Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 142, Bộ Kinh Sớ XXVIII, Số 1798- 1803

Đại Tập 142, Bộ Kinh Sớ XXVIII, Số 1798- 1803

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 778.

Chương 31: Số 1803- Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh Giáo Tích Nghĩa Ký, Lời Tựa Khắc Bản (Trang 679 - 681)

ĐẠI THỪA CHỈ QUÁN PHÁP MÔN
                
               QUYỂN 4
 
Môn chỉ quán trong tánh y tha, nghĩa là nhân chỉ môn ở trước, trong đó biết được tịnh đức của chư Phật chỉ do tâm tạo ra, là tướng luống dối, tạm bợ, vì đều là tướng luống dối duyên khởi, nên được tịnh dụng viên hiển, hiển bày nhân huân nhiều kiếp, tức là đối duyên mà nhiếp hóa. Cho nên được (thắm nhuần cỏ non), biểu khởi năng lực chiêu cảm vô biên. Đây là tịnh tâm duyên khởi vắng lặng mà thường dụng? Hiểu thế rồi gọi là quán môn, nương quán môn này mà làm phương tiện nên biết được tịnh tâm khởi Đức tự lợi lợi tha, có tức chẳng thật có, dụng mà thường tịch. Hiểu như thế gọi là chỉ môn, chỉ và quán này phải song hành hoặc thực hành trước sau cũng được.
Kế nói môn Chỉ quán trong tánh chân thật, nghĩa là nhân chỉ hạnh trước liền biết tịnh đức của chư Phật chỉ là một tâm, tức gọi là quán, lại biết tịnh tâm của chư Phật là tịnh tâm của chúng sinh, tịnh tâm của chúng sinh là tịnh tâm của chư Phật, chẳng phải hai, chẳng phải khác. Vì không khác, tức chẳng ngoài tâm mà tìm tâm Phật nên phân biệt tự mất. Vọng tâm đã hết, lại biết tâm ta và tâm Phật xưa nay như một, nên gọi là Chỉ. Đây gọi là môn chỉ quán trong tánh chân thật. Ở trên đã nói ba tánh thanh tịnh, trong tánh thứ nhất là từ quán vào chỉ, lại từ hạnh chỉ này mà vào quán của tánh thứ hai. Lại từ quán này vào chỉ, rồi từ chỉ này vào quán của tánh thứ ba. Lại từ quán vào chỉ nên được tâm ta và tâm Phật bình đẳng như một, tức là một khi vào tu liền đầy đủ. Lại dùng đại Bi phương tiện phát tâm đến nay mà huân tập tâm, nên liền ở trong định mà khởi dụng hưng thịnh, không việc nào chẳng làm, không tướng nào chẳng hiện, pháp giới đại dụng vô chướng vô ngại, tức gọi là xuất tu. Khi dụng thì tịch, khi tịch thì dụng, tức hai thứ cùng hiện, cho đến ngay đây phàm phu cũng được thực hành tịch dụng song tu như thế. Nghĩa này thế nào? Nghĩa là biết tất cả pháp co tức chẳng thật có; tức là khi dụng thường tịch, chẳng thật có mà có, đều dường pháp tức gọi là khi tịch thường dụng. Cho nên sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt
không. Hỏi: Đã nói tâm Phật và tâm chúng sinh chẳng phải hai, chẳng phải khác, vì sao lại nói chúng sinh và Phật hai tên khác nhau? Đáp: Tâm thể là đồng, lại có tánh riêng vô chướng ngại. Vì có tánh riêng mà bị ngã chấp huân tập từ vô thỉ đến nay. Vì có năng lực huân riêng, nên tâm tánh nương huân, mà hiện có tướng riêng, y cứ tướng ngã chấp nên nói Phật và chúng sinh có hai tên khác nhau. Hỏi: chư Phật đã lìa chấp ngã, vì sao có chư Phật mười phương ba đời khác nhau? Đáp: Nếu khi lìa chấp ngã mà mười phương được tâm thể bình đẳng thì thật không có mười phương ba đời khác nhau. Chỉ vốn ở nhân địa khi chưa lìa chấp, đều có phát nguyện riêng, đều tu tịnh độ, đều giáo hóa chúng sinh, các nghiệp khác nhau như thế chẳng đồng huân ở tịnh tâm. Tâm tánh nương sức huân riêng nên hiện chư Phật mười phương ba đời này, hai báo y chánh đều khác nhau, chẳng phải là chân như có tướng khác nhau này. Vì nghĩa đó nên tất chư Phật thườg đồng khác, xưa nay pháp nhĩ như thế. Cho nên kinh nói: Pháp Văn-thù thường như thế, Pháp vương chỉ có một pháp, tất cả người không ngại, một đường thoát sinh tử, tất cả thân chư Phật, chỉ là một Pháp thân. Đây tức là đồng khác đều nói. Nếu một bề chỉ đồng mà không khác, vì sao kinh nói: Tất cả thân chư Phật, tất cả người không ngại. Nếu một bề chỉ khác mà không đồng, vì sao kinh nói: Chỉ là một Pháp thân, một đường thoát sinh tử. Vì nghĩa đó, nên chân tâm tuy bình đẳng mà có tánh khác nhau. Nếu hiểu tánh gương sáng một chất tức có tánh các hình ảnh, thì chẳng mê pháp giới pháp môn. Hỏi: Vì chân tâm có tánh khác nhau nên chư Phật và chúng sinh đều khác nhau chẳng đồng, vì thể chân tâm không hai nên tất cả phàm Thánh chỉ là một Pháp thân. Cũng phải có tánh khác mà người khác tu còn ta chẳng tu vì thể là một nên người khác tu mà ta được đạo. Đáp rằng: Vì có nghĩa riêng nên người khác tu không phải ta tu, vì thể là một cho nên tu và chẳng tu đều bình đẳng. Tuy nhiên nêu hiểu thể này ng- hĩa đồng thì người khác tu đức cũng có công năng lợi ích cho mình. Cho nên kinh chép: nếu Bồ-tát biết tất cả công đức của chư Phật tức là công đức của mình. Ấy là pháp đặc biệt. Lại kinh chép: Cùng tất cả Bồ-tát đồng một kho gốc lành, cho nên người tu phải biết chư Phật, Bồ-tát, Nhị thừa, bậc Thánh, phàm phu, trời người làm các công đức thì đều là công đức của mình, cho nên đều phải tùy hỷ. Hỏi rằng: Nếu thế, tất cả phàm phu đều phải tự nhiên được đạo? Đáp: Nếu chân tâm này chỉ có nghĩa đồng, có thể chẳng tu hành, nhờ người khác mà được đạo. Lại tức cũng không có mình người thân tướng khác nhau, có chân như lại có nghĩa tánh khác, cho nên có mình người khác nhau, đâu cần một bề nhờ người
