhổ xung quanh bốn phía tháp Phật. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được khạc nhổ xung quanh bốn phía tháp Phật, thức-xoa- ca-la-ni.
Không phạm: là lúc bịnh, hoặc chim ngậm thả xuống, hoặc gió thổi đến.
84/ Không được duỗi chân trước tháp Phật:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Nhóm sáu vị ngồi duỗi chân trước tháp Phật. Người thích học giới nêu lỗi, bạch lên Đức Phật. Phật liền chế
85/ Để Phật phòng dưới, mình ở phòng trên:
Phật ngự tại nước Câu-la, nhóm sáu vị để tượng Phật ở dưới, mình ở phòng trên. Tỳ-kheo tu hạnh đầu-đà bạch lên Đức Phật, Phật liền quở trách và chế giới.
Không được để tượng Phật ở dưới, mình ở phòng trên thức-xoa- ca-la-ni. Không phạm là: Hoặc bị bịnh nên tượng Phật ở dưới mình ở phòng trên, hoặc có hai nạn phạm hạnh và tánh mạng.
86/ Người ngồi mình đứng không được nói pháp, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
87/ Người nằm mình ngồi không được nói pháp, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
88/ Người ngồi phải chỗ, mình ngồi không phải chỗ không được nói pháp, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
89/ Ngồi chỗ thấp không được nói pháp cho người ở chỗ cao nghe trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
90/ Đi sau không được nói pháp cho người đi trước nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
91/ Đi dưới thấp không được nói pháp cho người đi trên cao nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
92/ Ở bên đường không được nói pháp cho người ở giữa đường nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
93/ Không được nắm tay nhau đi trên đường:
Phật ngự tại Xá-vệ, nhóm Tỳ-kheo sáu vị nắm tay nhau đi ngoài đường, hoặc ngăn các nam nữ khác. Cư sĩ chê cười cho là không có chánh pháp, như là vua quan, bậc giàu sang. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được nắm tay nhau đi trên đường, thức-xoa-ca-la-ni.
Không phạm: là hoặc bị bịnh, hoặc Tỳ-kheo mắt kém nhờ dắt qua đường.
94/ Không được leo cây cao quá đầu người:
Phật ngự tại Xá-vệ. Tỳ-kheo ở trên cây đại thọ kiết hạ an cư, ở trên cây đó đại tiểu tiện. Vị thần tức giận muốn cắt đứt mạng căn của ông. Tỳ-kheo đem lỗi đó bạch lên Đức Phật, Phật liền chế giới không an cư trên cây và đại tiểu tiện trên đó. Nếu trước đã có chỗ đại tiểu tiện
95/ Vác gậy, mang đãy đựng bát:
Phật ngự tại nước Xá-vệ, Bạt nan Đà mang đãy trong đó có đựng bát treo trên đầu gậy mang trên vai mà đi. Cư sĩ cho là quan nhân nên lánh xuống đường. Tỳ-kheo nêu tội, Phật liền chế giới.
Không được mang túi đựng bát móc đầu gậy quảy trên vai đi.
Không phạm: là hoặc bị bịnh, hoặc bị cưỡng chế bức bách. Hoặc bị trói, hoặc bị nạn duyên.
96/ Cầm gậy không cung kính không được nói pháp cho người nghe, trừ khi bịnh:
Phật ngự tại nước Xá-vệ. Vì nhóm Tỳ-kheo sáu vị nói pháp cho người không cúng kính nghe, các Tỳ-kheo nêu tội, Phật quở trách và chế giới.
Người cầm gậy không cung kính thì không nên nói pháp cho họ nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni.
Không phạm: Hoặc lúc bị bịnh, hoặc vì Vua và Đại thần.
97/ Không được nói pháp cho người cầm kiếm nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
98/ Không được nói pháp cho người cầm nghe, trừ khi bịnh, thức- xoa-ca-la-ni: như trên.
99/ Không được nói pháp cho người cầm dao nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
100/ Không được nói pháp cho ngừơi cầm dù nghe, trừ khi bịnh, thức-xoa-ca-la-ni: như trên.
Thưa các Đại đức! Tôi đã nói một trăm pháp thức-xoa-ca-la-ni rồi. Nay xin hỏi các Đại Đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần).
Thưa các Đại đức trong đây thanh tịnh, việc này giữ gìn như vậy.
Thưa các Đại đức! bảy pháp diệt tránh nầy xuất xứ từ trong giới kinh nửa tháng tụng một lần. Nếu các Đại đức có xảy ra việc tranh chấp thì nên dứt trừ.
Phật bảo: Tranh chấp có bốn loại: Ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh, và sự tránh.
Ngôn tránh là: dùng hai thứ diệt là tỳ-ni hiện tiền và lời của nhiều