Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 163, Bộ Chư Tông III, Số 1852- 1860

Đại Tập 163, Bộ Chư Tông III, Số 1852- 1860

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 903.

Chương 22: Mục Lục (Trang 889 - 903)

 
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 163
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BỘ CHƯ TÔNG
III
SỐ 1852 - > 1860
 
 
 
 
 
 
 
 
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

Lời Giơi Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
 
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
 
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
 
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay  ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
 
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
 
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương


 
 
Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
 
  • Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
  • Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
 
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
 
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
 
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
 
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh


 

Lời Nói Đầu
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
 
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
 
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
 
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
 
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
 
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
--- --- --- --- --- --- --- --- --- --- --- ------ --- --- --- --- ---
 
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “


 
quý vị đang có trước mắt.
 
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
 
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
 
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
 
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
 
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
 
P.L: 2544 – (2000)
 
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH


 
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:


 
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
 


 
VÀI NÉT VỀ TẬP 45

 
Tập 45 – Chư Tông bộ phần 2, được thu lục vào trong Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 59 luận sớ giải từ No 1852 đến No 1910 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 163, 164, 165, 166 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại tạng kinh Việt Nam.
No 1852 – Tam Luận Huyền Nghĩa 1 quyển do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Nội dung sách này trình bày khái quát nghĩa chính của ba bộ Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận là sách cương yếu ngắn gọn, sáng sủa nhất của tông Tam luận, đồng thời cũng 12 sách nhập môn để hiểu rõ Trung Quán của Long Thọ.
No 1853 – Đại Thừa Huyền Luận 5 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Nội dung luận này dựa trên tư tưởng trung đạo Không quán của Tam Luận chia ra 8 môn phân biệt giải thích: nghĩa Nhị đế, nghĩa Bát bất, nghĩa Phật tính, nghĩa Nhất thừa, nghĩa Niết bàn, nghĩa Nhị trí, nghĩa Giáo tích, nghĩa Luận tích. Đây là một trong những tác phẩm lớn của Cát Tạng dùng để lý giải tông Tam Luận được các học giả sau này tôn trọng.
No 1854 – Nhị Đế Nghĩa 3 quyển do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy.
No 1855 – Tam Luận Du Ý Nghĩa 1 quyển do ngài Thích Pháp Sư soạn vào đời Tùy.
No 1856 – Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa, ngài Tuệ Viễn hỏi, ngài Cưu Ma La Thập đáp, vào đời Đông Tấn.
No 1857- Bảo Tạng Luận 1 quyển, do ngài Tăng Triệu trước tác vào đời Hậu Tần. Nội dung thuyết minh thể dụng của chân như pháp tính. Trong luận thường dẫn dùng phần Ngữ lục của các ngài Lương Giới, Vân Uyển và Tông cảnh lục của Diên Thọ, chứng tỏ luận này là chỗ dực trọng yếu của Thiền gia. Tuy nhiên dựa vào nội dung và hình thức văn ngôn, khác hẳn những trước tác trước đó của ngài Tăng Triệu, cho nên theo nhận định một số học giả đời sau, cóp khả năng đây không phải tác phẩm của Tăng Triệu.
No 1858 – Triệu Luận 1 quyển, do ngài Tăng Triệu trước tác vào đời Hậu Tần. Nội dung giải thích rõ lý sâu xa về các pháp vô tự tánh, Không bất khả đắc. Toàn sách chia làm 5 phần: Tông bản nghĩa, Vật bất thiên luận, Bất chân không luận, Bát nhã vô tri luận và Niết bàn vô danh luận.