khác mà tìm đạo. Chỉ có thể tự tu công đức, lại biết chỗ tu của người khác tức là đức của mình đắp đổi nhau giúp thành, bèn có thể nhanh chóng được đạo, đâu được hoàn toàn nhờ cậy người khác. Lại phải biết nếu chỉ tự tu chẳng biết chỗ tu của người, tức là mình có mà chẳng được ích cho người, tức như kẻ cùng tử chẳng biết cha là cha mình, tiền của là của mình cho nên hơn hai mươi năm chịu nghèo khổ, ngủ ở nhà tranh, là ý nghĩa đó. Cho nên nhờ nhân, nhờ duyên mà mau được xong. Nếu chỉ cầu riêng, chẳng nhờ người khác thì chỉ có giá dọn trừ phân dơ mà thôi. Hỏi rằng: ở trên nói tịnh đức của chư Phật là có mấy thứ? Đáp: Lược nói có hai thứ: Một là tự lợi, hai là lợi tha. Tự lợi lại có ba: Một là Pháp thân; hai là báo thân; ba là Tịnh độ. Trong lợi tha có hai: Một là thuận hóa; hai là nghịch hóa. Trong thuận hóa lại có hai: Một là ứng thân và ma-nậu-ma hóa thân; hai là tịnh độ và cõi tạp nhiễm. Đây là tịnh đức của chư Phật. Hỏi: Đức lợi tha, là đối duyên đặt bày quyền hiện phương tiện khéo léo có thể nói là không thật, chỉ là tướng luống dối, có tức chẳng thật có. Đức tự lợi tức là hai thân pháp, báo, viên giác đại trí hiển lý mà thành thường lạc ngã tịnh, sao nói là có tức chẳng thật có? Đáp rằng: Đức tự lỡi thật là thường lạc ngã tịnh chẳng đổi chẳng dời, chính vì hiển lý mà thành, nên được như thế. Lại chính vì hiển lý mà thành tức là dụng duyên khởi của tâm tánh song dụng không có dụng khác, dụng toàn là tâm, tâm không có tâm khác, tâm toàn là dụng. Cho nên vì thể là thể của dụng nên có tức chẳng thật có, chỉ là một tâm chẳng bỏ thường dụng. Vì dụng là dụng của thể, nên chẳng phải có tức có, lừng lẫy pháp giới mà chẳng ngại thường tịch. Tịch tức là Dụng nên gọi quán môn, dụng tức là Tịch, nên gọi là chỉ hạnh. Đây tức là một thể song hành. Chỉ vì khiến người học mất Tướng và Tịch, do đó trước sau riêng nói chỉ quán khác nhau, chẳng phải nói đức của Phật có đổi dời. Lại sắc tức là không nên gọi là Chỉ, không chẳng phải diệt sắc nên gọi là Quán. Thế pháp còn như thế, há là đức của Phật mà chẳng thường dụng thường tịch ư? Hỏi: Đức của Phật có tức chẳng thật có, chẳng ngại (thường trụ), chúng sinh cũng có tức chẳng thật có, nên chẳng ngại chẳng diệt. Đáp: Đức của Phật tức lý hiển, vì thành thuận dụng do đó phài (thường trụ). Chúng sinh tức lý ẩn, vì thành trái dụng cho nên sinh diệt. Đức thường trụ tuy có nhưng chẳng thật có, lại chẳng thật có mà có. Cho nên chẳng ngại sinh diệt. Đây là y cứ ba tánh thanh tịnh mà nói thể trạng chỉ quán đã xong.
Kế là nói chỉ quán trừ chướng được ích. Lại có ba: Một là y cứ tánh phân biệt để nói trừ chướng được lợi ích; hai là y cứ y tha tánh nói trừ được lợi ích; ba là y cứ tánh chân thật nói trừ chướng được lợi ích.
Một là trong tánh phân biệt nói trừ chướng được ích, nghĩa là tâm hiểu được cảnh luống dối mà chấp thật là vô minh vọng tưởng, tức là quán hạnh thành. Vì quán thành nên trừ được vô minh vọng tưởng trong mê vọng. Thế nào là mê vọng trong mê vọng? Nghĩa là chẳng biết mê vọng là mê vọng tức là mê, vì mê này nên chấp là chẳng phải mê, lại là vọng tưởng, đây là một lớp mê vọng, vì chồng lên một lớp trước mà khởi, nên gọi mê vọng trên mê vọng. Cho nên người tu chưa trừ được tâm chẳng hiểu cảnh luống dối mà chấp thật, chỉ biết được tâm này là si vọng, tức là trừ mê vọng trên si vọng. Đó là trừ chướng, vì trừ chướng cho nên rất tiến tu chỉ hạnh, là được lợi ích. Lại mê vọng trên mê vọng này lại dùng dụ mà hiển. Như người mê Đông là Tây, tức là vọng chấp. Đây là một lớp mê vọng. Người khác bảo ông mê vọng gọi Đông là Tây. Người này lại nghĩ rằng: Chỗ thấy của tôi chẳng phải mê vọng. Vì chẳng biết nên chấp chẳng phải mê thì đó lại là vọng tưởng. Đây tức là mê vọng trên một lớp mê vọng khác. Người này có lỗi gì? Nghĩa là có lỗi (bỏ nhà đi hoang). Nếu người này tuy chưa tỉnh ngộ chỉ dùng lời người khác nói tin biết tâm mình là mê vọng, tức trên mê vọng không có mê vọng. Người này được lợi ích gì? Nghĩa là tuy là mê vọng chưa tỉnh mà được có lợi ích về nhà. Tuy chứng biết các pháp là luống dối, nhưng chỉ biết được cảnh luống dối là vô minh, chấp thật là vọng tưởng tức thường chẳng tin chỗ chấp của mình. Rất tiến tu chỉ hạnh, dần đến Niết-bàn. Nếu chẳng biết điều này thì phải trôi giạt biển khổ, thêm lớn ba độc, bỏ mất nhà Niết-bàn vắng lặng. Đây là nói nghĩa trong tánh phân biệt quán hạnh dứt được. Nói về trong tánh phân biệt chỉ hạnh trừ chướng được lợi ích. Nghĩa là nương vào quán hạnh ấy làm phương tiện, nên biết được các pháp xưa nay không thật. Thật chấp chỉ cho nên trừ được quả thời mê sự vô minh và vọng tưởng. Lại tham sân dần yếu mỏng, tuy có tội cấu mà chẳng bị nghiệp buộc. Nếu chịu khổ đau mà hiểu khổ là không khổ thì đó là trừ chướng. Lại y theo chỉ này tức là thành tựu được quán hạnh trong tánh y tha, cho nên trí dung vô trần tùy mà thực hành, nên tức là được lợi ích. Đây là nói chỉ hạnh trừ chướng được lợi ích trong tánh phân biệt. Kế là nói chỉ quán dứt được trong tánh y tha. Trước nói quán môn, quán môn này chẳng khác với chỉ môn trong tánh phân biệt, mà thiếu có nghĩa riêng, đây là sao? Nghĩa là chỉ môn trong ấy phải duyên với tất cả pháp là luống dối nên dứt (trừ) được vô minh. Vô minh diệt rồi nên vọng tâm chấp thật liền dứt. Nhưng dứt bỏ được duyên luống dối này tức là quán môn trong tánh y tha này không còn có pháp khác. Cho nên nếu chỉ ấy thành thì quán này cũng thuần thục. Chỉ do duyên
luống dối ấy nên diệt được thật chấp, gọi đó là chỉ. Đây tức là do biết không thật liền hiểu các pháp là luống dối. Nhân duyên tập khởi đều là tướng của tâm, nên gọi là Quán. Đó là vì diệt thật phá chấp làm tông. Đây là vì lập duyên khởi luống dối làm chỉ, cho nên có khác. Vì nghĩa ấy, nên trừ chướng nghĩa đồng mà được lợi ích nghĩa hơi khác. Khác là sao? Nghĩa là y theo quán này phương tiện tiến tu thâm nhập vào chỉ môn của tánh y tha. Lại chia thành v.v… các Tam-muội, như như huyễn hóa cho nên nói được lợi ích. Đây là quán hạnh dứt được trong tánh y tha. Nói chỉ môn trừ chướng được lợi ích trong tánh y tha, nghĩa là nương vào quán hạnh trước làm phương tiện, nên biết tất cả tướng luống dối chỉ là một tâm làm thể. Cho nên tướng luống dối có tức chẳng thật có. Như đây mà hiểu cho nên diệt được chấp tướng luống dối, nên gọi là Chỉ. Vì chỉ này nên trừ được quả thời mê lý vô minh và tướng luống dối. Lại vô minh trụ địa dần dần yếu mỏng gọi là trừ chướng, lại được thành tựu các Tam-muội như như huyễn hóa v.v…. Lại vô sinh trí dụng hiện tiền. Lại thành tựu quán hạnh trong tánh chân thật, gọi là được lợi ích. Hỏi rằng: Trong quán môn cũng thành tựu các Tam-muội như như huyễn hóa v.v….. Trong chỉ môn này cũng thành tựu các Tam-muội như như huyễn hóa v.v…., có gì khác. Đáp: Trong quán thì phần được, trong đây thì thành tựu. Lại trong quán biết pháp duyên khởi như huyễn hóa. Trong đây biết pháp duyên khởi tức vắng lặng cũng như huyễn hóa, nên có khác. Đây là nói chỉ hạnh trừ chướng được lợi ích trong tánh y tha.
Kế là nói chỉ quán trừ chướng được lợi ích trong tánh chân thật. Trước nói quán môn, quán môn này trước không khác chỉ môn trong tánh y tha, mà thiếu có nghĩa khác, đây là sao? Nghĩa là chỉ môn ấy phải duyên tất cả pháp chỉ tâm làm ra, nên có tức chẳng thật có, thể là một tâm. Cho nên diệt được chấp tướng luống dối. Nhưng ở đây biết các pháp chỉ là thể một tâm. Tức quán môn trong đây không mà có pháp khác. Ấy vì chỉ ấy nếu thành thì quán này liền chẳng lìa nhau. Nhưng đó tuy duyên một tâm chỉ vì diệt tướng làm tông, còn ở đây tuy biết tướng luống dối không thật có. Chỉ vì lập tâm làm chỉ cho nên có khác. Thế nên trừ chướng nghĩa đồng được ích hơi khác. Nghĩa khác là sao, nghĩa là y theo quán này làm phương tiện nên tiến thắng vào chỉ môn. Hỏi: Chỉ do tâm làm và chỉ là một tâm, là một hay khác? Đáp: Chỉ do tâm làm, nghĩa là y tâm mà khởi các pháp không thật có mà có, tức là từ thể khởi tướng chứng. Chỉ là một tâm, nghĩa là biết thể tướng khởi lên ấy có tức chẳng thật có, thể là một tâm, tức là diệt tướng vào thật chứng. Đây là nói quán hạnh dứt được trong tánh chân thật. Nói về chỉ hạnh
trừ chướng được lợi ích nghĩa là y theo quán hạnh trước làm phương tiện, cho nên biết thể một tâm ấy chẳng thể phân biệt, từ xưa đến nay thường tự vắng lặng. Hiểu đây rồi thì niệm động liền diệt, tức gọi là chỉ. Vì chỉ hạnh này diệt được vô minh trụ địa và tập khí vọng tưởng, tức gọi là trừ chướng. Đại giác hiện tiền đầy đủ năng lực Phật, gọi là được lợi ích. Đây là nói chỉ hạnh trừ chướng được lợi ích trong tánh chân thật. Hỏi: Khi trừ chướng, là đối địch mà trừ hay trí giải huân trừ? Đáp: Chẳng được đối địch trừ nhau. Vì sao? Vì khi hoặc ở tâm thì chưa hiểu, nếu khi hiểu thì hoặc trước đã hết, trước sau chẳng thấy nhau, cho nên chẳng được đối địch trừ nhau. Như thế tuy do một niệm hiểu tâm khởi, cho nên hoặc dụng chẳng khởi. Nhưng trong bản thức ấy hoặc nhiễm hạt giống vẫn chưa diệt, cho nên khi hiểu tâm một niệm diệt thì lại khởi hoặc dụng. Như thế khi giải hoặc niệm niệm thay nhau hưng khởi thì hiểu dụng dần dần huân tâm tăng thêm lợi ích năng lực của tánh hiểu để thành hạt giống của hiểu dụng, tức hiểu dụng ấy khi huân thành hạt giống, tức hoặc nhiễm hạt giống từng phần giảm bớt, giống như lấy hương xông áo hôi thì hơi thơm dần dần thấm áo mà hơi hôi từng phần dứt mất. Hoặc chủng cũng thế giải chủng phần nào thành thì hoặc chủng phần ấy mất vì hoặc chủng mất từng phần nên hoặc dụng dần yếu, giải chủng từng phần tăng, nên giải dụng càng mạnh, như thế là trừ. Không phải như Tiểu thừa nói đối địch mà trừ, chỉ có nghĩa có nói không, nhưng Tiểu thừa kia cũng lại thuân trừ mà chẳng biết lý này. Hỏi: Khi giải huân tâm là thấy tịnh tâm cho nên được huân tâm hay có nguyên do được huân tâm? Đáp: Tất cả dụng của giải hoặc đều nương vào tâm mà khởi. Vì nghĩa đó nên dụng của giải. Hoặc đều chẳng lìa tâm, cho nên khi khởi dụng thì liền huân tâm mà không có nguyên do, giống như dụng của sóng chẳng lìa nước, nên khi sóng động thì động thể nước. Ấy là vì động sóng trước là động nước, cho nên lại khởi sóng sau. huân của giải hoặc cũng lại như thế, giống như đây có thể hiểu. Hỏi: Ba tánh chỉ quán này là có địa vị hay không có địa vị? Đáp: Bất định, nếu nói theo tướng: Mười Giải thì chỉ hạnh thành trong tánh phân biệt. Mười Hồi Hướng thì chỉ hạnh thành trong tánh y tha. Quả Phật đầy đủ thì chỉ hạnh thành trong tánh chân thật. Nếu một giải địa thì chỉ hạnh thành trong tánh phân biệt. Địa thượng thì chỉ hạnh thành trong tánh y tha. Lại Địa Tiền tùy phần đủ ba tánh chỉ hạnh, Địa Thượng cũng đủ ba tánh chỉ hạnh. Phật địa thì ba tánh chỉ hạnh rốt ráo đầy đủ. Lại từng vị từng hạnh đều làm ba chỉ. Tức khi phàm phu mới phát tâm cũng làm đủ ba tánh chỉ hạnh. Chỉ nói vị có khác, còn nương gá pháp thì không khác.
Lại nói chung ba tánh chỉ quán trừ chướng được lợi ích, nghĩa là ba tánh chỉ hạnh thành, cho nên lìa hạnh phàm phu, ba tánh quán hạnh thành nên lìa hạnh Thanh văn. Đây gọi là trừ chướng, ba tánh chỉ hạnh thành cho nên được vui vắng lặng làm tự lợi. Ba tánh quán hạnh thành duyên khởi tác dụng làm lợi tha, đó là được lợi ích. Ở đây nói về chỉ quán dứt được thứ tư đã xong.
Kế nói về tác dụng của chỉ quán. Nghĩa là chỉ hạnh thành cho nên thể chứng tịnh tâm, lý dung tánh không hai, cùng các chúng sinh trộn đồng thân một tướng. Tam bảo do đó hòa thành một, không ba, hai đế từ đây hòa hợp chẳng hai. Gọi là ngưng trạm, vực sâu lặng ngắt, lắng trong yên vắng. Dùng tướng vô dụng mà động tướng vô động. Vì tất cả pháp xưa nay bình đẳng, nên tâm tánh pháp như thế. Đây là thể pháp tánh sâu xa, nghĩa là quán hạnh thành cho nên tịnh tâm thể hiển, dụng pháp giới vô ngại tự nhiên sinh ra. Tất cả nhiễm tịnh đều hưng khởi, đại cúng cụ (đồ cúng dường) đầy khắp vô biên cõi. Hiến dâng Tam bảo, thí khắp bốn loài. Bèn hút gió chứa lửa, phát sáng động đất, dẫn ngắn nắm dài, họp nhiều lìa một, hình lạ sáu đường, phát tiếng mười phương, năm thông thị hiện, hiển hóa năm luân. Cho đến trên sinh đỉnh cõi Sắc, dưới ở trời Đâu-suất, mượn hình bóng ở môn trí huyễn, thông lịnh ở đạo phương tiện. Chỉ hai tay để biểu thị độc tôn, đi bảy bước mà bày cao tột. Đài quỳnh yên ngồi, cây báu suy tư. Mắt sáng nhìn thí sáu cung trời, khắp chuyển viên âm cõi nước mười phương. Liên hoa tạng hải, Đế võng bủa giăng, Ta-bà cõi tạp bày khắp như sao. Bèn khiến đồng hình dị kiến, một tiếng khác nghe (nói một thứ tiếng các loài khác đều nghe hiểu), ngoại sắc đều bày, sáng châu cùng chiếu. Cho nên có năm núi luôn sáng, tám cây ngầm chiếu. Ngọc chất thường còn, quyền hình diệt độ. Đây bởi năng lực đại Bi đại nguyện huân tập, cho nên tất cả pháp pháp nhĩ do một tâm làm ra tức là dung sâu xa duyên khởi. Lại chỉ hạnh thành cho nên tâm ấy bình đẳng, chẳng trụ sinh tử. Quán hạnh thành cho nên đức dụng duyên khởi, chẳng nhập Niết-bàn. Lại chỉ hạnh thành nên ở trong sinh tử. Lại chỉ hạnh thành nên chẳng bị thế gian làm ô nhiễm. Quán hạnh thành nên chẳng bị tịch trệ. Lại chỉ hạnh thành, cho nên tức dụng mà thường tịch. Quán hạnh thành, cho nên ngay nơi tịch mà thường dụng. Lại chỉ hạnh thành, nên biết sinh tử là Niết-bàn, quán hạnh thành, nên biết Niết-bàn là sinh tử. Lại chỉ hạnh thành nên biết sinh tử và Niết-bàn cả hai đều chẳng thật có, quán hạnh thành, nên biết trôi lăn tức sinh tử, chẳng chuyển là Niết-bàn. Hỏi: Bồ-tát khi ngay nơi mà hưng dụng, thì trong ba tánh nương vào tánh nào mà được
thành lập? Đáp: Bồ-tát nương vào đạo lý tánh y tha cho nên được ngay nơi tịch mà hưng dụng, gồm lấy các tánh kia giúp thành hóa đạo. Nghĩa này thế nào? Nghĩa là tuy biết các pháp có tức chẳng thật có, mà liền biết chẳng ngại là chẳng thật có mà có, đều là giống pháp hiển hiện. Vì sao? Vì pháp duyên khởi là pháp nhị (pháp như thế). Cho nên Bồ-tát thường ở trong Tam-muội mà khởi tâm thương xót chúng sinh. Nhưng lại y theo quán môn trong tánh phân biệt mà biết tất cả chúng sinh chịu khổ não lớn. Y theo quán môn trong tánh y tha mà từ tâm sinh ra dung nhiếp hóa. Y theo quán môn trong tánh chân thật mà biết tất cả chúng sinh đồng thể với mình. Y theo chỉ môn trong tánh phân biệt mà biết tất cả chúng sinh có khả năng trừ nhiễm được tịnh. Y theo chỉ môn trong tánh y tha mà chẳng thấy tướng năng độ và sở độ. Y theo chỉ môn trong tánh chân thật mà thân mình, thân người xưa nay đều thường trụ trong Đại Bát Niết-bàn. Lại nếu sơ hạnh Bồ-tát muốn có chỗ làm trước phải phát nguyện. Kế vào chỉ môn. Liền từ chỉ mà khởi quán. Sau mới tùy tâm làm thì liền thành. Vì sao trước phải phát nguyện? Tức là nghiêm khắc ở chỗ cầu thỉnh gia thêm thắng lực. Lại vì sao phải vào chỉ, nghĩa là muốn biết các pháp có ngại tùy niệm liền thông. Vì sao phải từ chỉ mà khổi quán, nghĩa là muốn biết các pháp đều do tâm làm ra. Cho nên đối với các pháp có chỗ kiến lập tùy niệm liền thành. Nếu Bồ-tát Cựu Hạnh thì phải hư thế, chỉ khởi tâm muốn làm thì tùy niệm liền thành. Chư Phật, Như Lai lại chẳng như thế, chỉ chẳng duyên mà chiếu, chẳng nghĩ mà biết. Tùy cơ cảm ứng với thấy nghe, chẳng khởi tâm mà sự tự thành. Ví như ngọc ma-ni không có tâm muốn giúp ích thế gian mà tùy cảm trước liền mưa châu báu khác nhau. Như Lai cũng như thế, tùy chỗ ra làm, chẳng khởi tâm ý mà chỗ ích lợi tương ưng. Đây là do ba đại A-tăng-kỳ kiếp huân tập thuần thục, nên được như thế. Lại không có pháp nào khác.
Tâm tánh tự thanh tịnh
Các pháp chỉ một tâm
Tâm này là chúng sinh

Là Bồ-tát, là Phật
Sinh tử cũng tâm ấy

Niết-bàn cũng tâm ấy
Một tâm mà làm hai
Hai lại không tướng hai
Một tâm như biển lớn
Tánh nó luôn một vị
Mà đủ các thứ nghĩa
Là (kho pháp) vô cùng
Cho nên các người tu
Bất cứ lúc nào cũng
Quán sát thân tâm mình
Biết đều do nghiệp nhiễm
Huân tạng tâm nên khởi

Đã biết Như Lai tạng
Nương huân làm thế pháp
Phải hiểu thể chúng sinh

Đều là Như Lai tạng
Lại nghĩ chân tạng tâm
Tùy huân làm thế pháp

Nếu dùng tịnh nghiệp huân
Tạng sẽ thành quả Phật
Ví như thấy rắn vàng
Biết là luyện vàng làm
Liền biết thể của rắn
Toàn là vàng mềm mại,
Lại nghĩ vàng tùy thợ
Làm ra hình sâu rắn

Tức biết rắn thể vàng,
Tùy thợ thành tượng Phật,
Tạng tâm như vàng ròng
Đầy đủ tánh trái thuận

Tùy theo nghiệp nhiễm tịnh
Hiển hiện quả phàm Thánh
Vì bởi nhân duyên ấy
Mau tu nghiệp vô lậu
Huân vào tâm thanh tịnh
Mau thành đức bình đẳng

Thế nên, ngay bây giờ
Chớ (coi thường) thân mình
Cũng chớ xem rẽ người

Cuối cùng đều thành Phật.
Đây là nói tác dụng chỉ quán đã xong, như trên là năm phen nói chung kinh luận đạo lý chỉ quán đã hết.
-Pháp lễ Phật, cũng có hai môn chỉ quán.

-Nói quán môn lễ Phật, là biết tất cả chư Phật ba đời mười phương đều cùng thân ta đồng một tịnh tâm làm thể. Chỉ vì chư Phật tu tập tịnh nghiệp huân tâm, cho nên được thành quả tịnh khác nhau hiển hiện khắp mười phương ba đời. Nhưng mỗi Đức Phật đều có Nhất thiết trí là biển chánh biến tri, là biển đại Từ bi. Trong mỗi niệm đều biết hết pháp tâm, tâm sổ của tất cả chúng sinh, muốn cứu độ hết tất cả chúng sinh. Một Đức Phật đã thế, thì tất cả chư Phật cũng đều như thế. Cho nên nếu khi người tu cúng dường, hoặc khi lễ bái, hoặc khi khen ngợi, hoặc khi sám hối, hoặc khi khuyến thỉnh, hoặc khi tùy hỷ, hoặc khi hồi hướng, hoặc khi phát nguyện, đều luôn nghĩ rằng: Tất cả chư Phật đều biết con cúng dường đều nhận con cúng dường. Cho đến đều biết con phát nguyện con cũng như người mù ở trong đại chúng, thực hành các thừ tuệ thí. Tuy chẳng thấy đại chúng mà biết, mọi người đều thấy việc con làm đều nhận chỗ hiến cúng của con không khác với người mắt sáng. Người tu cũng như thế. Tuy chẳng thấy chư Phật mà biết chư Phật đều thấy chỗ làm và nhận lời con sám hối, nhận chỗ con cúng dường, khi hiểu điều này tức hiện tiền cúng dường cùng thật thấy chư Phật mà cúng dường thì đều bằng nhau không khác. Vì sao? Vì quán thấy tâm Phật, tâm Phật là đại Từ bi. Lại tưởng thành một thân Phật tướng tốt trang nghiêm cho đến tưởng thành vô lượng thân chư Phật, trước mỗi Đức Phật đều thấy có thân mình cúng dường lễ bái, thì cũng là hiện tiền cúng dường. Vì sao? Vì tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Hỏi: Một phen cúng dường thật có đạo lý, có thể không khác với hiện tiền cúng dường, còn một phen tưởng thân Phật sau thì không có đạo lý. Vì sao? Vì thật chẳng thấy thân Phật mà giả tưởng là thấy, tức là tướng vọng tưởng. Đáp: Khi Phật còn tại thế, có chúng sinh nào hiện tiền thấy Phật thì cũng tự tâm chúng sinh ấy làm ra, cho nên kinh nói tâm tạo các Như Lai. Vì nghĩa đó, tức khi tâm tưởng làm Phật thì cùng người ấy hiện tiền thấy Phật là một. Lại hơn người Nhị thừa hiện tiền thấy Phật. Vì sao? Vì Phật của Nhị thừa thấy là từ tâm do vô minh làm ra nên vọng tưởng thấy cong vạy, nghĩa là từ ngoài đến không phải là tâm làm, tức là điên đảo, không gọi là tâm tánh duyên khởi. Cho nên kinh nói Thanh văn thấy cong vạy (khúc kiến). Lại kinh nói người ấy làm hạnh tà, chẳng thể thấy Như Lai. Nói Như Lai, tức là chân như tịnh tâm y huân duyên khởi mà quả báo hiển hiện, nên gọi là Như Lai. Đó gọi là ngoài tâm khác đến nên nói chẳng thể thấy. Nay ta thấy chư Phật tuy là tâm tưởng làm ra, nhưng biết do tưởng niệm của ta huân tập chân tâm, cho nên trong tâm hiện chư Phật này. Thế nên, Phật được thấy chẳng ở ngoài
 
tâm, mà chỉ là tướng của chân tâm, có tức chẳng thật có, chẳng thật có tức có, chẳng hoại chân tịch, chẳng hoại duyên khởi. Cho nên hơn người Nhị thừa thấy hiện tiền. Lại nếu ta dùng tưởng tâm huân chân tâm, chân tâm tánh khởi hiển hiện chư Phật mà nói là vọng tưởng, thì chúng hội đạo tràng đều dùng nghiệp thấy Phật mà huân chân tâm, thì Phật Lô-xá-na ở trong chân tâm hiện ra các Bồ-tát thì cũng là vọng tưởng. Nếu Phật mà các Bồ-tát ấy thấy thật từ tâm khởi thấy liền biết chẳng từ ngoài đến, không phải là vọng tưởng. Nay ta thấy chư Phật cũng từ tâm khởi, cũng biết chẳng từ ngoài đến, sao lại nói là vọng tưởng. Lại các Bồ-tát ấy tu nghiệp thấy Phật thì đều do tâm làm lại huân tập vào tâm. Nay ta tưởng niệm Phật cũng là tâm làm, lại huân vào tâm thì kia đây đều ngang nhau. Cho nên nếu kia chẳng phải vọng thì ta tức chân thật. Hỏi: Nếu tất cả chư Phật chỉ do tự tâm chúng sinh làm ra, thì sẽ không có Phật thật ra đời? Đáp: Chẳng ngại tất cả chư Phật ra đời mà tức là tự tâm chúng sinh làm ra. Vì sao? Nghĩa là do tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh đồng một tịnh tâm làm thể. Nhưng tịnh tâm này toàn thể chỉ là một chúng sinh, mà chẳng ngại toàn thể lại làm tất cả phàm Thánh, như một chúng sinh là hoàn toàn do thể tịnh tâm ấy làm ra. Ngoài ra, mỗi phàm Thánh cũng đều như thế. Một thời một thể chẳng trái ngại nhau. Cho nên chỉ y cứ vào một người để nói về tâm, thì thể của người này có công năng làm ra tất cả phàm Thánh. Như trong tạng thể một khác đã giải thích nghĩa này. Do nghĩa ấy, tất cả chư Phật, chỉ do tâm ta làm ra, chỉ do nghĩa cộng tướng, bất cộng tướng thức. Tuy là tâm ta làm ra chư Phật nhưng có lý thấy và chẳng thấy, như trong cộng tướng, bất cộng tướng thức có nói đủ. Vì nghĩa ấy, nếu phương tiện giả tưởng, thì tưởng này tức huân chân tâm ở tương ưng cùng huân bi trí của chư Phật ở trong chân tâm mà hiện ra chư Phật tự được thấy. Phật hiện ra này vì nghiệp ta giả tưởng thấy Phật tương ưng với nghiệp Phật lợi tha huân tâm mà khởi. Cho nên Phật này là cộng tướng thức của ta. Vì là cộng tướng thức, tức là Phật chân thật ra đời mà ta thấy, nếu không có nghiệp thấy Phật, tương ưng với đức lợi tha của Phật mà huân tâm thì tất cả chư Phật tuy là tịnh tâm ta làm ra nhưng ta thường chẳng được thấy Phật. Cho nên nếu y cứ cứ vào chư Phật mà nói về tịnh tâm, tức là tịnh tâm chư Phật làm ra tất cả chúng sinh, chỉ vì Phật có Từ bi trí lực huân tâm nên được thấy tất cả chúng sinh. Nếu y cứ cứ vào chúng sinh mà nói về tịnh tâm thì tức tịnh tâm của chúng sinh làm ra tất cả Phật, chỉ vì chúng sinh có nghiệp thấy Phật huân tâm, nên được thấy tất cả chư Phật. Cho nên giả tưởng huân tâm, tức trong tâm chư Phật hiện ra có thể
thấy, Phật được thấy là Phật chân thật ra đời. Nếu chẳng hiểu nghĩa này nên bảo Thích-ca Như Lai là Phật thật ở ngoài tâm, tâm tưởng làm Phật là Phật do vọng tưởng làm ra. Người chấp như thế thì tuy thấy Thích-ca Như Lai cũng chẳng biết. Lại người tu như thế mà biết tất cả chư Phật do tâm làm ra, phải biết thân và vật cúng dường cũng từ định tâm sinh ra. Do nghĩa này cho nên:
Phải tưởng thân tâm mình
Giống như hương Tạng vương,
Các lỗ lông trong thân

Phát ra mây khói thơm,
Mây đó khó nghĩ bàn,

Đầy khắp mười phương cõi,
Đều ở trước chư Phật,
Thành lầu gác đại hương,
Hương thơm phức lầu các,
Vô lượng hương Thiên tử
Tay cầm hương thơm quý
Cúng dường các Tối Thắng
Hoặc lại tưởng thân mình
Đầy khắp cõi mười phương,
Số thân bằng chư Phật

Mà hầu hạ Như Lai,
Đối với mỗi thân kia
Cũng như Đại Phạm vương,
Sắc tướng rất đẹp đẽ

Nằm vóc lạy chân Phật,
Biết thân và đồ cúng,
Đều do một tâm làm,

Chẳng sinh chấp vọng tưởng,
Nghĩa là ngoài tâm có.
Lại biết các Bồ-tát,
Có các đồ cúng dường
Đều thí cho chúng sinh
Khiến cúng dường chư Phật.
Cho nên đồ cúng ấy,
Tức là của ta có,
Biết là của ta có,

Dâng cúng dường Như Lai,
Lấy tâm mình làm vật,
Đem vật khác thí mình,
Lại thí cho chúng sinh,

Hiến cúng các Tối Thắng.
Vào sâu quán duyên khởi,

Bèn làm được việc này.
Là quán môn lễ Phật.
Chỉ môn lễ Phật là phải biết tất cả chư Phật, thân mình và tất cả đồ cúng dường là đều từ tâm có ra, có tức chẳng thật có, chỉ là một tâm, cũng chẳng được giữ tướng ở một tâm. Vì sao? Vì ngoài tâm không có pháp giữ được tướng tâm này. Nếu có năng thủ, sở thủ tức là luống dối, tự thể nó không thật có. Như thế mà lễ thì gọi là chỉ môn. Lại chẳng được lấy chỉ hạnh này mà bỏ quán hạnh kia. Phải biết chỉ quán đi đôi. Nói tuy biết thân Phật, thân ta và các đồ cúng dường thể chỉ là một tâm, mà từ tâm sinh ra dụng duyên khởi lừng lẫy cúng dường. Tuy là lừng lẫy cúng dường mà lại biết có tức chẳng thật có. Chỉ là một tâm Bồ-đề vô niệm. Cho nên kinh nói: Cúng dường khắp mười phương, vô lượng ức Như Lai, chư Phật và thân mình, không có tướng phân biệt, đây là chỉ quán đi đôi.
Khi ăn cũng có hai môn chỉ quán. Nói quán, là khi mới được ăn, phải cúng dường Phật. Tức phải nghĩ thức ăn này là tâm ta làm cho ta nay phải biến đổi thức ăn thô sơ này thành thượng vị (thức ăn ngon quí). Vì sao? Vì biết các pháp vốn từ tâm sinh lại từ tâm chuyển (đổi). Nghĩ thế rồi, liền tưởng đồ đựng thành bát bảy báu, thức ăn trong đó tưởng là thức ăn ngon quí cõi trời, hoặc tưởng cam lộ, hoặc là cơm ngon hoặc là đường phèn hoặc là bơ lạc, các thứ thức ăn ngon quí. Tưởng như thế xong, sau mới đem các đồ ăn tưởng tượng ấy mà thí cho tất cả chúng sinh và cúng dường Tam bảo cùng bốn loài. Phải nghĩ tất cả chư Phật và hiền Thánh đều biết ta cúng dường và đều nhận hết. Cúng dường như thế sau đó mới ăn. Cho nên kinh nói: Đem một thức ăn bố thí tất cả, cúng dường chư Phật và các hiền Thánh, sau mới được ăn. Hỏi: Đã hiến cúng hết cho Tam bảo, đâu được tự ăn. Đáp: Phải thí cho tất cả chúng sinh và cúng dường Tam bảo, tức là gồm thí cho chúng sinh ăn. Ta trong thân này có tám muôn ổ vi trùng, tức là số nhiều chúng sinh. Cho nên được tự ăn, khiến vi trùng an vui, chẳng phải vì mình. Lại tưởng một bát thức ăn, mỗi một hạt cơm lại thành một bát thức ăn ngon quí. Như thế xoay vần sinh ra khắp các thế giới mười phương đều là bát báu đựng đầy thức ăn ngon quí. Thực hành tưởng đó rồi liền đem thức
ăn tưởng này mà thí cho tất cả chúng sinh, khiến cúng dường Tam bảo, bốn loài v.v….. Tưởng thế rồi sau đó mới ăn mà khiến cho các vi trùng trong thân mình no đủ. Nếu khi vì trừ tham vị tuy được thức ăn ngon thì phải tưởng thành vật bất tịnh, mà thường biết các thức ăn ngon dỡ này đều từ tâm làm là tướng luống dối không thật. Vì sao biết trong bát đều là thức ăn ngon mà ta quán tưởng bất tịnh mà thấy, tức chỉ thấy là bất tịnh, mà chẳng thấy tịnh. Phải thức ăn tịnh xưa cũng giống như thế là do tâm làm, đây là quán môn.
-Chỉ môn ăn cơm là phải quán vị được ăn và người làm thức ăn, miệng ăn và lưỡi có vị riêng, mỗi vị đều quán, đều biết từ tâm làm, chỉ là tướng của tâm có tức chẳng thật có, thể chỉ là một tâm, cũng không được giữ tướng một tâm. Vì sao? Vì ngoài tâm không có pháp năng lấy tướng tâm này. Nếu có năng thủ sở thủ thì tức là luống dối, tụ thể nó chẳng thật có. Đó gọi là chỉ môn.
Khi đại tiểu tiện cũng có thể quán. Nói quán, là phải đối với chỗ dơ uế mà nghĩ rằng: Các thứ bất tịnh này đều là tâm làm, có mà chẳng thật có. Nay ta phải biến đổi đồ bất tịnh này thanh thanh tịnh. Tức tưởng chỗ uế này thành ao báu ruộng báu, trong đó đầy nước trong vắt thơm tho hoặc đầy bơ lạc, tư tưởng thân mình là thân bảy báu, các thứ thải ra đều là sữa, bơ, mật v.v… Tưởng thế rồi đem thí cho tất cả chúng sinh lại biết tướng tịnh này chỉ là tâm làm, là tướng luống dối không thật. Đó là quán môn.
Nói chỉ môn, là biết chỗ bất tịnh này và vật bất tịnh trong thân thải ra này chỉ là nghiệp ác ở quá khứ huân vào tâm, nên hiện tướng bất tịnh này mà thấy được. Nhưng tướng này có mà chẳng thật có, chỉ là tâm bình đẳng vô niệm, tức gọi là chỉ môn. Hỏi rằng: Các pháp bất tịnh nói trên tuy do là tâm làm, đều do nghiệp quá khứ huân mà khởi, thì đâu được hiện đời giả tưởng từ tâm mà biến dịch? Đáp: Tâm thể đầy đủ tất cả pháp tánh mà chẳng phải duyên thì chẳng khởi, cho nên tướng dơ trong nhà xí (nhà vệ sinh) do nghiệp quá khứ mà hiện ra. Còn ao báu, bơ lạc không có duyên xưa thì chẳng phát. Nếu gia thêm tịnh tâm tưởng tức là nghiệp ao báu, bơ lạc huân tâm nên tịnh tướng được sinh, tâm chán sợ, tâm quán không, tức là duyên trừ diệt bất tịnh. Tịnh huân tâm nên tướng dơ uế diệt theo. Đây bởi nghiệp quá khứ nhất định huân tâm khởi tướng, hiện đời cũng được huân tâm mà hiển bày diệu dụng. Như đây là ở chỗ đại tiểu tiện giả tưởng huân tâm mà biến đổi. Ngoài ra tất cảnh giới tịnh uế đều phải giả tưởng để huân tâm, như thế biến đổi tướng cũ. Cho nên được ở hiện tại trừ bỏ, các yêu ghét cũng hay xa lìa, cùng năm
thông làm phương tiện. Nhưng người tu mới học chưa được việc từ tâm chuyển đổi. Chỉ nên nhắm mắt giả tưởng mà làm. Lâu dần thuần thục thì các pháp liền theo niệm mà thay đổi. Cho nên các Đại Bồ-tát cho đến tiểu Thánh Nhị thừa, vị tiên chứng năm thần thông v.v.… đều được ngay nơi sự mà biến đổi, không mà hiện có.
-Hỏi: Các thứ biến hiện của bậc Thánh vì sao chúng sinh có thấy hoặc chẳng thấy? Đáp: Do cộng tướng thức nên được thấy, do bất cộng tướng thức nên chẳng thấy.
-Hỏi: Thần thông của Bồ-tát và thần thông của Nhị thừa có gì khác nhau? Đáp: Thần thông của Nhị thừa chỉ do giả tưởng mà thành, vì thấy có pháp ngoài tâm, nên có hạn lượng. Thần thông của Bồ-tát do biết các pháp đều do tâm làm, chỉ có tướng tâm, ngoài tâm không có pháp, cho nên không có hạn lượng. Lại khi Bồ-tát mới học thông thì cũng từ giả tưởng mà tu, chỉ do biết các pháp đều từ một tâm mà có. Còn Nhị thừa chỉ do giả tưởng tập thông, chỉ nói là định lực chẳng nói là tâm làm, đạo lý mà luận thì là một đẳng tâm làm, chỉ có Nhị thừa kia không biết nên có khác nhau.
 
/44
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »