LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 175
BỘ CHƯ TÔNG
XIV
SỐ 2001 - > 2004
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu
Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-
Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
-
Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
Lời Nói Đầu
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
--- --- --- --- --- --- --- --- --- --- --- ------ --- --- --- --- ---
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “
quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
P.L: 2544 – (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
VÀI NÉT VỀ TẬP 48
Tập 48 – Chư Tông bộ, phần 5 được thu lục và Hán tạng Đại Chánh Tân Tư gồm 25 luận sớ giải từ No 2001 đến No 2025 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 175, 176, 177 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
No-2001 Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục 9 quyển, do ngài Thị Giả… tập thành vào đời Tống. Cũng gọi là Thiên Đồng Chánh Giác Thiền sư Quảng lục, do Thiền sư Chánh Giác soạn. Nội dung sách này thu chép các ngữ lục thượng đường khi sư trụ ở Cảnh Đức thiền tự, tại húi Thiên Đồng, Minh châu, tỉnh Chiết Giang.
No-2002 Như Tịnh Hòa Thượng Ngữ Lục 2 quyển, do các ngài Văn Tố… biên tập thành vào đời Tống. Nội dung sách này ghi chép lại những bài pháp ngữ của ngài Như Tịnh khi nói ở chùa Thanh Lương ở Kiến Khang, chùa Thụy Nham ở Thai châu, chùa Tịnh Từ ở Lâm An và chùa Cảnh Đức ở Thiên Đồng.
Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục 1 quyển do ngài Nghĩa Viễn biên soạn vào đời Tống. Đây là sách ghi chép 20 tắc thượng đường pháp ngữ của ngài Như Tịnh khi thuyết ở Thiên Đồng, chưa được khắc in trong Như Tịnh Hòa thượng Ngữ lục.
No-2003 Phật Quả Viên Ngộ Thiền Sư Bích Nham Lục 10 quyển, sách này đầu tiên do ngài Trùng Hienẻ ở núi Tuyết Đậu chọn lấy 100 tắc trọng yếu nhất trong số 1700 tắc công án của Cảnh Đức Truyền Đăng lục, rồi thêm văn tụng vào; về sau ngài Viên Ngộ Khắc Cần lại thêm phàn thùy thị, bình xướng và trứ ngữ v.vv… thì sách này mới được hoàn thành. Đây là bộ sách quý nhất của Thiền tông, rất được xem trọng trong giới xuất gia và tại gia.
No-2004 Vạn Trùng Lão nhân Bình xướng Thiên đồng giác Hòa thượng tụng cổ Thung dung Am lục, 6 quyển, do ngài Chánh giác tụng cổ, Hành Xứng bình xướng.
No-2005 Vô Môn Quan, 1 quyển, do ngài Tông Thiệu biên soạn vào đời Tống. Cũng như Bích Nham Lục, sách này được coi như là bộ sách quý của Thiền Tông, nhất là tông lâm Tế. Nội dung do ngài Vô môn Tuệ Khai soạn vào đời Tống, ngày TôngThiệu ghi chép lại, gồm 48 tắc công án nổi tiếng trong Thiền lâm xưa nay, rồi thêm phần kệ tụng bình xướng mà thành. Mục đích của sách này là nói rõ cảnh giới “Vô” đồng thời ngộ nhập nên lấy “Vô” làm môn. “Vô môn” chính là môn.
No-2006 Nhân Thiên Nhãn Mục, 6 quyển, do ngài Trí Chiêu soạn tạp vào đời Tống. Nội dung thu tập những thiên văn thơ, kệ tụng, lời khai thị của các bậc Tổ sư và nêu ra cương yếu, đặc trưng của 5 phái Thiền tông đương thời.
No-2007 Nam Tông Đốn Giáo Tối Thượng Đại Thừa Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh Lục tổ Huệ Năng Đại sư ư Thiều Châu Đại Phạp tự, thí Pháp đàn kinh, 1 quyển , do ngài Pháp Hải soạn tập vào đời Đường.
No-2008 Lục tổ Đại sư Pháp Bảo Đàn kinh, 1 quyển, do ngài Tông Bảo biên soạn vào đời Nguyên. Nội dung là những thuyết pháp của ngài Huệ Năng ở chùa Đại Phạm tại Thiều châu, gồm có 10 phẩm: Hành do, Bát nhã, Nghi vấn, Định tuệ, Tọa thiền, Sám hối, Cơ duyên, Đốn tiệm, Tuyên chiếu, Phó chúc.
No-2009 Thiếu thất Lục môn, 1 quyển, do ngài Bồ đề Đạt ma soạn vào đời Lương. Nội dung nói về yếu chỉ của Thiền gia chia làm 6 môn: Tâm kinh tụng, Phá tướng luận, Nhị chủng nhập, An tâm pháp môn, Ngộ tính luận, Huyết mạch luận.
No-2010 Tín Tâm Minh 1 quyển, do ngài Tăng Xán trước tác vào đời Tùy. Sách này được viết theo thể thơ mỗi câu 4 chữ, gồm 164 câu. Nội dung chủ trương xa lìa tất cả vọng niệm đối lập, sai biệt như phải trái, được mất… mà an trụ nơi cảnh giới bình đẳng tự tại. Toàn sách đề xương tư tương Hoa Nghiêm: một tức tất cả, tất cả tức một.”
No-2011 Tối Thượng Thừa Luận, 1 quyển, do ngài Hoằng Nhẫn soạn thuật vào đời Đường. Nội dung luận này chia làm hai môn là Quả môn, Hành môn sử dụng phương thức hỏi đáp gồm 14 điều để bàn giải về các vấn đề như: Tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, chúng sanh và Phật đồng một thể. Những kinh được trích dẫn trong Luận này gồm có Kinh Thập Địa, Kinh Duy ma, Kinh Kim cương, Kinh PhápHoa, Kinh Quán Vô lượng thọ…
No- 2012 Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền sư truyền tâm pháp yếu 1 quyển, và Hoàng Bá Đoạn Tế Thiền sư uyển lăng, 1 quyển, do ngài Bùi Hưu soạn tập. Nội dung sách này gồm hai phần: Một ghi chép những cơ duyên ngữ yếu của Thiền sư Bách Trượng chỉ dạy khi ngài Hoàng bá Hi vận tham vấn vàmột biên tập các pháp ngữ của chính ngài Hi vận như: Thượng đường, thị chúng…
No- 2013 Thiền Tông vĩnh Gia Tập, 1 quyển, do ngài Huyền giác soạn vào đời Đường. cũng gọi là Vĩnh Gia thiền tập, Thứ sử Khánh châu là Ngụy Tĩnh biên tập. Nội dung sách, ngài Huyền Giác dùng yếu
Chi “ngăn chiếu” của Chỉ quán Thiên Thai để giải thích Thiền của Thiền tông và lịch trình tu hành.
No-2014 Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca do ngài Huyền Giác soạn vào đời Đường. Tác phẩm này gồm 247 câu, mỗi câu phần nhiều 7 chữ, chia làm 51 đoạn, nói rõ về yếu chi của cảnh giới giác ngộ. Sách này trình bày cốt tủy của Thiền Tông bằng lời văn lưu loát, diễm lệ, là kiệt tác có một không hai của văn học Thiền, cho nên rất được Thiền lâm quý chuộng.
No-2015 Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, 2 quyển, do ngài Tông Mật soạn vào đời Đường. Sách này gọi nguồn gốc của hết thảy chúng sanh là Bổn giác chân tánh, Phật tánh, Tâm địa và lấy đây làm chủ đề mà triển khai lý luận tức là phần giáo nghĩa; nương vào giáo nghĩa này để tu chứng khai ngộ chính là Thiền. Đây là cội nguồn của Thiền, vì thế gọi là Thiền nguyên.
No-2016 Tông Kính Lục, 100 quyển, do ngài Diên Thọ soạn tập vào đời Tống. Nội dung trình bày rõ về đại ý của chư Phật và chánh tông của kinh luận. Lập luận trong sách đặt nặng vấn đề đốn ngộ, viên tu đều được gọi là “Thiền tông Đạt ma, Giáo tông Hiền Thủ”.
No-2017 Vạn Thiện Đồng Quy Tập, 3 quyển, do ngài Diên Thọ soạn tập vào đời Tống. Đây là bộ sách tâm yếu của Thiền gia. Ở đầu mỗi quyển, trước hết trình bày ý chỉ tổng quát, sau đó giải thích rõ các ý chỉ bằng thể tài vấn đáp. Tổng số vấn đáp có 114 điều.
No-2018 Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết, 1 quyển, do ngài Diên Thọ soạn tập vào đời Tống. Gọi tắt Duy Tâm Quyết. Nội dung liệt kê 120 thứ kiến giải của tà tông, dùng pháp quán tâm để cởi bỏ mê hoặc, soi rõ chỗ tối tăm, đồng thời cho rằng nếu quán sát suốt được chân tâm này, thì các kiến chấp tà vạy… đều tiêu diệt hết. Lúc đó tâm rỗng rang thanh tịnh, đạt đến cảnh giới viên dung giải thoát.
No-2019 Chân Tâm Trực thuyết, 1 quyển, do ngài Tri Nạp người Cao Ly soạn.
No-2020 Giới Sơ Tâm Học Nhân Văn, 1 quyển, do ngài Tri Nạp người Cao Ly soạn.
No-2021 Cao Ly Quốc Âm Chiếu Thiền Sư Tu Tâm Quyết, 1 quyển do ngài Tri Nạp người Cao Ly soạn.
No-2022 Thiền Lâm Bảo Huấn, 4 quyển, do ngài Tịnh Thiện soạn tập vào đời Tống. Nội dung thu chép các di ngữ của các Thiền sư đời Tống từ ngài Hoàng Long Huệ Nam đời thứ 11 đến ngài Phật chiếu Chuyết An đời thứ 16 thuộc hệ thống Nam Nhạc gồm 300 thiên, cuối mỗi thiên đều có ghi rõ xuất xứ.
No- 2023 Truy Môn Cảnh Huấn, 10 quyển, do các ngài Như Cẩn v.vv… soạn tập vào đời Minh. Nội dung ghi chép lại tất cả hơn 170 điều răn dạy về tham thiền hành đạo của các bậc tiên hiền cổ đức như: Quy sơn Đại Viên Thiền sư cảnh sách, Nga Hồ Đại Nghĩa Thiền sư Tọa thiền minh, Đại Đường Từ Ân Pháp sư xuất gia châm…
No-2024 Thiền Quan Sách Tấn, 1 quyển, do ngài Châu Hoằng soạn tập vào đời Minh. Nội dung thu chép những pháp ngữ cốt yếu của các vị Tổ sư gồm 39 chương, tóm lược sự khổ công của chư Tổ gồm 24 chương và các dẫn chứng trong kinh.
No-2025 Sắc Tu Bách Truọng Thanh Quy, 10 quyển, do ngài Đức Huy soạn vào đời Nguyên. Nội dung chia làm 9 chương: Chúc ly, Báo ân, Báo bản, Tôn tổ, Trụ Trì, Lưỡng tự, Đại chúng, Tiết lạp, và pháp khí bao gồm hết các thanh quy của thiền gia.
Trên đây là tóm lược nội dung tập 48 Đại Chánh Tân Tu tạng.
BAN BIÊN TẬP
MỤC LỤC
(BỘ CHƯ TÔNG 15 – TẬP 175)
SỐ 2001 – QUẢNG LỤC CỦA THIỀN SƯ HOẰNG TRÍ...................................................................................... 3
QUYỂN 1:............................................................................................................................................................ 3
-NGỮ LỤC THIỀN VIỆN THÁI BÌNH HƯNG QUỐC Ở THƯ CHÂU................................................................ 22
-NGỮ LỤC THIỀN VIỆN THÔNG SÙNG THẮNG Ở HUYỆN LÔ SƠN TỈNH GIANG CHÂU.......................... 26
-NGỮ LỤC THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN Ở GIANG CHÂU................................................................................ 32
-NGỮ LỤC THIỀN VIỆN SÙNG PHƯỚC HUYỆN TRƯỜNG LÔ TỈNH CHÂN CHÂU..................................... 34
QUYỂN 2: TẬP TỰA TỤNG CỔ NIÊM CỔ CỦA GIÁC HÒA THƯỢNG Ở TRƯỜNG LÔ................................ 57
QUYỂN 3: NIÊM CỔ CỦA GIÁC HÒA THƯỢNG Ở TRƯỜNG LÔ TỈNH CHÂN CHÂU.................................. 95
QUYỂN 4: NGỮ LỤC CỦA GIÁC HÒA THƯỢNG Ở NÚI THIÊN ĐỒNG - MINH CHÂU............................. 121
QUYỂN 5: TỰA NGŨ LỤC TIỂU THAM CỦA HÒA THƯỢNG THIÊN ĐỒNG GIÁC ................................... 193
QUYỂN 6: PHÁP NGỮ CỦA HÒA THƯỢNG THIÊN ĐỒNG GIÁC Ở THIÊN ĐÔNG MINH CHÂU.............. 244
QUYỂN 7: HÒA THƯỢNG GIÁC, NÚI THIÊN ĐỒNG MINH CHÂU CHÂN THẬT KHEN NGỢI................. 260
QUYỂN 8: LỜI MINH KỆ TỤNG CỦA HÒA THƯỢNG GIÁC Ở NÚI THIÊN ĐỒNG TẠI MINH CHÂU....... 276
QUẢNG LỤC KỆ TỤNG CỦA THIỀN SƯ GIÁC Ở NÚI THIÊN ĐỒNG TẠI MINH CHÂU............................ 316
QUYỂN 9: ....................................................................................................................................................... 323
GHI VỀ HÀNH NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG ĐƯỢC SẮC PHONG THỤY HIỆU HOẰNG TRÍ THIỀN SƯ. 371
SỐ 2002 – NGỮ LỤC CỦA HÒA THƯỢNG NHƯ TỊNH........................................................................................ 379
QUYỂN THƯỢNG: - NGỮ LỤC THANH LƯƠNG Ở KIẾN KHANG....................................................................... 381
NGỮ LỤC ĐOAN NHAM THIỀN TỰ Ở THAI CHÂU..................................................................................... 386
NGỮ LỤC TỊNH TỪ THIỆN TỰ PHỦ LÂM AN.............................................................................................. 388
NGỮ LỤC CỦA THỤY NHAM MINH CHÂU.................................................................................................. 394
NGỮ LỤC TRỤ TRÌ ĐỜI THỨ HAI TỊNH TỪ THIỀN SƯ.............................................................................. 395
QUYỂN HẠ: - NGỮ LỤC CHÙA CẢNH ĐỨC THIÊN ĐỒNG Ở MINH CHÂU.......................................................... 398
TIỂU THAM..................................................................................................................................................... 403
PHỔ THUYẾT ................................................................................................................................................. 407
PHÁP NGỮ....................................................................................................................................................... 408
TỤNG CỔ......................................................................................................................................................... 408
TÁN PHẬT TỔ................................................................................................................................................. 409
TỤNG KỆ......................................................................................................................................................... 413
TỰA NGỮ LỤC CỦA THIÊN ĐỒNG BỊ THẤT LẠC....................................................................................... 417
NGỮ LỤC THIỀN SƯ NHƯ TỊNH CHÙA CẢNH ĐỨC NÚI THIÊN ĐỒNG ................................................... 419
SỐ 2003 – VIÊN QUẢ VIÊN NGỘ THIỀN SƯ BÍCH NHAM LỤC......................................................................... 431
QUYỂN 1: ....................................................................................................................................................... 435
QUYỂN 2:........................................................................................................................................................ 471
QUYỂN 3:........................................................................................................................................................ 506
QUYỂN 4:........................................................................................................................................................ 532
QUYỂN 5:........................................................................................................................................................ 561
QUYỂN 6:........................................................................................................................................................ 586
QUYỂN 7:........................................................................................................................................................ 608
QUYỂN 8:........................................................................................................................................................ 628
QUYỂN 9:........................................................................................................................................................ 650
QUYỂN 10:...................................................................................................................................................... 676
SỐ 2004 – VẠN TÙNG LÃO NHÂN BÌNH XƯỚNG............................................................................................... 711
-TỰA THUNG DUNG LỤC TRÙNG KHẮC TỨ GIA NGỮ LỤC.................................................................. 711
QUYỂN 1:........................................................................................................................................................ 715
QUYỂN 2:........................................................................................................................................................ 748
QUYỂN 3:........................................................................................................................................................ 786
QUYỂN 4:........................................................................................................................................................ 823
QUYỂN 5:........................................................................................................................................................ 849
QUYỂN 6:........................................................................................................................................................ 888
*****