 
No 1859 – Triệu Luận Sớ 3 quyển, do ngài Nguyên Khanh soạn vào đời Đường.
No 1860 – Triệu Luận Tân Sớ 3 quyển, do ngài Văn Tài soạn thuật vào đời Nguyên.
No 1861 – Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương 7 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường. Nội dung giải thích rõ ràng về tổ chức giáo nghĩa và nọi dung cơ bản của Duy thức như: Phán giáo, nghĩa lý duy thức, lý luận tu hành, quả vị … Đây là bộ sách rất quý cho những ai nghiên cứu Duy thức học.
No 1862 – Khuyết Pháp Bồ Đề Tâm Tập 3 quyển, do ngài Tuệ Chiểu soạn vào đời Đường.
No 1863 – Năng Hiển Trung Biên Tuệ Nhật Luận 4 quyển, do ngài Tuệ Chiểu soạn vào đời Đường. Nội dung sách căn cứ vào tông chỉ của pháp tướng Duy thức để nói rõ thật nghĩa Nhất thừa, Tam thừa, Chủng tánh, Phật tánh v. v…bài xích Nhất thừa Phật tánh cứu cánh luận do ngài Pháp Bảo, môn nhân của Đại sư Huyền Trang lập ra.
No 1864 – Đại Thừa Nhập Đạo Thứ Đệ 1 quyển, do ngài Trí Chu soạn vào đời Đường.
No 1865 – Bát Thức Quy Củ Bổ Chú 2 quyển, do ngài Phổ Thái chú thích thêm vào đời Minh. Nội dung sách này giải thích rộng thêm, rõ ràng Bát Thức Quy Củ Tụng của ngài Huyền Trang đã soạn, Lối văn trình bày gọn và nghĩa sâu, có thể được xem là tinh túy của Duy thức học.
No 1866 – Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghĩa Phân Tề Chương 4 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1867 – Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán 1 quyển, do ngài Đỗ Thuận thuyết vào đời Tùy. Cũng gọi là Hoa Nghiêm Giáo Phần ký. Nội dung sách này trình bày rõ thứ tự thể nhập Ngũ giáo quán môn của tông Hoa Nghiêm. Ngũ giáo là: Pháp hữu ngã vô môn, sinh tức vô sinh môn, Lý sự viên dung môn, Ngữ quán xong tuyệt môn, Hoa Nghiêm Tam Muội môn.
No 1868 – Hoa Nghiêm Nhất Thừa Huyền Môn 1 quyển, do ngài Đỗ Thuận thuyết vào đời Tùy, ngài Trí Nghiễm soạn vào đời Đường. Nội dung sách này dựa theo Như lai hải ấn Tam muội mà lập ra 10 huyền môn và phát huy ích chỉ sâu xa của các môn ấy.
No 1869 – Hoa Nghiêm Ngũ Thập Yếu Vấn Đáp 2 quyển, do ngài Trí Nghiễm soạn tập vào đời Đường.
No 1870 – Hoa Nghiêm Kinh Nội Chương Môn Đẳng Ly Khổng Mục Chương 4 quyển, do ngài Trí Nghiễm soạn tập vào đời Đường.


 
Ngài đem bộ kinh Hoa Nghiêm (bản 60 quyển) chia làm 144 chương để giải thích những chỗ khó hiểu trong kinh, đồng thời nêu rõ sự ưu việt thù thắng và khẳng định địa vị của kinh Hoa Nghiêm đối với các kinh khác.
No 1871 – Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường. Nội dung sách này trình bày tóm lược đại cuong kinh Hoa Nghiêm và chai làm 10 môn để giải thích rõ nghĩa “Viên dung vô ngại” Mười môn là: Thuyết kinh sứ, Thuyết kinh thời, Thuyết kinh phật, Thuyết kinh chúng, Thuyết kinh nghi, Biện kinh giáo, Hiển kinh nghĩa, Thích kinh ý, Minh kinh ích và Thị kinh viên.
No 1872 – Hoa Nghiêm Sách Lâm 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1873 – Hoa Nghiêm Kinh Vấn Đáp 2 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường. Nội dung sách này dùng thể vấn đáp để trình bày những điểm chính yếu của kinh Hoa Nghiêm.
No 1874 – Hoa Nghiêm Kinh Minh Pháp Phẩm Nội Lập Tam Bảo Chương 2 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1875 – Hoa Nghiêm Kinh Nghĩa Hải Bách Môn 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1876 – Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1877 – Hoa Nghiêm Du Tâm Pháp Giới Ký 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường. Sách này dựa vào “ Ngũ giáo Chỉ quán” của ngài Đỗ Thuận để giải thích rõ về Quán môn của tông Hoa Nghiêm.
No 1878 – Hoa Nghiêm Phát Bồ Đề Tâm Chương 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1879 – Hoa Nghiêm Kinh Quan Phái Nghĩa Ký 1 quyển,do ngài Pháp Tạng soạn Thuật vào đời Đường.
No 1880 – Kinh Sư Tử Chương Vấn Loại Giải 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường, ngài Tịnh Nguyên thuật lại vào đời Tống.
 No 1881 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Kim Sư Tử Chương 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường, ngài Thừa Thiên chú thích vào đời Tống.
No 1882 – Tam Thánh Viên Dung Quán Môn 1 quyển, do ngài Trừng Quán soạn vào đời Đường.
No 1883 – Hoa Nghiêm Pháp Giới Huyền Kính 2 quyển, do ngài Trừng Quán soạn thuật vào đời Đường.
           


 
No 1884 – Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn do ngài Tông Mật chú giải vào đời Đường.
No 1885 – Chú Hoa Nghiêm Kinh Đề Pháp Giới Quán Môn Tụng 2 quyển, do ngài Bổn Cảo soạn thuật vào đời Tống, ngài Tông Trạm chú giải cũng vào đời Tống.
No 1886 – Nguyên Nhân Luận 1 quyển, do ngài Tông Mậy soạn thaautj vào đời Đường.
No 1887 – Hoa Nghiêm Nhất Thừa Pháp Giới Đồ 1 quyển, do ngài Nghĩa Tương người nước ngoài soạn.
Pháp Giới Đồ Ký Tùng Tủy Lục 4 quyển, không biết tác giả.
No 1888 – Giải Mê Hiển Trí Thành Bi Thập Minh Luận 1 quyển do ngài Lý Thông Huyền soạn vào đời Đường.
No 1889 – Hải Ấn Tam Muội Luận 1 quyển, do ngài Minh Bạch người nước Tân La soạn thuật.
No 1890 – Hoa Nghiêm Nhất Thừa Thành Phật Diệu Nghĩa 1 quyển do ngài Kiến Đăng người nước Tân La soạn thuật.
No 1891 – Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán 1 quyển do ngài Duy Bạch soạn thuật vào đời Tống.
No 1892 – Quan Trung Sáng Lập Giới Bàn Đồ Kinh Tinh Tự 1 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường.
No 1993 – Tịnh Tâm Giới Quán Pháp 2 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Nội dung sách này chỉ dạy người học con đường tự tu và giáo hóa người khác. Tịnh tâm nghĩa là gột sạch sự cáu bẩn trong tâm, khiến cho trong sạch sáng suốt; Giới quán nghĩa là xa lìa tội lỗi, quán xét chân lý 1 cách thấu đáo.
No 1894 – Thích Môn Chương Phục Nghi 1 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Nội dung sách này nói về cách thức sử dụng chất liệu, và may vá, giặt giũ pháp phục.
No 1896 – Lượng Xứ Kinh Trọng Nghi 2 quyển, do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường.
No 1897 – Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi 1 quyển, do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Nội dung gồm 23 chương, 465 điều, nói về các luật nghi mà vị Tỳ kheo mới học phải vâng giữ,
No 1898 – Luật Tướng Cảm Thông Truyện 1 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường.
No 1899 – Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh 1 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường.
No 1900 – Phật Chế Tỳ Khưu Lục Vật Đồ 1 quyển do ngài Nguyên Chiếu soạn vào đời Đường.
No 1901 – Hộ Mệnh Phóng Sinh Quỹ Nghi Pháp 1 quyển, do ngài Nghĩa Tịnh soạn vào đời Đường.
No 1902 – Thọ Dụng Tam Thủy Yếu Hành Pháp 1 quyển do ngài Nghĩa Tịnh soạn vào đời Đường. Nội dung sách này nêu rõ tính chất và cách sử dụng ba thứ nước mà tăng tục thường dùng hằng ngày. Đó là : Thời thủy, Phi thời thủy và Xúc dụng thủy.
No 1903 – Thuyết Tội Yếu Hành Pháp 1 quyển do ngài Nghĩa Tịnh soạn vào đời Đường.
No 1904 – Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Xuất Gia Thọ Cận Viên Yết ma Nghi Phạm 1 quyển do ngài Bạt Hợp Tư Ba soạn tập vào đời Nguyên.
No 1905 – Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bí Sô Tập Học Lược Pháp 1 quyển, do ngài Bạt Hợp Tư Ba soạn vào đời Nguyên.
No 1906 – Bồ Tát Giới Bổn Tông Yếu 1 quyển, do ngài Thái Hiền nước Tân La soạn
No 1907 – Bồ Tát Giới Bổn Trì Phạm Yếu Ký 1 quyển do ngài Nguyên Hiểu người nước Tân La soạn thuật.
No 1908 – Đại Thừa Lục Tình Sám Hối 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu người nước Tân La soạn thuật.
No 1909 Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp 10 quyển do các pháp sư soạn thuật vào đời Lương.
No 1910 Từ Bi Thủy Sám Pháp 3 quyển do ngài Tri Huyền soạn vào đời Đường. Đây là một bộ sám pháp bao gồm việc kính lễ chư Phật, Bồ Tát, lời thành khẩn sám hối tất cả nghiệp chướng từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay và cuối cùng là phát nguyện hồi chướng cho khắp pháp giới chúng sanh.
Trên đây, là sơ lược nội dung toàn tập 45
BAN BIÊN TẬP
 

 
MỤC LỤC
(BỘ CHƯ TÔNG 3 – TẬP 163)
SỐ 1852 – TAM LUẬN HUYỀN NGHĨA ..................................................................... 3
SỐ 1853 – ĐẠI THỪA HUYỀN LUẬN ....................................................................... 57
QUYỂN 1: ........................................................................................................................ 59
QUYỂN 2: ........................................................................................................................ 97
QUYỂN 3: ...................................................................................................................... 133
QUYỂN 4: ...................................................................................................................... 183
QUYỂN 5: ...................................................................................................................... 238
SỐ 1854 – NHỊ ĐẾ NGHĨA ......................................................................................... 295
BÀI TỰA: ....................................................................................................................... 297
QUYỂN 1: ...................................................................................................................... 300
QUYỂN 2: ...................................................................................................................... 352
QUYỂN 3: ...................................................................................................................... 396
SỐ 1856 – CƯU MA LA THẬP PHÁP SƯ ĐẠI NGHĨA ........................................ 463
QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 465
QUYỂN TRUNG: .......................................................................................................... 490
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 512
SỐ 1857 – LUẬN BẢO TẠNG ................................................................................... 537
- PHẨM THỨ NHẤT: SOI CHIẾU RỘNG CÓ KHÔNG: .......................................... 539
- PHẨM THỨ HAI: THỂ LY VI THANH TỊNH: ........................................................ 548
- PHẨM THỨ BA: BẢN TẾ RỔNG LẶNG HUYỀN DIỆU: ..................................... 556
SỐ 1858 – TRIỆU LUẬN ............................................................................................ 565
SỐ 1859 – TRIỆU LUẬN SỚ ...................................................................................... 603
QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 605
QUYỂN TRUNG: .......................................................................................................... 655
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 717
SỐ 1860 – TRIỆU LUẬN TÂN SỚ ............................................................................ 765
QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 767
QUYỂN TRUNG: .......................................................................................................... 801
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 844

 

*****
/22
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »