440 - Mục Lục (Trang 964 - 978)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 54 - Bộ Kinh Tập I - Số 425 -> 440

Đại Tập 54 - Bộ Kinh Tập I - Số 425 -> 440

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 978.

Chương 38: Mục Lục (Trang 964 - 978)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 54





BỘ KINH TẬP

I

SỐ 425 →440







HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu
 
Ngày nay có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do.
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo của các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiêm cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng ta nhấn mạnh, “ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xinh nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
- Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý .v.v…
- Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quý vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ - tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh.
Lời Nói Đầu
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mươi ba thế kỷ trước thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung van Đại Tạng Kinh.
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện vộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sóng văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
            “Vào thời đại Nam Bắc Triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật ( khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hương tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”*
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về Đại Tạng Bắc Truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh…; thêm vào những sắc
           
-------------------
*Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tu tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giai. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vi Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.
Thái đặc biệt của Địa tạng Tây Tạng. Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại : tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như quý vị đang có trước mắt.
            Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Tử liếc nhìn qua nước Nhật Bồn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ( vì toàn bộ Đại Tạng trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cam Nam Thuận Thứ Lang ( Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc ( Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tối đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vi cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt
            Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP.Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544(2000)
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH


I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V- Số:
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
BỘ ĐẠI TẬP
Về phương diện truyền dịch kinh điển thì theo A-hàm và các Luật đều do đọc tụng bằng
miệng. Trong Phân Biệt Công Đức Luận 2 có nói: “ Các Pháp sư nước ngoài truyền lại cho đồ chúng bằng miệng, không có chép thành văn.” Trong Cao Tăng Pháp Hiển Truyện cũng nói: “ Các nước phía Bắc Thiên Trúc đều do sư sư khẩu truyền, không được viết ra sách.” Tuy nhiên việc lưu thông kinh điển Đại thừa thì trong các kinh điển đều khuyến khích việc thư tả lưu bố và tán thán công đức ấy rất lớn. Về việc thư tả lưu bố, nói chung là dùng bút viết trên lá bối, có khi còn dùng vải trắng. Như Phật Bản Hạnh Tập Kinh 51, viết bằng bút mực trên lá Đà-la, Vô Tận Ý Bồ-Tát Kinh ( trong Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh 30), Thiện Tý Bồ Tát Kinh ( trong Đại Bảo Tích Kinh 93) viết bằng mực trên giấy, Trì Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh 4, Bảo Nữ Sở Vấn Kinh 4, Phổ Diệu Kinh 8, Tán Phật Phẩm và Thiện Cung Kính Kinh v.v… viết trên lụa tre.Các kinh như Nhất Tự Kỳ Đặc Phật Đảnh Kinh thượng, Tiên Hành Phẩm v.v…viết trên vỏ cây hoặc tơ lụa, hoặc còn viết trên vách và trong kinh còn vẽ tượng Như Lai. Trong Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh 46 nói: “Kinh pháp được viết trên vách trong tháp Phật.” Trong Phạm Võng Kinh thượng v.v….còn nói đến sự huyết thư tức chích lấy máu mà chép kinh.
Chính những thông tin trên đây cho thấy và cắt nghĩa những gì bắt gặp trong Bộ Kinh Tập này. Bộ Kinh Tập trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh được thu lục vào bốn quyển: 14,15, 16 và 17 gồm 421 kinh và phụ lục, từ Kinh số 425 đến Kinh số 847. Bộ Kinh Tập Là một tập lục nhiều kinh và nhiều tiểu kinh có hình thức và nội dung đáng lưu ý như sau:
Quyển 14 gồm các kinh Đại thừa, điển hình là Kinh Hiền Kiếp Phật giảng rõ về nhiều chi tiết thực tế của những bậc tu và thực hành sáu pháp Ba-la-mật và Kinh Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên nói rõ và tán thán công đức Bố thí ba-la-mật. Trong quyển này có nhiều kinh đồng nội dung nhưng khác một ít chi tiết mặc dù khác nhà dịch hay cùng một nhà dịch. Thí dụ như các kinh số 428, 429, 430, các kinh số 449, 450, 451, các kinh số 464, 465, các kinh số 468,469, 470, 471,
Các kinh số 473, 474,475,476, các kinh số 477, 478,479. Ngoài ra có kinh ngắn, quá ngắn, cực ngắn cho đến siêu ngắn chỉ không đầy một trang chẳng hạn như kinh số 575, 576. Kinh Di-Lặc Lai Thời là một kinh cực ngắn, có vẻ chỉ là một đoạn kinh phát hiện rồi được thu lục vào đây xếp chung với các kinh Phật nói về Di-lặc. Một điểm nữa là các số liệu không phù hợp như các kinh Tên Ngàn Vị Phật, Tên Năm Ngàn Vị Phật mà phần nhiều là không đủ số.
Quyển 15 cũng gồm toàn các kinh Đại thừa, chủ yếu Phật dạy pháp Bồ-tát Tam-muội và sáu pháp Bà-la-mật như các kinh Nguyệt Đăng Tam-muội. Kinh Thủ-lăng-nghiêm phật dạy Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm là Tam-muội cao tột của Bồ-tát, là phương tiện vạn năng của sự hành hoá không thể nghĩ bàn. Kinh Bất Tất Định Nhập Định Nhập ấn và Kinh Nhập Định Bất Định ấn Phật nói có năm hạng Bồ-tát thực hành theo năm xe: dê, voi, thần lực mặt trời trăng, thần lực của Thanh văn và thần lực của Như Lai. Kinh Lực Trang Nghiêm Tam-muội Phật dạy về tất cả các pháp bình đẳng, chúng sinh và Như Lai là hai không không khác, cảnh giới Phật và cảnh giới chúng sinh là đồng một pháp giới. Kinh Tịch Chiếu Thần Biến Tam-ma-địa Phật dạy lý thể nhập dung thông vô ngại. Kinh Vị Tằng Hữu Chánh Pháp, Bồ-tát Diệu Cát Tường thừa oai thần của Phật giảng nói pháp môn Bồ-tát tạng, trong đó nói tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều là tạng Bồ-tát và Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Phật thừa đều đồng một thừa. Rõ ràng là giáo nghĩa Đại thừa viên đốn.
Quyển 16 cũng gồm toàn các kinh Đại thừa. Điểm đặc biệt ở quyển này có Kinh Bồ-tát Anh Lạc 10, Phật đặc biệt nói đến ba thừa của Bồ-tát, mỗi thừa đều có ba phẩm như: Bồ-tát Đại thừa, Bồ-tát Bích-chi-phật thừa và Bồ- tát Thanh văn thừa. Ba thừa của Bích-chi-phật có Bích-chi-phật Đại thừa, Bích-chi-phật Duyên giác thừa và Bích-chi-phật Thanh văn thừa. Ba thừa của Thanh văn có Thanh văn Đại thừa, Thanh văn Bích-chi-phật thừa và Thanh văn Vô trước thừa. Đó là điểm đặc biệt được Phật đề cập trong kinh này. Một điểm đặc biệt khác nữa là trong Kinh Bồ-tát Anh Lạc 12, Phật nói người học pháp “ Tam vô học” có lúc thanh tịnh có lúc không thanh tịnh. Phật giải thích cho Bân-nậu Văn-đà-ni Tử về các pháp ba đời có lúc thanh tịnh có lúc không thanh tịnh. Đến Quyển 16 có các kinh như Nhập
Lăng-già, Kinh Giải Thân Mật, Kinh Mật Nghiêm là những kinh đạt đỉnh cao của Đại thừa đồng hóa A-lạc-da với Như Lai Tạng như bài kệ sau đây:
Phật thuyết Như Lai Tạng
Dĩ vi A-lạc-da
Ác tuệ bất năng tri
Tạng tức Lại-da thức
Như lai thanh tịnh tạng
Thế gian A-lại-da
Như kim dữ chỉ hoàn
Triển chuyển vô sai biệt
Ngoài ra cũng giống như Quyển 14, 15 có các kinh đồng bản, đồng nội dung nên khác dịch bản như Kinh Bảo Vân, Kinh Đại Thừa Bảo Vân, kinh đại thừa bảo vũ, hay Kinh Đại Thừa Bách Phúc Tướng với Kinh Đại Thừa Bách Phúc Trang Nghiêm Tướng, hay Kinh Kim Quang Minh, Kinh Hợp Bộ Kim Quang Minh với Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương v.v..đồng thời cũng có các kinh ngắn, quá ngắn, cực ngắn và siêu ngắn.
Quyển 17 ngoài các điểm tương đồng với các Quyển 14,15 và 16 đặc biệt ở đây rõ nhất tính tạp lục của Bộ Kinh Tập từ hình thức đến nội dung. Nay chỉ xin đề cập đến nội dung. Nội dung Quyển 17 gồm nhiều kinh thuộc Tiểu thừa giáo, có kinh chuyển nhập Đại thừa có kinh pha trộn. Thí dụ Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ. Đây là kinh thuộc Tiểu thừa kinh bộ. Kinh nói rõ việc phải quán sát nhân quả của sinh tử trong sáu đường để yếm ly uế độ hân cầu tịnh độ bằng cách từ bỏ mười con đường bất thiện tu mười con đường thiện nghiệp. Đây chính là giáo nghĩa cơ bản của Thanh văn mà các Bộ Tăng Nhất A-hàm 36, Tạp A-Hàm 19, 40,46 v.v…nói rõ hơn rất nhiều.
Về kết cấu kinh có nhiều chỗ bản Hán dịch thiếu sót. Về tên dịch giả nhiều bản ghi là Lưu-chi, bồ-đề lưu-chí, cù-đàm bát-nhã lưu-chi đều là những khuyết nghi chưa có kết luận minh xác. Kinh Chư Phật Tập Yếu, cũng như một số tiểu kinh khác có thể do hậu nhân dựa vào một chánh kinh nào đó tạo ra: Thí dụ như kinh này Tôn giả Quán Vô Ý có làm kệ tụng nói rõ rằng:
Nương Chánh Pháp Niệm Xứ,
Biển kinh điển rộng lớn
Gom thành kệ tụng này…
Kinh có tình pha trộn như kinh Phật Thuyết Pháp Tập, nôi dung giảng dạy Pháp Bồ-tát về sáu Ba-la-mật, về Không, Vô tướng, Vô nguyện, thì tiếp đến các Kinh hết sức cơ bản cho Thanh văn, Bích-chi, giảng giải các câu hỏi của các Tỳ-kheo như thế nào là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, pháp duyên sinh, bốn Đế, bốn Vô lượng tâm, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Thánh đạo, bốn quả Thanh văn, bốn Vô sở úy, bốn Vô ngại biện, mười tám pháp Bất cộng v.v…
Kinh có tính chuyển nhập Đại thừa như Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, quyển hạ, Phật giảng dạy về Pháp thân bình đẳng thường trú và muốn tu tập vào cảnh giới Phật thì thực hành hai pháp quán. Đó là Duy tâm thức quán và Chân như thật quán. Rõ ràng là giáo thuyết chuyển nhập tư tưởng A-lại-da vào tư tưởng Như Lai tạng pháp thân của Đại thừa viên giáo.
Các kinh như Phật Thuyết Thập Bát Nê-lê, Mạ Ý, Tứ Tự Xâm, Mạn Pháp, Ngũ Khổ Chương Cú, Tạp Tạng v.v…có tính cách như những ghi chép cóp nhặt rời rạc việc nọ việc kia chứ không phải ở một thời pháp nhất định, không có lục thành tựu, nội dung không thống nhất đầu kinh cuối kinh. Những câu hỏi đáp trong kinh xen lẫn những câu dẫn lời phật dạy, không rõ ràng là ai hỏi, hỏi ai, ai đáp v.v….Như thế trong các kinh này phải chăng có một nhân vật là người thuật lại mà người thuật đó không hẳn là A-nan. Rõ ràng nhất là như Kinh Tam Tuệ, trong đó dẫn Kinh Thí Dụ. Rồi đến đoạn nói: “Xưa có đạo nhân thuyết kinh cho vua nghe. Vua hỏi: - Khi Phật còn tại thế có nhiều người đắc đạo. Phật đã mang đạo pháp đi mất rồi ư?” Rồi sau có đoạn nói: “Vua A-dục xây tám vạn ngôi tháp. Khi lâm chung có năm trăm Bồ-tát, A-la-hán cùng hộ trì thuyết kinh cho vua.” Có thể đây là những bài thuyết giảng do hậu nhân biên tập tạo thành.
Ban Biên Tập
MỤC LỤC
(KINH TẬP – BỘ 1)
SỐ 425 – KINH HIỀN KIẾP ............................................................................................. 3
QUYỂN 1 ............................................................................................................................ 3
Phẩm 1: HỎI VỀ PHÁP TAM-MUỘI ................................................................................. 3
Phẩm 2: NÓI VỀ VIỆC THỰC HÀNH PHÁP TAM-MUỘI ............................................. 23
Phẩm 3: NÊU BỐN SỰ VIỆC CỦA BỒ-TÁT .................................................................... 33
Phẩm 4: NÓI VỀ BẬC PHÁP SƯ ....................................................................................... 38
Phẩm 5: NÓI VỀ VIệC CÚNG DƯờNG BằNG PHÁP THÍ ............................................. 53
QUYỂN 2 ............................................................................................................................ 59
Phẩm 6: NÓI VỀ CÁC PHÁP ĐỘ VÔ CỰC ...................................................................... 59
Phẩm 7: NÓI VỀ SỰ TU TẬP THỰC HIỆN CÁC PHÁP ĐỘ VÔ CỰC .......................... 67
Phẩm 8: NÓI VỀ TÍNH CHẤT VƯỢT MỌI BIÊN VỰC................................................... 81
QUYỂN 3 ............................................................................................................................ 97
Phẩm 9: NÓI VỀ SỰ LÃNH HỘI, GIỮ GÌN ..................................................................... 97
Phẩm 10: NÓI VỀ THẦN THÔNG...................................................................................... 115
Phẩm 11: NÓI VỀ BA MƯƠI HAI TƯỚNG ...................................................................... 134
QUYỂN 4 ............................................................................................................................ 152
Phẩm 12: NÓI VỀ TÙY THỜI ............................................................................................ 152
Phẩm 13: NÓI VỀ BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO .................................................... 165
QUYỂN 5 ............................................................................................................................ 187
Phẩm 14: NÓI VỀ PHÁP ĐỘ VÔ CỰC AN NHIÊN TỊCH TĨNH ................................... 187
Phẩm 15: NÓI VỀ MƯỜI THỨ TRÍ LỰC .......................................................................... 203
Phẩm 16: NÓI VỀ BỐN VÔ SỞ ÚY .................................................................................. 208
Phẩm 17: NÓI VỀ MƯỜI TÁM PHÁP BẤT CỘNG ......................................................... 214
Phẩm 18: NÓI VỀ PHƯƠNG TIỆN .................................................................................... 222
QUYỂN 6 ............................................................................................................................ 227
Phẩm 19: NÓI VỀ TÁM BẬC ............................................................................................. 227
Phẩm 20: NÓI VỀ DANH HIỆU MỘT NGÀN VỊ PHẬT ................................................ 244
QUYỂN 7 ............................................................................................................................ 282
Phẩm 21: SỰ HƯNG LẬP CỦA MỘT NGÀN VỊ PHẬT .................................................. 282
QUYỂN 8 ............................................................................................................................ 314
Phẩm 22: NÓI VỀ SỰ PHÁT TÂM TU TẬP CỦA MỘT NGÀN VỊ PHẬTT .................. 314
Phẩm 23: CA NGỢI VỀ CÁC VIỆC XƯA ........................................................................ 337
Phẩm 24: GIAO PHÓ, DẶN DÒ ........................................................................................ 345
SỐ 426 – KINH THIÊN PHẬT NHÂN DUYÊN ............................................................ 351
SỐ 427 – KINH BÁT CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ ......................................................... 383
SỐ 428 – KINH BÁT DƯƠNG THẦN CHÚ .................................................................. 389
SỐ 429 – KINH BÁT BỘ PHẬT DANH .......................................................................... 393
SỐ 430 – KINH TÁM ĐIỀU AN LÀNH .......................................................................... 397
SỐ 431 – KINH DANH HIỆU TÁM ĐỨC PHẬT .......................................................... 401
SỐ 432 – KINH MƯỜI ĐIỀU AN LÀNH ........................................................................ 407
SỐ 433 – KINH BẢO VÕNG ............................................................................................ 411
SỐ 434 – KINH KHEN NGỢI CÔNG ĐỨC CỦA CHƯ PHẬT .................................. 455
QUYỂN THƯỢNG ............................................................................................................ 455
QUYỂN TRUNG ............................................................................................................... 479
QUYỂN HẠ ........................................................................................................................ 500
SỐ 435 – KINH DIỆT TRỪ TỐI TĂM TRONG MƯỜI PHƯƠNG ............................ 525
SỐ 436 – KINH THỌ TRÌ DANH HIỆU BẢY ĐỨC PHẬT SINH RA CÔNG ĐỨC ........... 535
SỐ 437 – KINH ĐẠI THỪA BẢO NGUYỆT ĐỒNG TỬ VẤN PHÁP ....................... 541
SỐ 438 – KINH ĐẠI THỪA ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT QUAN ......................... 547
QUYỂN THƯỢNG ............................................................................................................ 547
QUYỂN HẠ ........................................................................................................................ 552
SỐ 439 – KINH PHẬT THUYẾT VỀ CHƯ PHẬT ....................................................... 559
SỐ 440 – KINH PHẬT DANH .......................................................................................... 563
QUYỂN 1 ............................................................................................................................ 563
QUYỂN 2 ............................................................................................................................ 600
QUYỂN 3 ............................................................................................................................ 625
QUYỂN 4 ............................................................................................................................ 663
QUYỂN 5 ............................................................................................................................ 698
QUYỂN 6 ............................................................................................................................ 734
QUYỂN 7 ............................................................................................................................ 770
QUYỂN 8 ............................................................................................................................ 801
QUYỂN 9 ............................................................................................................................ 834
QUYỂN 10 .......................................................................................................................... 864
QUYỂN 11 .......................................................................................................................... 894
QUYỂN 12 .......................................................................................................................... 930
/38
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »