Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 141, Bộ Kinh Sớ XXVII, Số 1795- 1797(Quyển 1- 4)

Đại Tập 141, Bộ Kinh Sớ XXVII, Số 1795- 1797(Quyển 1- 4)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 855.

Chương 35: Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ, Quyển 17, Phẩm 16: A- Xà- Lê Chân Thật Trí (Trang 678 - 683)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

                       TẬP 167
 

 
 
 
 
                 
BỘ CHƯ TÔNG
                         VII

 

               SỐ 1911- 1912

 
 
 
 HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

                                            Lời Giới Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh cho riêng họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một giảm sút dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác Phẩm chú thích, sớ giải v.v... của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học sĩ cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ­–Tiến sĩ Tiết học– hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm họ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v...
-Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v...
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ Phật giáo Việt Nam, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn, ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh

                                        Lời Nói Đầu

Ba Tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải qua mấy mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hôi đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vò sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đúng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nhận cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày khoảng một ngàn trang khổ 17 x 24 cm, như
_________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, xb 1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vị Phật học gia. Phật học bổn vị Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kì gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
 quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Wantanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay, Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về mặt hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng Giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
                      NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
                  TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
I-Viết hoa toàn bộ:
1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…
 
V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…
梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.
                                               Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
                                                            Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
VÀI NÉT VỀ TẬP 46

Tập 46 – Chư Tông bộ, phần 3 được thu lục vào Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 46 luận sớ giải từ No 1911 đến No 1956 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 167, 168, 169, 170 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
Đó là:
- No 1911 Ma ha Chỉ Quán 20 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào Đời Tùy, đệ tử là Quán Đảnh ghi chép. Đây là bộ Luận, ngài Trí Khải thuyết vào cuối đời trước khi viên tịch 3 năm. Do đó, có thể nói là tác phẩm trọn vẹn, đầy đủ nhất về mặt thể hệ trong các trứ tác của ngài. Nội dung ngài muốn trình bày quan điểm dùng tư duy Thiền quán để thể nghiệm Chỉ quán viên đốn, là cảnh giới tông giáo sâu xa kín nhiệm, vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường. Ngài chia pháo cụ thể thực tiễn của ngài làm hai phần: Tổng luận và Biệt luận. Tổng luận năm đoạn: Phát đại tâm, Tu đạo hành, Cảm đại quả, Liệt đại võng và Quy đại xứ; Biệt luận mười chương: Đại ý, Thích danh, Thể tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và Chỉ quy.
- No 1912 Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết 40 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Đường. Đây là sách chú thích bộ Ma Ha Chỉ Quán, cũng là tác phẩm có uy tín nhất trong việc nghiên cứu bộ Ma Ha Chỉ Quán, dẫn dụng rất nhiều sách khác.
- No 1913 Chỉ Quán Nghĩa Lệ 2 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Đường, còn gọi là Ma Ha Chỉ Quán Nghĩa Lệ, Viên Đốn Nghĩa Lệ. Sách này nêu ra 7 ước lệ để tóm tắt ý chỉ trọng yếu của bộ Ma Ha Chỉ Quán. Đó là: Sở truyền bộ biệt lệ,Sở y chánh giáo lệ, Văn nghĩa tiêu thích lệ, Đại chương tổng biệt lệ, Giải hành tương tư lệ, Tâm cảnh thích nghi lệ, Dụ nghi hiển chính lệ.
- No 1914 Chỉ Quán Đại Ý 1 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Đường. Sách này thuật rõ các điểm then chốt của bộ Ma Ha Chỉ Quán.
- No 1915 Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu 1 quyển do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Nội dung gồm 10 chương: Cụ duyên, Ha dục, Khí cái, Điều hòa, Phương tiện, Chánh tu, Thiện pháp, Giác ma, Trị bệnh và Chứng quả. Đây là bộ sách then chốt của Chỉ Quán, là chìa khoác để mở cửa vào đạo. Xưa nay rất là coi trọng, xem đó là bộ sách căn bản của người tu học.
- No 1916 Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn 12 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Nội dung nói rõ về Tiệm thứ chỉ quán trong ba loại chỉ quán, chia làm 10 chương: Tu Thiền Ba La Mật đại ý, Thích Thiền Ba La Mật danh, Minh Thuyền Ba La Mật môn, Biện Thiền Ba La Mật thuyên thứ, Giải Thiền Ba La Mật pháp tâm, Phân biệt Thiền Ba La Mật tu chứng, Hiển thị Thiền Ba La Mật quả báo, Tòng Thiền Ba La Mật quả báo, Kết hội Thiền Ba La Mật quy thú.
- No 1917 Lục Diệu Pháp Môn 1 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Nội dung nói về 6 pháp thiền quán: Số tức môn, Tùy tức môn, Chỉ môn, Quán môn, Hoàn môn, Tịnh môn. Trong đây 3 môn đầu thuộc định, 3 môn sau thuộc tuệ.
- No 1918 Tứ Niệm Xứ 4 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Sách trình bày 4 phương pháp tập trung tâm niệm ở một chỗ, ngăn chặn những vọng niệm lăng xăng sinh khởi để đạt chân lý, dùng tự tướng và cộng tướng theo thứ tự quán xét, soi rọi bốn thứ là Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ, Pháp niệm xứ
- No 1919 Thiên Thai Trí Giả Đại sư Thiền môn Khẩu Quyết 1 quyển do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy
- No 1920 Quán Tâm Luận Diệc Danh Tiễn Nhũ Luận 1 quyển do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy
- No 1921 Quán Tâm Luận Sớ 5 quyển do ngài Quán Đảnh soạn thuật vào đời Tùy. Đây là sách chú thích bộ luận Quán Tâm của Đại sư Trí Khải (No 1920)
- No 1922 Thích Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Giác Ý Tam Muội 1 quyển do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy
- No 1923 Chư Pháp Vô Tránh Tam Muội Pháp Môn 2 quyển do ngài Tuệ Tư soạn thuật vào đời Trần. Nội dung nói về thiền quán của tong Thiên Thai, cho rằng, muốn học hết thảy Phật pháp, trước hết phải giữ tịnh giới, siêng tu thiền định, sẽ được vô lượng công đức.
- No 1924 Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn 4 quyển, do ngài Tuệ Tư thuyết vào đời Trần. Nội dung sách này lấy tư tưởng Như Lai tạng duyên khởi làm nền tảng, lấy bản thức chân vọng hòa hợp trong tâm ý thức làm nòng cốt để giảng rõ về pháp Chỉ quán và Đại thừa. Ngoài ra cũng bàn về thuyết hai tính Nhiễm và Tịnh, bởi vì thuyết Như Lai tạng duyên khởi và hai tính nhiễm tịnh rất liên quan mật thiết với nhau.
- No 1925 Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn 6 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy.
- No 1926 Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa 1 quyển, do ngài Tuệ Tư thuyết vào đời Trần. Sách này y cứ vào hạnh Tam muội được chỉ bày trong phẩm An Lạc Hạnh của Kinh Pháp Hoa mà nói rõ việc thực hành Pháp Hoa Tam muội gồm có hai loại: Hữu tướng hạnh và Vô tướng hạnh.
- No 1927 Thập Bất Nhị Môn 1 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Đường. Đây là sách chú thích Bản tích Thập diệu trong bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ngài Trí Khải. Nội dug chia làm 10 pháp môn có quan hệ đối nhau là Sắc tâm, Nội ngoại, Tu tính, Nhân quả, Nhiễm tịnh, Y chính, Tự tha, Tam nghiệp, Quyền thực và Thọ nhuận.
- No 1928 Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao 2 quyển, do ngài Trí Lễ soạn thuật vào đời Tống. Đây là tác phẩm quan trọng chú giải  Thập bất nhị môn của ngài Trạm Nhiên được coi là giáo nghĩa chính thống của tông Thiên Thai đời sau.
- No 1929 Tứ Giáo Nghĩa 12 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Nội dung lần lượt giải thích rõ về danh nghĩa và giáo lý của Tứ giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên, đồng thời giải thích về sự dị đồng của Tứ giáo theo nhiều quan điểm. Cũng tức là y cứ vào Tứ giáo để trình bày một cách đại cương về sự giáo hóa một đời của đức Phật.
- No 1930 Thiên Thai Bát Giáo Đại Ý 1 quyển, do ngài Quán Đảnh soạn thuật vào đời Tùy. Nội dung trình bày đại cương về 8 giáo trong giáo pháp của tông Thiên Thai
- No 1931 Thiên Thai Tứ Giáo Nghi 1 quyển, do ngài Đế Quản nước Cao Ly soạn.
- No 1932 Kim Cương bài 1 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Tùy.
- No 1933 Nam Nhạc Tư Đaih Thiền Sư Lập Thệ Nguyện Văn 1 quyển, do ngài Tuệ Tư soạn thuật vào đời Trần, Nội dung nói về việc pháp tâm Bồ đề trong quá trình cầu đạo của ngài Tuệ Tư phỏng theo văn thệ nguyện của phật A di đà khi còn ở giai vị tu nhân.
- No 1934 Quốc Thanh Bách Lục 4 quyển, do ngài Quán Đảnh soạn thuật vào đời Tùy. Sách này ngài Quán Đảnh tiếp nối ngài Trí Tịch, biên tập tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của Đại sư Trí Khải.
- No 1935 Pháp Trí Di Biên Quán Tâm Nhị Bách Vấn 1 quyển, do ngà Kế Trung soạn tập vào đời Tống.
- No 1936 Tứ Minh Thập Nghĩa Thư 2 quyển, do ngài Tri Lễ soạn vào đời Tống.
- No 1937 Tứ Minh Tôn Giả Giáo Hạnh Lục 7 quyển, do ngài Tông Hiếu biên soạn vào đời Tống.
- No 1938 Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Ký 1 quyển, do ngài Hoài Tắc soạn thuật vào đời Nguyên. Nội dung thuyết minh về pháp Phật tâm ấn “ Tính cụ tính ác” do ngài tông Thiên Thai truyền, đồng thời bài bác các nghĩa: “ Giáo ngoại biệt truyền, kiến tánh thành Phật” của Thiền tông.
- No 1939 Giáo Quán Cương Tông 1 quyển, do ngài Trí Húc soạn thuật vào đời Minh. Nội dung trình bày khái quát về tứ giáo hóa pháp và Thập thừa quán trong giáo nghĩa then chốt của tông Thiên Thai.
- No 1940 Phương Đẳng Tam Muội Hành Pháp 1 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Nội dung tác phẩm này nói về việc tu hành Tam muội Phương đẳng, gồm có 6 phần: Đầy đủ 6 duyên, Biết rõ những chướng ngại, Nói về pháp cấm, Nói về yếu quyết của nội luật, Nói về sự tu hành, Nói về việc thọ giới.
- No 1941 Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy. Nội dung, ngài Trí Khải kế thừa tinh thần Tam muội Pháp Hoa của ngài Tuệ Tư, rút lấy những nghĩa lý tinh úy trong các kinh điển Đại thừa như kinh Pháp Hoa, kinh Quán Phổ Hiền... mà soạn thành nghi thức phương tiện tu hành Tam muội Pháp Hoa.
- No 1942 Pháp Hoa Tam Muội Hành Sự Liên Tưởng Bổ Trợ Nghi 1 quyển, do ngài Trạm Nhiên soạn vào đời Đường.
- No 1943 Lược Pháp Hoa Tam Muội Bổ Trợ Nghi 1 quyển.
- No 1944 Lễ Pháp Hoa Kinh Nghi Thức 1 quyển
- No 1945 Kim Quang Minh Sám Pháp Bổ Trợ Nghi 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn tập vào đời Tống. Nội dung nói rõ nghi thức sám hối theo Kim Quang Minh, gồm 10 khoa: Trang nghiêm đạo tràng, thanh tịnh 3 nghiệp, cúng dường hương hoa, trì chú triệu thỉnh, tỏ ý tán thán, kính lễ Tam bảo, tu hành ngũ hối, đi nhiễu và tự quy, đọc tụng kinh Kim Quang Minh v.vv...
- No 1946 Kim Quang Minh Tối Thắng Sám Nghi 1 quyển, do ngài Tri Lễ soạn tập vào đời Tống
- No 1947 Thích Ca Như Lai Niết Bàn Lễ Tán Văn 1 quyển, do ngài Nhân Khâu soạn vào đời Tống.
- No 1948 Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trai Kỵ Lễ Tán Văn 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn thuật vào đời Tống.
- No 1949 Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Tam Muội Nghi 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn tập vào đời Tống.
- No 1950 Thiên Thủ Nhãn Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp 1 quyển, do ngài Trí Lễ soạn tập vào đời Tống.
- No 1951 Xí Thịnh Quang Đạo Tràng Niệm Tụng Nghi 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn tập vào đời Tống. Nội dung sách này dựa theo kinh Tiêu tai cát tường mà nói về đàn tràng và cách niệm tụng pháp Xí thịnh Quang Phật đảnh.
- No 1952 Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Luân Chú Khóa Pháp 1 quyển.
- No 1953 Bồ Đề Tâm Nghĩa 1 quyển.
- No 1954 Minh Phật Pháp Căn Bản Bi 1 quyển, do ngài Trí Tuệ Luân soạn thuật vào đời Đường.
- No 1955 Hiền Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập 2 quyển, do ngài Đạo Chân soạn tập vào đời Liêu.
- No 1956 Mật Chú Viên Nhân Vãng Sanh Tập 1 quyển, do ngài Tri Quang... soạn tập vào đời Hạ. Sách này thu tập 33 bài mật chú linh nghiệm trong các bộ kinh do ngài Kim quang chàng dịch, trong đó phần nhiều được coi là có công năng khiến người trì tụng được vãng sinh thành Phật.
Trên đây, là sơ lược nội dung toàn tập 46
 
             MỤC LỤC
(BỘ CHƯ TÔNG 7- TẬP 167)

SỐ 1911- MA HA CHỈ QUÁN........................................... 3
QUYỂN 1:- PHẦN ĐẦU..................................................... 3
                    PHẦN CUỐI..................................................... 20
QUYỂN 2:- PHẦN ĐẦU..................................................... 34
PHẦN CUỐI......................................................................... 49
QUYỂN 3:- PHẦN ĐẦU..................................................... 64
PHẦN CUỐI......................................................................... 85
QUYỂN 4:- PHẦN ĐẦU..................................................... 106
PHẦN CUỐI......................................................................... 126
QUYỂN 5:- PHẦN ĐẦU..................................................... 145
PHẦN CUỐI......................................................................... 177
QUYỂN 6:- PHẦN ĐẦU..................................................... 207
PHẦN CUỐI......................................................................... 231
QUYỂN 7:- PHẦN ĐẦU..................................................... 252
PHẦN CUỐI......................................................................... 274
QUYỂN 8:- PHẦN ĐẦU..................................................... 297
PHẦN CUỐI......................................................................... 320
QUYỂN 9:- PHẦN ĐẦU..................................................... 341
PHẦN CUỐI......................................................................... 361
QUYỂN 10:- PHẦN ĐẦU................................................... 381
PHẦN CUỐI......................................................................... 393

SỐ 1912- CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG
 QUYẾT................................................................................ 409
QUYỂN 1:  - PHẦN 1.......................................................... 409
- PHẦN 2............................................................................... 432
- PHẦN 3............................................................................... 459
- PHẦN 4............................................................................... 474
- PHẦN 5............................................................................... 494
QUYỂN 2:  - PHẦN 1.......................................................... 514
- PHẦN 2............................................................................... 533
- PHẦN 3............................................................................... 555
- PHẦN 4............................................................................... 571
- PHẦN 5............................................................................... 589
QUYỂN 3:  - PHẦN 1.......................................................... 607
- PHẦN 2............................................................................... 628
- PHẦN 3............................................................................... 648
- PHẦN 4............................................................................... 672
/57
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »