Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 148, Bộ Luận Sớ III, Số 1821 (Quyển 17- 36)

Đại Tập 148, Bộ Luận Sớ III, Số 1821 (Quyển 17- 36)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 975.

Chương 16: Câu - Xá Luận Sớ - Quyển 1 (phần 2) (Trang 712 - 770)

CÂU-XÁ LUẬN SỚ

QUYỂN 1 (Phần 2)

1. Giải thích riêng năm uẩn:

Luận chép: “Như ở trên nói”, cho đến “sắc uẩn thì thế nào v.v… trở xuống, gồm hai mươi hàng tụng, giải thích riêng năm uẩn, đồng thời phân biệt xứ giới, trong đó có mười ba đoạn, chia thành bốn tiết:
Năm bài tụng rưỡi đầu nói về sắc uẩn và phân biệt xứ, giới, phần này lại có năm:
a) Gồm nữa bài tụng thứ nhất nêu chung mười một thứ sắc.
b) Nửa bài tụng kế tiếp, nói về năm sắc căn.
c) Một bài tụng, nói về năm sắc cảnh.
d) Ba bài tụng phân tích sắc vô biểu.
e) Nửa bài tụng, dùng sắc uẩn phân biệt xứ, giới.
Đây là phần đầu.
1) “Tụng chép” cho đến và “vô biểu” là kế nêu tụng đáp.
“Luận chép” cho đến “đặt tên là sắc uẩn”: là giải thích bài tụng, lời văn rất dễ hiểu.
2) Luận chép: Trong đây, trước lẽ ra nói tướng của năm căn: Đây là nửa bài tụng thứ hai nói về tướng của năm căn.
2. Nói về thức:
“Luận chép” cho đến Năm căn như mắt căn v.v… là giải thích văn tụng. Chữ “thức kia” có hai giải thích: Một, Các thức như sắc v.v… kia. Hai, Các thức như mắt thức , v.v… kia. Giải thích thứ nhất nói, sở y của sắc thức gọi là mắt cho đến sở y của xúc thức gọi là Thân căn.
Luận chép: “như Thế tôn nói” cho đến “nói rộng như thế” là dẫn kinh để chứng minh năm căn là tịnh sắc.
Luận chép: “hoặc lại kia”, cho đến “tỉ, thiệt, thân thức” là thứ hai giải thích, thức từ căn mà có tên.
Luận chép: Sở y của thức kia, cho đến “nghĩa sở y chỉ”. Y nói sở y của mắt thức gọi là mắt, cho đến sở y của thân thức gọi là thân căn.
3. Dẫn văn chứng minh:
Luận chép: “như thế là thuận” cho đến “nói rộng như thế” là phần dẫn văn để chứng minh thuyết sau là đúng, các luận đều giống nhau. Luận Chánh Lý, trước nói: thức từ căn mà đặt tên, sau đổi thành chánh thuyết, hữu thuyết.
Kia là cảnh, chẳng phải căn. Vả lại, không có việc ý thức duyên
sắc, v.v… nên gọi là sắc thức, v.v…
Gọi nhãn là sở y của sắc thức là sai, cho nên lấy tịnh sắc mà nói là để phân biệt. Giải thích: nói tịnh sắc sở y là để phân biệt với ý thức. Sở y của ý thức chẳng phải tịnh sắc. Lại nói: Nếu vậy, nói sắc trở thành vô dụng vì các thức dựa vào tịnh sắc gọi là các căn như mắt v.v… nghĩa đã thành tựu. Mà, không có sở y của thức, tịnh mà chẳng phải sắc, vì để phân biệt với ý căn cho nên dùng sắc mà nói.
Giải thích: Đó là vặn hỏi. Nếu nói tịnh sắc là để phân biệt với ý căn thì chỉ cần tịnh, không cần mượn sắc mà nói, trong tất cả các pháp, tịnh có hai thứ: một là năm căn, hai là tín. Tín là tâm sở chẳng phải sở y của ý thức. Năm căn là sắc, chẳng phải ý căn. Vậy, chỉ nói các thức nương vào tịnh là đã phân biệt với ý căn rồi, dùng thêm chữ sắc, thì thành vô dụng.
“Giải thích như vậy”, là để dứt trừ nghi nạn nên dùng chữ sắc. Nếu nói thức y, thì thuộc về hữu tài thích, lý đáng tịnh tin phải được gọi là các căn như mắt căn v.v… Do vậy, dùng chữ sắc là để phân biệt với giải thích này. Không có một pháp nào lấy thức làm sở y. Vả lại sắc mà tịnh là ở giải thích này, cho nên dùng chữ sắc mà nói là rất cần thiết.
Giải thích: Nói thẳng là thức kia nương và tịnh, nếu hữu tài thích thì tín gọi là thức y. Do tín là thức y nên có thức sở y, giữ lấy tên thức nên gọi là thức y, thế lại là tịnh. Nếu nói thẳng, thức y tịnh mà không dùng chữ sắc để nói thì lạm hữu tài thích. Tín gọi là thức y, cũng lại   là tịnh tức lẽ ra, tịnh tín phải gọi là các căn như mắt căn v.v… Nếu nói theo sắc thì không lạm giải thích này, Vô Sắc là tịnh, dùng thức làm chỗ nương, y theo hữu tài thích mà gọi là thức y, cho nên nói theo sắc rất là hữu dụng.
Có người không hiểu ý này, cho cả ba chữ “thức, y, tịnh” là hữu tài thích. Nói có một phần hữu tài thích, là nhầm. Lại nói, lới nói ở trong đó, vì để phân biệt với bốn căn như nhĩ căn, v.v… kia tuy đền lấy tịnh sắc làm tánh nhưng chẳng phải sở y của mắt thức, cho nên bốn căn kia chẳng thuộc về mắt. Hậu ngôn, là để phân biệt với vô gián diệt y, kia tuy cũng là sở y của mắt căn, mà chẳng dùng tịnh sắc làm tánh, cho nên ý căn kia chẳng thuộc về mắt. Hoặc ở trước nói, là để hiển bày đồng phần nhãn; hậu ngôn là để hiển bày bỉ đồng phần, các căn khác cũng vậy.
Giải thích: tiền ngôn là sở y của mắt thức, hậu ngôn là tịnh sắc. Lại nói, nếu vậy tương tịnh sắc không có sự khác nhau, lẽ ra không thành năm thứ. Nếu không như vậy, thì công năng sẽ khác nhau. Làm
sao biết được công năng khác nhau? Vì không làm sở y chắc chắn ncho cảnh và thức. Cho đến, nói rộng, quan điểm của Hữu Bộ, năm căn lấy tịnh sắc làm thể. Đại chúng bộ, năm căn lấy nhục đoàn làm thể. Giác Thiên lấy bốn đại làm thể.
4. Nói về năm cảnh:
Luận chép: Đã nói năm căn, kế là nói năm cảnh”. Đây là thứ ba, một bài tụng nói về năm cảnh. Trong bài tụng, đặt vị ở trước, hương ở sau - luận Chánh Lý nói rằng nói vượt thứ lớp là để hiển bày các cảnh mà không chắc chắn thức sanh. Luận đã có giải thích này cho nên biết, đặt thanh hương ở sau vị chẳng có gì vi phạm.
“Luận chép” cho đến “bốn sắc khác nhau”: Là giải thích năm cảnh, trong đây, văn có sáu đoạn: năm cảnh là năm đoạn, đoạn thứ sáu là sanh thức chung riêng, theo biệt giải thích, trong sắc cảnh có ba:
1) Giải thích hai sắc.
2) Chia ra hai mươi sắc.
3) Phân biệt bốn trường hợp.
Phần một giải thích hai sắc, nói hai sắc một là hiển sắc, hai là hình sắc. Hiển sắc gồm có bốn mầu căn bản: xanh, vàng, đỏ, trắng. Các hiển sắc khác chỉ là sự sai khác của bốn sắc này mà thôi. Đó là vân, yên, trần, vụ, ảnh, ánh sáng, sáng, tối. Tám sắc này tùy theo các sắc căn kia mà có, tức là biến trạng khác nhau của các sắc xanh, vàng, đỏ trắng. Do khí này v.v… gọi là mây; do lửa gọi là khói; mạc bay gọi là trần; địa khí gọi là vụ; do mặt trời gọi là ánh sáng; do mặt trăng; châu báu gọi là minh ngăn che ánh sáng mặt trăng; mặt trời mà trong đó sanh ra vật khác có thể thấy gọi là ảnh; ngược lại ảnh gọi là tối. Tuy tám thứ khác nhau chẳng giống nhau nhưng căn bản vẫn chỉ là xanh, vàng, đỏ, trắng. Cũng có các sắc khác như biếc, hồng, tía, lục v.v… đây chỉ là mức độ đậm nhạt không giống nhau. Ly hợp tạo nên sự khác biệt, thật sự không độc lập. Xanh nhạt gọi là biếc; đó nhạt gọi là hồng; xanh hợp trắng thành lục; đỏ hợp đen thành tím.
5. Nêu tám thứ hình sác:
Luận chép: “Hình sắc có tám” cho đến “bất chánh là sau”: Ở đây nêu tám thứ hình sắc. Luận Chánh Lý nói, trong đó hiển sắc có hai mươi loại; hình sắc có tám thứ, tên gọi như sau:
Luận chép: “Hoặc hai mươi” cho đến “bóng, ánh sáng, sáng, tối” được chia thành hai mươi thứ sắc.
Luận chép: “Có sư khác nói” cho đến thứ hai mươi mốt: Là nói về các thuyết khác. Các Sư này ý nói rằng, không nhất hiển sắc chẳng
phải sáng, tối; lập riêng sắc này cho nên có đến hai mươi mốt loại. Theo chánh nghĩa của Bà-sa, không nhất hiển sắc tức là một phần sắc của không giới. Sắc của Không giới chính là các sắc sáng, tối v.v… không có thể tánh riêng. Nhưng sáng, tối, v.v… lại là biến trạng khác nhau của bốn màu xanh vàng đỏ trắng tạo nên. Do vậy, Thức Thân Túc Luận quyển hai mươi mốt chép: không nhất hiển sắc như xanh, vàng… chỉ dò sự khác nhau của xanh, vàng v.v… cho nên nói là Như.
6. Vặn hỏi để giải thích hình sắc:
Luận chép: “Trong đây chánh giả” cho đến nên nay không giải thích. Theo vặn hỏi để giải thích hình sắc. Tướng của hình sắc, xưa nay các Luận sư, phần lớn không nắm được ý, không dựa vào Thánh giáo, nên nói về tướng trạng của nó bị nhầm lẫn. Nay nói về tướng này, chia làm hai: 1) Nói về nghĩa đúng. 2) Nói về thuyết khác, nêu lỗi. Phần nói về nghĩa đúng các luận của Đại thừa, Tiểu thừa, nói rằng không phải do tướng của tám mầu đối đãi nhau mà lập nên dài ngắn. Luận chép Đại thừa thành nghiệp: đối với các tông như Hữu Bộ… thành lập tướng của tám sắc; phẩm Nghiệp của luận này, Kinh Lượng bộ đối với Hữu Bộ lập ra tướng của tám mầu đều nói; thấy một mặt ngang bằng khởi lên nhận thức cho là chánh. Thấy một mặt so le, khởi lên nhận thức cho là bất chánh. Thấy một mặt nhiều, khởi lên nhận thức cho là dài. Thấy một mặt ít, khởi lên nhận thức cho là vuông. Thấy từ một điểm mà khởi lên nhận thức cho là tròn. Thấy có trồi lên, phát sinh nhận thức cho là cao. Thấy lõm xuống, phát sinh nhận thức cho là thấp. Hai luận này, có khác nhau chút ít, phần nhiều đồng nhau. Y theo luận thì hai sắc dài, ngắn chẳng phải do hình thành lẫn nhau mà do thế khác nhau. Theo luận, thể tướng được tạo nên đều khác nhau. Theo Giải thích của Đại thừa thì chính ngay hiển sắc an bố khác nhau, gọi là dài ngắn, v.v… giải thích của Hữu Bộ thì riêng có một hình vi, nhiếp trì thành tám tướng khác nhau này. Từ xưa, các Luận sư Đại thừa, Tiểu thừa đều nói rằng, một mặt nhiều tên gọi là dài; một mặt ít tên gọi là ngắn. Các giải thích như thế đều không nắm được ý cho nên nói rằng, đối đãi nhau mà thành lập dài ngắn v.v… Nay giải thích một mặt nhiều , trong sáu mặt có một mặt nhiều; cũng trong sáu mặt có hai mặt nhiều, sợ khó hiểu cho nên nói một mặt nhiều như trên, măng, dưa v.v… gọi là dài sắc. Nếu nói hai mặt nhiều, người ta không hiểu, đó là hai mặt nào; trong sáu mặt, cho nên nói là một mặt nhiều. Một mặt ít, ngược lại với một mặt nhiều. Trường là tế, ngắn là thô cho nên trong tám sắc không lập thô tế. Trong phẩm Nghiệp của luận Chính Lý chép rằng, ngoài hiển sắc vẫn có hình
vi riêng biệt, đó là cảnh của mắt thức; chứa nhóm trường v.v… là giả chẳng thật, chỉ có ý thức không duyên với cảnh của mắt thức. Trường này, v.v… chủ yếu do hình sắc nhiếp trì các sắc cho nên mới có phần lượng. Vật khác trong đó, bác bỏ thành phần riêng. Trung có thể đục thành lỗ v.v… mới có hình sắc. Ý của luận: chỉ nói ngoài hiển có hình vi riêng, không nói tám thứ hình vi có thể tánh riêng.
7. Giải thích rõ hơn:
Nay giải thích rõ hơn. Hình sắc như dài v.v… có hai:
1) Đối đãi nhau mà được tên gọi.
2) Hình lượng khác nhau.
Đối đãi nhau đặt tên, thể không chắc chắn, trong đây không nói. Hình lượng đều khác, thể khác nhau nhau, là ở đây nói. Luận Bà-sá quyển chín nói năm thứ tương đãi hữu, đó là: bờ đây bờ kia, dài ngắn, v.v… là chẳng phải nêu rõ thể loại của sắc khác nhau. Các pháp dài ngắn chung với các pháp khác cho nên dầu đối với sắc cũng không trái. Ở đây thuộc về đối đãi nhau ở trước mà có tên gọi. Về hình lượng đều khác, lại có hai thứ: một là duyên từ ngoài đến như vàng đá, đợi thợ mới thành dài, v.v… hai là chủng tánh khác nhau như tánh muối là vuông, dầu tan thành nước, sau cũng trở lại vuông. Việt qua tự trường, dưa tánh ngắn cho nên hồ đào có cao thấp, anh đào tự tròn, đậu giác tánh tà, những vật như vậy, chủng loại không giống nhau, hoặc chờ duyên mới thành, hoặc chủng loại khác nhau đều chẳng phải đối đãi nhau lập danh. Như cây kim, tuy đối với dưa là ngắn nhưng lại là dài sắc. Qua lâu, tuy đối với cây táo là dài mà lại là ngắn sắc. Tất cả đều do năng lực của cực vi dài ngắn, khiến thành trưởng v.v… nhỏ nhiệm của trưởng ngắn không lìa nhau. Lại cũng chính từ đây mà không lập dài ngắn trong các cảnh khác, không có hình vi riêng, khiến đồng thời nhóm thành dài, v.v… văn khác dễ hiểu, nên không giải thích.
8. Các thuyết khác:
Nói về các thuyết khác, có người nói, dài ngắn, cực vi của dài ngắn đều có thể tánh riêng, xen nhau tồn tại. Hình dài thấy ngắn, hình ngắn thấy dài.
Văn hỏi rằng: giải thích này trái với giáo lý. Trái với giáo ấy, dựa vào kinh luận nào mà nêu ra giải thích này. Vả lại nói trái ngược với luận Thành nghiệp và luận này. Một mặt nhiều gọi là dài; một mặt ít gọi là ngắn. Nói trái lý tức là trong một sắc có đầy đủ cực vi của trưởng ngắn. Hình trường kiến ngắn, hình ngắn kiến trường tức y theo đây thì vô trường không thấy ngắn; vô ngắn không thấy trường.
Nếu vậy, có dài, có ngắn đồng thời xuất hiện lẽ ra phải thấy vừa trường vừa ngắn. Nếu không có cái lúc dài ngắn đồng thời đó, lẽ ra   sự vật sẽ không được thấy hai sắc dài ngắn. Ngay trước mắt, khi tác ý chấp lấy sắc dài, sắc ngắn, do đâu mà không thấy, phải đợi tương hình là không hợp lý. Lại, chờ so sánh mới biết đó là cảnh của ý thức, chẳng phải đối tượng của mắt thức; nhãn thức không thể so lường các duyên cho nên biết là phi lý. Lại nói, khả lượng trở đi gọi là dài; bất khả lượng gọi là ngắn. Cũng trái với giáo, lý và trái với thế gian. Trái giáo thì như văn trước đã dẫn. Trái lý: như trong xúc không thể gọi là nhẹ, không thể gọi là nặng, không thể phân biệt nhiều ít. Chỉ kéo xuống gọi là nặng xúc, đây cũng nên như vậy, chỉ có phần lượng nên gọi là dài. Thất vi đã nói ở trên tức có phần lượng nên gọi là dài. Thế gian thì không thấy sắc ngắn: là trái với thế gian, tất cả thế gian đều không nói khả lượng gọi là dài, bất khả lượng gọi là ngắn.
9. Tự hỏi, tự đáp:
Lại tự hỏi đáp rằng, cực vi của ngắn này rất nhiều, vì sao nói là bất khả lượng. Giải thích: Tuy có nhiều thể của không thể lường, như khinh cực vi, tuy có nhiều thế nhưng vẫn không thể xưng. Cực vi ngắn tuy nhiều, nhưng bất khả lượng. Nếu nói mắt thấy chẳng phải bất khả lượng; thế thì hiển cũng nhãn thấy, lẽ ra là khả lượng. Nếu nói đồng   tụ lẽ ra là khả lượng thì hương, v.v… cũng đồng nhóm, lẽ ra cũng khả lượng. Ở đây, đa tạp trú mà bất khả lượng, dài ngắn xen lẫn cũng bất khả lượng. Theo giải thích trên hoàn toàn không có lý thú, trước sau trái nhau. Theo phần nêu tôn ở trên, giải thích các sắc dài ngắn khác nhau. Thứ hai giải thích rằng: khả lượng trở lên gọi là dài sắc tức nhóm sắc khả lượng gọi là dài; nhóm sắc bất khả lượng gọi là ngắn. Giải thích nghĩa chữ Tạp là nói, cực vi ngắn trường xen lẫn tồn tại. Y theo đây thì khả lượng trở lên cùng với phần nêu tông trái ngược lẫn nhau hay sao? Lại dẫn xúc để ví dụ cũng không hợp lý. Thể tánh cực vi không chắc chắn là nặng. Cho nên có một loại xúc vi không thể lôi kéo, phần nhiều cũng chẳng phải trọng. Thất vi thể là pháp đối ngại cho nên nhiều thì khả lượng. Làm sao thành ví dụ được. Lại tự giải thích tướng của sắc rằng, trồi lên ở giữa gọi là cao; lõm xuống ở giữa gọi là thấp. Tự hỏi đáp rằng: trường và cao, có gì khác, ngắn và dưới có gì khác. Tự giải thích: dài ngắn là theo chiều ngang; cao thấp là y theo chiều dọc. Theo đây thì trước sau trái nhau. Đây có thể, trồi dọc gọi là cao; trồi ngang gọi là dài; lõm thẳng xuống gọi là dưới; lõm ngang gọi là ngắn. Lại, các Luận sư Đại thừa đều nói: nhóm, hiển để thành dài v.v… Lại nói ngắn,
v.v… Là đối đãi nhau mà lập nên biết rằng ngắn là giả nhóm của dài v.v… là duyên của ý. Sắc xứ là thế nào? Lại, tự xúc v.v… sao lại không phải là dài sắc.
10. Có bốn trường hợp:
Luận chép: “Hoặc hữu sắc xứ” cho đến “bóng, áng sáng, sáng, tối”. Đây là thứ ba, chia ra bốn trường hợp, nay sẽ giải thích bốn trường hợp để biết hình sắc. Nay giải thích. Hình lượng có ba thứ khác nhau:
1) Nhóm cực vi không nương gá, bên trong có thể đục thủng thành lỗ v.v… như tường cây, v.v…
2) Tự có hình lượng, không nương gá cái khác, như mây khói, v.v…
3) Đợi duyên mới thành hình lượng, không dao động được. Như ánh sáng, bích họa v.v… có người nói, họa hữu hình ấy là sai. Các luận, phần nhiều chấp hình sắc thứ nhất làm hình, hoặc chọn thứ hai hoặc chọn thứ ba. Tám thứ hình sắc ở văn trước chính là loại thứ nhất. Trong đây, bốn trường hợp bao gồm cả loại hình thứ hai, vì mây, khói đều nằm trong câu cú, hoặc có khi sắc xứ có hiển vô hình: nghĩa là không và hình sắc đồng nhóm hiển bày, tức là trừ câu mười hai, v.v… còn lại tất cả hiển khác chẳng phải hình, xanh v.v… đều là hiển. Luận Chánh Lý quyểnba mươi tư chép: Hoặc có nhóm sắc cả hai đều có thể hiểu, đó là các nhóm hình, hiển khác nhau. Do chẳng phải đối với nhóm này, bỏ cái này mà chọn cái khác được. Theo đây nên biết, khác nhau nhóm với hình gọi là hiển, chẳng phải hình.
Luận chép: “Hoặc có sắc xứ” cho đến “thân biểu nghiệp tánh” thuộc câu thứ hai. Sắc của thân biểu nghiệp, tuy vào lúckhởi cùng với cựu nối tiếp hiển sắc đồng nhóm nhưng không chắc chắn là câu. Mới khởi liền diệt thì khác với hiển sắc. Mới khởi không có tân hiển sắc, liền diệt, xưa hiển sắc nối tiếp. Luận Chánh Lý nói rằng thân biểu được gọi là sai khác của hình. Lý này cực thành. Đó là từ tâm gia hạnh phát sinh ra một loại hình sắc, không trú đẳng lưu đãi chủng quả, không chờ các sắc khác làm nhân sanh của mắt thức, hay ngăn che hình sắc có công năng nuôi lớn của dị sanh. Hình sắc như vậy gọi là thân  biểu.
11. Đồng nhóm sắc hình và hiển:
Luận chép: “Hoặc hữu sắc xứ” cho đến là sắc còn lại: Đây là  câu ba, là đồng nhóm sắc của hình và hiển. Như ở trước, dẫn văn luận Chánh Lý.
Luận chép: Có Sư khác nói cho đến có dài v.v… là nói về các thuyết khác. Các vị Luận sư này lấy hình sắc thứ ba. Ngoại trừ, một
phần của sắc ánh sáng, sáng, không phải hình; nghĩa là ánh sáng, minh được phát ra từ nơi vô chướng ngại. Sắc đó nhẹ, nhỏ cho nên không có phần lượng. Có người nói, mới sanh trí là sai.
Luận chép: Làm sao một việc có đủ hiển hình: Đây là vặn hỏi của Kinh Lượng bộ. Ý nạn vấn rằng: sắc xứ của trường, v.v… tức là hiển vi, ở vị nhóm họp, đặt tên khác nhau; làm sao một pháp cực vi vừa hiển vừa hình?
Luận Vì ở trong đó, cho đến nghĩa chẳng phải có cảnh: Luận chủ lấy ý của kinh lượng để trả lời. Trong đó, thật sự một sắc sanh hai trí hiển hình cho nên nói, vừa hiển vừa hình. Cho nên biết được, không phải dựa vào lời đáp của Hữu Bộ. Luận Chánh Lý chép, Kinh chủ trương câu hỏi trước: làm sao một pháp lại có đủ hai thể ấy. Nạn vấn này không thành, chẳng được chấp nhận, thuật rằng, hiển vi, hình vi, thể của chúng khác nhau, không thể chấp nhận rằng, một pháp lại có cả hiển lẫn hình.
Luận chép: Nếu thế thì trong thân biểu cũng có hiển trí”: là câu luận chủ nạn tuyệt. Nếu sanh hai trí nên nói vừa hình vừa hiển, thì lẽ ra thân biểu lẽ ra cũng sanh hai trí một vị Sư của luận Bà-sa quyểnbảy mươi lăm chép: Trong hai mươi sắc, thì tám sắc có hiển không có hình, đó là xanh, vàng, đỏ, trắng, bóng, ánh sáng, sáng, tối; mười hai sắc còn lại, vừa có hiển, vừa có hình. Các Sư này ý nói rằng có hình thì phải có hiển, tự có hiển không có hình. Có bốn trường hợp của một Sư giống với luận này, câu bốn lấy không giới sắc, phi hình phi hiển, do thường bị sáng, tối che lấp. Bốn trường hợp này chẳng phải nghĩa đúng. Nghĩa đúng là sáng, tối là thể của không giới. Lý hợp với hiển, chẳng phải hình. Nhưng, dài v.v… nói trong bốn trường hợp này là nhóm giả như dài… chẳng phải thật là cực vi. Các nhóm như dài v.v… này có hai thứ cực vi hình và hiển, cho nên nói vừa hình vừa hiển. Chẳng phải cực vi của dài ngắn, v.v… cũng là hiển. Bốn trường hợp này dựa vào sắc xứ mà lập nên. Luận Chánh Lý quyển ba mươi tư chép: có thuyết nói hương, vị, xúc và sắc vô biểu là thứ tư, tức dựa vào sắc uẩn lập bốn trường hợp. Thanh không thưởng hằng nên không xếp vào câu phi. Nói theo uẩn thì chẳng  phải là nghĩa đúng, trong đây có nói về sắc xứ.
12. Hỏi đáp chung:
Hỏi: Trong nước, giường có các ảnh tượng, đó là thật có hay chẳng phải thật có? Đây chỉ là giả nêu ra thí dụ, chẳng phải thật có. Vì sao? Vì khuôn mặt không có trong gương, gương không ở trước mặt, làm sao trong gương có ảnh của khuôn mặt. Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: đó là thật co, là cái mà mắt thấy được, sở duyên của mắt thuộc về sắc xứ.
Hỏi: mặt không có trong gương, gương không ở trước mặt, sao nói là thật có?
Đáp: Nhân duyên sanh ra sắc, có rất nhiều lý, cho nên kia chẳng phải vặn hỏi. Như duyên ánh trăng,nguyệt ái châu khí có nước ở trong đó, chẳng phải không thật có. Nước được sinh ra kia có tác dụng thật sự của nước, có rất nhiều ví dụ v.v… Hang trống có hai thuyết: thuyết dụ do có sát-na diệt nên không đến hang, cho nên không có. Các Luận sư nói: làm phát sinh nhĩ thức nên nói là có.
Hỏi: Hình tướng này trong hai mươi loại, thuộc về loại nào?
Đáp: Chẳng thuộc loại nào cả. Do đó, luận Bà-sa quyển bảy mươi lăm giải thích trong hai mươi sắc đã nói riêng về tượng sắc rồi, hoặc nằm trong bốn sắc, các tượng sắc xanh, v.v… thì xếp vào xanh, v.v… không thể dùng bổn sắc mà vặn hỏi tượng sắc. Chướng ánh sáng sanh v.v… là giải thích bổn sắc. Hình hiển phần là nói về sai khác. Tượng sắc thì xếp vào hiển sắc; nếu từ bản chất, cũng thuộc chung về hình. Đây là nói về tượng, không thể dùng bổn hình để vặn hỏi. Chánh Lý có văn chép: nói hiển sắc là nói riêng về bổn tượng.
Luận chép: “Đã nói sắc xứ sẽ nói về thanh xứ”: Dưới đây , là giải thích thanh xứ, chia làm bốn đoạn: 1/ Văn trước kết dẫn. 2/ Nêu số lượng tên gọi. 3/ Y theo tên giải thích riêng. 4/ Phá thuyết khác. Luận Chánh Lý chép: có công năng kêu gọi là thanh; hoặc chỉ có âm hưởng gọi là thanh. Thuật rằng, trước là ngữ thanh, sau chẳng phải ngữ thanh
13. Nêu số lượng tên gọi:
Luận chép: “Thanh chỉ có tám thứ” cho đến “sai khác thành tám”. Đây là phần nêu số lượng tên gọi. Bốn thanh trước, mỗi thanh đều có hai nghĩa vừa ý và bất không vừa ý khác nhau cho nên thành tám thứ.
Luận chép: “Chấp thọ đại chủng” cho đến “đại chủng là nhân” trở xuống là thứ ba, giải thích riêng theo tên. Đoạn này nói chấp thọ đại chủng, phi chấp thọ đại chủng, là nhân của thanh. Đối với chấp thọ đại chủng là nhân của thanh; hữu là thanh hữu tình danh, nghĩa là ngữ biểu nghiệp. Hữu, phi thanh hữu tình danh là các chấp thọ đại chủng khác là nhân của thanh, đối với phi chấp thọ đại chủng là nhân của thanh, chỉ là phi thanh hữu tình danh.
14. Giải thích danh thanh:
Luận chép: “Thanh hữu tình danh” cho đến “phi thanh hữu tình danh”: Là giải thích thanh hữu tình danh và phi thanh hữu tình danh. Nói thanh hữu tình danh là ngữ biểu nghiệp, Phi là tất cả ngữ biểu nghiệp đều là thanh hữu tình danh. Luận Chánh Lý chép: ngữ biểu nghiệp này
lại có hai thứ, đó là loại nương danh mà khởi và loại không đợi danh. Lại y theo văn này, thanh hữu tình danh là một phần của chấp thọ đại chủng. Phi thanh hữu tình danh là chẳng phải chấp thọ đại chủng làm nhân thanh hoàn toàn. Và có một phần chấp thọ, thanh hữu tình danh chắc chắn là có chấp thọ đại chủng làm nhân, lại nữa phẩm Nghiệp ở dưới nói: thân biểu nghiệp ngữ biểu nghiệp chắc chắn có chấp thọ đại chủng làm nhân. Cho nên biết, luận này, thanh hữu tình danh phải có chấp thọ đại chủng nhân phát khởi. Là số hữu tình, có đắc đắc “chẳng phải lời của hóa nhân”. Những lời của hóa nhân chẳng phải chấp thọ đại chủng làm nhân của thanh, như theo luận Chánh Lý quyển một, nói rằng hữu chấp thọ đại chủng làm nhân âm thanh, vô chấp thọ đại chủng làm nhân thanh, thanh số hữu tình, phi thanh số hữu tình. Thuật rằng văn này, chấp thọ đại chủng làm nhân thanh, tức là thanh số hữu tình. Vô đại chủng chấp thọ là nhân của thanh, tức là thanh số hữu tình. Lại nói trong tám thứ, chỉ có loại một và hai là hợp lý; vì số hữu tình, phi số hữu tình đều thuộc về chấp thọ và phi chấp thọ đại chủng làm nhân thanh. Y theo văn luận này, trong vô chấp thọ làm nhân thanh không có thanh hữu tình danh và thanh số hữu tình, cũng không có đắc đắc. Thanh hữu đắc đắc là số hữu tình. Y theo văn luận này, thanh được chia thành bốn thứ, bất luận bốn trường hợp rộng hẹp, không giống nhau, chỉ y theo nghĩa khác nhau mà chia thành bốn thứ, tạo định, đạo giới đại chủng va vào nhau phát thành tiếng; chẳng phải là vấn đề nói ở đây. Hoặc có thể, các đại chủng kia không tự va vào nhau làm phát ra thanh. Luận Bà-sa cũng đồng ý có bốn đại chủng không va vào nhau phát ra tiếng.
Hỏi: nếu vậy, vì sao nhập A-tỳ-đạt-ma quyển một nói thanh có hai thứ là hữu chấp thọ đại chủng và vô chấp thọ đại chủng làm nhân nên có khác nhau. Đọa tự thể là hữu chấp thọ (tự thể là tự thân), đó là nghĩa giác thọ. Trái với nghĩa này gọi là Vô chấp thọ. Tiền sở sanh giả gọi là hữu chấp thọ đại chủng làm nhân. Đó là tiếng gió, thổi, tiếng rừng cây v.v…
15. Danh thanh này chia ra làm bốn:
Thanh hữu tình danh, phi thanh hữu tình danh này sai khác thành ra có bốn: đó là trong các thanh trước; ngữ thanh gọi là thanh hữu tình danh. Các thanh khác gọi là phi thanh hữu tình danh. Trong các thanh sau, hóa ngữ thanh gọi là thanh hữu tình danh, các thanh khác gọi là phi thanh hữu tình danh. Theo văn luận này, lấy hóa nhân ngữ là vô chấp thọ làm nhân thanh hữu tình danh; nhưng không gọi là Nghiệp. Theo văn này thì trái với luận Chánh Lý. Ở luận này, thanh hữu tình danh
chỉ có ngữ biểu nghiệp, chỉ có chấp thọ đại chủng làm nhân thanh. Hóa nhân ngữ, tất cả đều đồng ý rằng chẳng phải chấp thọ đại chủng làm nhân thanh, cho nên biết chẳng phải thanh số hữu tình và thanh hữu tình danh.
Nhập A-tỳ-đạt-ma chấp nhận, chẳng phải chấp thọ mà nói hóa ngữ thanh hữu tình danh, há chẳng phải trái nhau ư!
Đáp: mỗi bên theo một nghĩa cho nên không giống nhau. Các luận này, y theo thanh này là vô đắc đắc cho nên chẳng phải thanh hữu tình danh. Luận Chánh Lý nói chẳng phải thanh số hữu tình. Nhập A-tỳ-đạt- ma  y theo hữu tình tâm phát cho nên nói thanh hữu tình danh.
Hỏi: nếu vậy, vì sao luận Bà-sa quyển mười ba nói thanh xứ có tám thứ, đó là chấp thọ đại chủng nhân thanh, phi chấp thọ đại chủng nhân thanh. Mỗi loại lại có hai là thanh hữu tình danh, phi thanh hữu tình danh. Và những loại này lại có vừa ý, không vừa ý khác nhau tạo thành tám thứ.
16. Bác bỏ chẳng phải nghĩa đúng:
Đáp: Ý Luận sư này giống với Nhập A-tỳ-đạt-ma, nhưng chẳng phải nghĩa đúng. Luận Chánh Lý và luận này không dùng nghĩa đó. Cho nên luận Bà-sa quyển hai mươi hai chép, hỏi: các hóa ngữ có phải là nghiệp hay không? Có lập luận rằng đó ngữ nghiệp, vì do tâm phát sinh. Có các Luận sư khác nói, đó chẳng phải là ngữ nghiệp, chỉ gọi là ngữ thanh, vì thân sở hóa không có chấp thọ.
Hỏi: Luận Bà-sa đối với hai thuyết đó không phê bình, như thế thì thuyết nào đúng?
Đáp: chẳng phải nghiệp là đúng, cho nên biết được như vậy là do trong phẩm nghiệp của luận này, thân biểu nghiệp, ngữ biểu nghiệp chỉ có chấp thọ đại chủng làm nhân. Hóa nhân ngữ, đã cũng đồng ý rằng, chẳng phải chấp thọ đại chủng làm nhân cho nên biết chẳng phải nghiệp.
Lại y theo Chánh Lý quyển sáu mươi tư, trong phần giải thích phát ngữ có nói rằng ở trong miệng gọi là ngữ, cũng là nghiệp, khi phát ra bên ngoài chỉ gọi là ngữ, không gọi là ngữ nghiệp. Theo văn luận đó, hóa nhân ngữ là lìa thân viễn hưởng, làm sao thành nghiệp được.
Hỏi: Nếu chẳng phải nghiệp thì có đắc đắc hay không?
Đáp: đã chẳng phải hữu tình thì không có đắc đắc.
Hỏi: làm sao biết được hoá thanh là vô đắc?
Đáp:
1) Theo luận Chánh Lý nói chẳng phải chấp thọ đại chủng làm
nhân thanh, cũng chẳng phải thanh số hữu tình, không có rộng hẹp. Đã cùng đồng ý rằng, hóa nhân chẳng phải chấp thọ cho nên biết không thành tựu.
2) Y theo nghĩa của các nhà phê bình của Bà-sa và văn sau của luận này, thì thân cõi Sắc làm hóc cõi Dục. Các vật hóa ra như hương, vị, như vật trang nghiêm, còn không thành tựu, làm sao lìa chất hóa ngữ mà được thành tựu?
17. Nói về sắc sở tạo:
Có người dẫn Bà-sa quyển một trăm ba mươi hai chép: có sắc sở tạo thành tựu Cõi Dục hệ; cũng có sắc sở tạo thành tựu Sắc giới hệ. Nghĩa là sanh cõi Dục thành tựu tâm thiện cõi Sắc; nếu sanh cõi Sắc thì hóa thành cõi Dục, phát ngữ cõi Dục. Y theo văn này nếu hóa ngữ không thành tựu thì làm sao nói thành sắc của hai cõi này được.
Bác bỏ rằng: đây không thành chứng, vì có cả giải thích khác. Ở trước đã dẫn văn chứng minh, hóa nhân không có “đắc” văn là chắc chắn. Văn này dễ có hai giải thích cho nên không thành chứng. Ở đây nói tức là hai cảnh chất hóa, sắc xúc và tức tự thân dùng hóa tâm cõi Dục, phát ngữ cõi Dục, cho nên nói như vậy; chứ chẳng nói đây là sở phát ngữ của lìa chất hóa nhân. Do đó biết được thân sanh cõi Sắc   làm hóa cõi Dục. Một thuyết không hóa hương, vị; một thuyết hóa mà không thành tựu như trang nghiêm cụ. Hóa nhân lìa chất đã sơ lại xa với thân vật trang nghiêm thì làm sao nói ngữ; có nghĩa thành tựu ngoài ra như trước đã nói.
Hỏi: nếu vậy vì sao luận Bà-sa trước sau không có đoạn văn nào nói không thành tựu hóa ngữ lìa chất.
Đáp: đây không phải chỗ nghi nên không nói riêng, tức là xếp vào đều bất thành tựu. Trong pháp vô tình, điều này đã được nói rồi cho nên không nói riêng. Như không nói riêng một cây, một tảng đá v.v… đều gọi là không thành tựu. Lại, như nói tóc, lông, móng tay v.v… không có chấp thọ thì chẳng phải số hữu tình nên không có đắc đắc. Những vật này gần với hóa nhân lìa chất còn không thành tựu, làm sao ngữ của hóa nhân lìa chất ngữ lại nói riêng được.
18. Có danh hay không?
Hỏi: hóa nhân ngữ và tiêu địch v.v… tuy chẳng thành tựu nhưng có danh hay không?
Đáp: chắc chắn không có danh.
Dưới đây, văn luận nói danh là số hữu tình, đã không có đắc đắc, làm sao có danh?
 
Luận chép: “Có thuyết có thanh” cho đến “hợp thanh sở sanh”: là thứ tư bác bỏ thuyết khác. Các Sư thuộc luận Tạp tâm này nói tay và trống hợp lại làm phát sinh ra tiếng gọi là nhân câu thanh, tức là thanh sanh ra từ hai thứ đại chủng.
Luận chép: Nếu không chấp nhân một cho đến thanh cũng nên như thế: Là Luận chủ bác bỏ. Như Bà-sa không chấp nhận:
1) Cực vi hiển sắc.
2) Do bốn đại tạo.
Cho nên biết rằng thanh cũng không được tạo nên từ đại chủng nội ngoại. Nay giải thích rõ hơn, luận nói thanh do đại chủng khác nhau ấy là nghĩa tạo; chẳng phải chỉ do duyên kích phát sinh ra thanh. Luận Chánh Lý chép: tuy có chấp thọ và không chấp thọ, hai tứ đại chủng xúc chạm nhau mà mỗi thứ lớp phát sinh thanh khác nhau. Các thanh kia đều dựa vào tự sở y, không thành ba thể.
19. Nói về vừa ý, không vừa ý:
Hỏi: Vì sao chỉ nói vừa ý, không vừa ý mà không nói âm thanh xử trung?
Đáp: nếu nói vừa ý, trái ý thì có xứ trung. Đã nói vừa ý, không vừa ý là đã gồm hết tất cả các thanh. Ngoài vừa ý, tất cả đều chẳng vừa ý. Đây là thanh vừa ý hẹp, thanh không vừa ý rộng. Trái ý, xứ trung đều là không vừa ý. Lại vừa ý, không vừa ý là nói về mặt số hữu tình, chẳng phải chắc chắn.
Hỏi: Đối với sắc v.v… vì sao không nói vừa ý, không vừa ý…?
Đáp: cũng nên nói hữu chấp thọ v.v… là dị nhân, nhưng tánh của nhân thanh khó biết, chỉ y theo nhân tình v.v… mà nói có khác nhau.
20. Giải thích vị xứ:
Luận chép: “Đã nói thanh xứ nên nói vị xứ”: Dưới đây thứ ba là giải thích vị xứ. Luận Chánh Lý chép: vị là vật ăn, nghĩa là nếm; trong đó có hai:
1) Kết dẫn.
2) Nêu số lượng tên gọi.
3) Đây là phần đầu.
Luận chép: “vị có sáu thứ” cho đến đắng, lạt khác nhau là nêu số lượng tên gọi. Sự sai khác của các pháp có nhiều thứ không giống nhau, không thể nêu ra một ví dụ. Do năm cảnh khác nhau khác nhau nên sắc có hai mươi, thanh có tám, vị có sáu, hương có bốn, xúc có mười một v.v... nghĩa là vị căn bản chỉ có sáu; các vị khác đều là biến tướng của sáu vị này. Luận Tạp Tập chép: hòa hiệp vị v.v… không lìa sáu vị này.
Luận chép: “đã nói vị xứ, bây giờ nói về hương xứ”, là thứ tư giải thích hương xứ. Luận Chánh Lý chép: hương là cái bị ngửi, trong đó có ba:
1) Kết dẫn.
2) Theo Bà-sa quyển mười ba, nói hương có bốn thứ.
3) Theo luận này nói hương có ba thứ.
21. Bà-sa nói bốn thứ hương:
Luận chép: “Hương có bốn thứ” cho đến “có khác nhau” là phần Bà-sa nói bốn thứ hương. Luận Ngũ Sự chép: các thứ làm thích ý gọi là hương tốt, không thích ý gọi là hương xấu. Luận Chánh Lý chép: tăng ích hay tổn giảm đều nương vào thân mà có khác nhau. Có thuyết nói: có yếu nhẹ và mạnh mẽ khác nhau. Thuật rằng: tăng tích, tăng thạnh là hương bình đẳng; tổn giảm, yếu nhẹ là hương bất đẳng.
Luận chép: Trong luận này nói cho đến “và hương bình đẳng” là phần dẫn ba thứ hương của luận này. Luận Chánh Lý giải thích rằng: nuôi lớn các căn đại chủng gọi là hương tốt; trái lại gọi là hương xấu. Trái nhau: nghĩa là tổn hại các căn, không có hai dụng trước gọi là hương bình đẳng, hoặc các phước nghiệp tăng thượng sanh ra gọi là hương tốt, hoặc cái làm tăng thêm tội nghiệp gọi là hương xấu. Chỉ có thế lực sở sanh của bốn đại chủng gọi là hương bình đẳng. Nay giải rõ thêm giải thích trên. Hương tùy theo đó mà có một nghĩa, chẳng chắc chắn. Có sự tổn ích đối với hữu tình không chắc chắn. Ba hương, bốn hương, nói tuy không giống nhau nhưng đều thuộc về hương; lại nhiếp nhập lẫn nhau. Suy nghĩ sẽ hiểu. Chẳng phải nghĩa quan trọng, nên không nói rườm rà.
22. Giải thích xúc xứ:
Luận chép: “Đã nói hương xứ, sẽ nói về xúc xứ” là giải thích xúc xứ. Trong văn có bốn:
1) Kết dẫn.
2) Nêu số lượng, tên gọi.
3) Nhắc lại tên gọi và giải thích.
4) Thông cuộc của giới hệ, đây là phần đầu.
Luận chép: “Xúc có mười một” cho đến và đói, lạnh, khác, là thứ hai số lượng, tên gọi.
Luận chép: Đại chủng trong đây sau sẽ nói rộng: Là thứ ba, nhắc lại tên gọi và giải thích. Trong đây có ba:
1) chỉ cho giải thích ở sau.
2) Ngay thể đặt tên.
3) Nhân thủ tên quả, đây là phần đầu.
Luận chép: Mềm mại gọi là hoạt cho đến “trái với đây là nhẹ” là thứ hai ngay thể đặt tên.
Hỏi: Vì sao trong bảy thứ xúc, chỉ có bốn thứ như hoạt v.v... gọi là tánh, còn các xúc khác, cảnh khác không nói là Tánh?
Đáp: đây là đối với ba thứ sau từ quả vị mà đặt tên. Bốn thứ này từ tự tánh làm tên nên gọi là Tự tánh. Ba thứ sau từ quả làm tên nên không nói Tánh. Các cảnh khác không có đối nhau cho nên không gọi là Tánh. Xứng đáng gọi là nặng nghĩa là có thể kéo xuống, không thể gọi tên nghĩa là không thể kéo xuống và có sức đi lên như khói, lửa, v.v… đều gọi là nhẹ, Các văn khác rất dễ hiểu.
Luận chép từ “Noãn dục gọi là lãnh cho đến ẩm dục gọi là khát” là thứ ba Nhân lấy tên của quả; trong văn có ba:
1) Giải thích tên quả.
2) Kết quy nhân xưng.
3) Dẫn ví dụ chứng thành.
Đây là phần đầu. Muốn ấm, muốn ăn, muốn no là tâm sở dục số. Do trong thân có xúc lực khiến cho muốn ấm, có xúc lực khiến muốn ăn, có xúc lực khiến cho muốn uống. Cái dục khiến cho đó gọi là lãnh, đói, khát chính là do cảm xúc khiến cho kia; tức năng linh xúc từ quả làm tên gọi là lạnh, đói, khát.
23. Kết luận:
Luận chép: Đây đều đối với nhân cho đến nên nói như vậy: Là thứ hai kết luận.
Luận chép: “Như có bài tụng rằng” cho đến “đồng tu dõng tấn lạc” là thứ ba dẫn ví dụ chứng minh. Chư Phật ra đời v.v… cho lạc là nhân nên gọi là lạc.
Hỏi: Rít, trơn, nặng, nhẹ đều đối lập nhau, vì sao đối với lạnh, không nói là ấm?
Đáp: ấm là năng lực tức là hỏa đại cho nên không nói.
Luận chép: “ở trong cõi Sắc, cho đến truyền thuyết như thế trở xuống là thứ tư phân biệt giới hệ. Cõi trên, chắc chắn không có hai xúc đói, khát, không có đoạn thực. Các xúc khác đều có, đối với lý không trái. Y phục riêng biệt không gọi là nặng, nhỏ, ít cho nên không thể  lôi kéo. Nhóm họp nhiều thì có thể gọi, cho nên biết biệt thời cũng có trọng. Các văn khác, rất dễ hiểu.
24. Nói về trọng lượng:
Bà-sa quyển một trăm hai mươi bảy chép: Hỏi: nếu trong cõi Sắc
có xúc nặng thì vì sao luận Thi Thiết nói: Người Châu Cu-lô ở phía Bắc mặc y nặng một lạng. Tứ Thiên Vương y năng nửa lạng. Trời Ba mươi ba y nặng một phần hai mươi bốn lạng. Trời Dạ-Ma y nặng nửa thù. Trời Đổ-Sử-Đa y nặng một phần tư thù. Trời Tha Hóa tự tại y nặng một phần mười sáu thù. Các tầng trời trên đây y đều bất khả xưng  ư?
Có thuyết nói: y của cõi Sắc, tuy bất khả xứng, nhưng các vật khác là khả xứng. Có thuyết nói: mỗi chiếc y ở cõi, tuy bất khả xứng, nhưng nhiều y gom lại thì khả xứng như sợi nhỏ, lông nhẹ gom lại, lại thì thành nặng. Luận Chánh Lý chép: xúc là sở xúc, mười một là tánh. Cho đến nếu vậy, thì thân căn lẽ ra thành sở xúc. Cái này chạm vào cái kia, cái kia chắc chắn chạm vào cái này. Có thuyết nói: thân căn chỉ có năng xúc, không có sở xúc. Thí như mắt căn chỉ có năng kiến không có sở kiến. Lại có thuyết nói, chẳng có một pháp nhỏ nào có thể tiếp xúc với một pháp nhỏ khác. Khi Sở y, sở duyên sanh ra không đứt quãng thì lập xúc gọi là tưởng. Nếu dựa vào thức này mà có được cảnh kia thì thức này đối với cảnh kia giả nói là năng xúc. Cảnh chẳng phải chỗ nương của thức cho nên chẳng phải năng xúc; do đó nên chỉ gọi địa, v.v… là sở xúc. Các thứ sắc kia v.v… chắc chắn chẳng phải sở xúc. Ý trong đây nói rằng dựa vào thân căn thức không duyên cảnh mà sanh khởi. Nếu các sắc kia v.v… chẳng phải sở xúc thì vì sao, hoa v.v… khi bị thân xúc, thì màu sắc, v.v… bị biến hoại. Do sở y kia bị tổn hoại. Hiện kiến sở y có tổn ích cho nên năng y cũng tổn ích. Chẳng phải ở đây trái nhau. Như chỗ nào đó có đầm trong, tươi nhuận, mạ tốt bị mặt trời chói chang thiêu đốt là trái với đây. Cho nên biết rằng, đại chủng sở y bị tổn hại thì sắc năng y, v.v… cũng biến hoại. Chẳng có dư sót.
Luận Bà-sa quyển một trăm hai mươi bảy chép: hỏi: duyên năm sắc căn, đại chủng sở y có phát sinh thân thức hay không? Có thuyết nói là không phát. Như năm sắc căn không thể xúc cho nên không phát sanh thân thức. Đại chủng sở y, lý cũng như vậy.
25. Thân thức sở thức:
Hỏi: Vì sao nói thân thức sở thức?
Đáp: dựa vào pháp tánh nên nói thân thức sở thức, ở đời vị lai là cảnh của thân thức. Nhưng, không có nghĩa phát sinh thân thức ở hiện tại. Có thuyết nói rằng, trừ thân căn sở y đại chủng đều có thể phát sinh thân thức ở hiện tại. Có thuyết nói rằng: trừ đại chủng sở y của thân căn đều có thể phát sinh thân thức. Do thân căn sở y rất gần gũi cho nên không thể phát sinh thân thức. Nhưng cảnh sở duyên của thân thức kia cũng được gọi là thân thức sở thức. Nay đã rõ hai giải thích này  rồi.
Sợ chẳng hợp lý, nên trong tự thân, dị xứ xúc chạm nhau, lý nào ngăn được. Hoặc có thể, tự thân dị xứ cũng được gọi là tha. Lại nói: hai xúc đói, khát là trưởng, đẳng lưu, hay dị thục sanh? Sư phương Tây nói: đây chẳng phải dị thục, do ăn uống làm đứt quãng. Lại nói: đói khát cũng có cả dị thục sanh, do ăn uống tạm thời đứt quãng, chẳng phải dứt hẳn. Dứt có hai thứ là dứt hẳn và dứt tạm thời. Dứt hẳn thì không thể tái tục, chẳng phải dứt tạm thời; như trong địa ngục tạm chặt lìa thân phần, thì sắc dị thục sanh sắc, chặt rồi lại sanh. Các Luật sư nước Ca-thấp-di-la nói: khi no thì kia cũng không dứt, do ăn uống che chướng nên không thể biết được. Khi thức ăn tiêu hết rồi lại có thể giác biết được.
Hỏi: dị thục ấy là thiện hay bất thiện? Đáp: cũng giống như luận Tạp tâm.
Luận Bà-sa quyển một trăm hai mươi bảy chép: chẳng phải do đại chủng thiên tăng mà sanh ra hoạt v.v... chỉ do tánh loại sai khác của đại chủng khiến sanh ra quả hoạt; cho đến sanh ra quả của khát. Có các Luật sư khác nói rằng: thủy hỏa tăng cho nên trơn; đất gió tăng cho nên rít. Lửa gió tăng cho nên nhẹ; đất nước tăng cho nên nặng. Nước gió tăng cho nên lạnh; phong tăng cho nên đói. Hỏa tăng cho nên khát. Không có Luật sư nào phê bình về điểm này cả. Nay nói rõ, có cả hai nghĩa: luận Tạp tâm nói: đói khát hoặc là thiện báo nghĩa người giàu, thì đói khát là giả báo thiện khí, còn người nghèo, thì đói, khát là quả báo bất thiện.
Hỏi: Đói, khát chỗ nào do đại chủng sở tạo, có thuyết nói do đại chủng bên bụng tạo.
Có các Luật sư khác nói, đại chủng khắp thân tạo ra. Lúc đói khát, khắp thân khổ não, luận Chánh Lý nói: các chỗ khác chưa nói muộn, lực, liệt v.v… thuộc về trong đây cho nên không nói riêng. Muộn không lìa hoạt; lực tức rít, trọng liệt ở mềm mại thuộc về tánh nhẹ. Như vậy, chủng loại sở xúc còn lại tùy theo đó mà thuộc về mười một loại. Y theo mười một loại xúc này bao gồm tất cả các loại xúc, cho đến hỏa giới phong giới tăng, cho nên phát sinh khinh tánh. Do vậy, trong thân chết thì tánh nặng tăng. Thủy giới phong giới tăng cho nên phát sinh ra lãnh. Do đó nên cũng nói rằng muộn ở đây sanh. Nếu vậy vì sao nói không lìa hoạt, tùy mỗi thứ tăng, đây không có lỗi. Hoặc lại muộn ấy là sự khác nhau của hoạt chẳng phải tánh hoạt. Nên biết rằng nhân này cũng có khác nhau. Cho nên tánh của hoạt hoặc do thủy giới phong giới tăng mà khởi, hoặc do thủy giới hỏa giới tăng mà sanh; do đó hai cách nói kia không có lỗi trái  nhau.
26. Nói về sanh thức:
Luận trong đây nói cho đến các thức cũng thế: Là thứ sáu nói về sanh thức chung riêng. Trong Văn có bốn:
1) Kết thúc phần trước nói về nghĩa đúng.
2) Nói về thuyết khác của Bà-sa.
3) Hỏi đáp phân biệt.
4) Sanh thức trước sau.
Đây là phần đầu. Đã nói nhiều loại sắc xứ, năm căn, năm cảnh mười xứ khác nhau nên gọi là đa chủng. Năm thức chấp cảnh đều có cả chung riêng là nghĩa đúng của các nhà phê bình trong Bà-sa quyển một trăm hai mươi bảy.
27. Các thuyết khác:
Luận chép: Có luận sư khác nói cho đến mười một xúc khởi”: là thứ hai nói về các thuyết khác của Bà-sa. Trong hai thuyết của luận này, thuyết sau là đúng.
Luận chép: Nếu thế năm thức cho đến “chẳng phải cảnh tự tướng”: là thứ ba hỏi đáp phân biệt, trước hỏi, sau đáp, đây là hỏi.
Luận chép: “Y theo tự tướng” của xứ cho đến ở đây có lỗi gì: là trả lời. Năm thức như thân thức v.v… chẳng duyên với tướng chung trong mười hai xứ, như vô thường, v.v… trong cùng một xứ, thể sự khác nhau nhau, chẳng phải chỉ duyên với một.
Luận chép: Nay nên nghĩ chọn, cho đến “thức nào khởi trước”: là thứ tư nói về sanh thức trước sau. Trước hỏi, sau đáp: đây là hỏi.
Luận chép: Tùy cảnh mạnh mẽ, cho đến khiến cho nối tiếp là trả lời. Nếu cảnh đồng đều thì thiệt thức khởi trước, do muốn ăn dẫn khỏi thân khiến xoay vần nối tiếp, đưa thức ăn vào miệng thì chấp lấy thiệt, vị. Nếu cảnh đồng đều thì giác vị trước, đây là y theo phần nhiều. Nếu để biết lạnh, ấm thì phải hợp với cái biết trước ở xúc. Nay nói về chấp cảnh trước sau, lược do bốn duyên:
1) Do tác ý khác nhau nhau.
2) Do căn có sáng, tối.
3) Do cảnh có mạnh, yếu.
4) Do cảnh có mới, cũ.
28. Giải thích sắc vô biểu:
Luận chép: “Đã nói căn cảnh” cho đến nay kế sẽ nói: dưới đây một bài tụng giải thích sắc vô biểu.
“Luận chép” cho đến “bất loạn hữu tâm là giải thích bài tụng. Trong văn này có năm:
 
1) Không có biểu vị.
2) Không có biểu tướng.
3) Không có biểu tánh.
4) Không có biểu nhân.
5) Không có biểu danh.
Đây là giải thích không có biểu vị. Loạn tâm: đó là thử dư tâm, thiện vô biểu lấy thiện tâm làm thử, lấy bất thiện, vô ký tâm làm dư. Bất thiện vô biểu lấy bất tâm thiện làm thử, tâm thiện, tâm vô ký làm dư, luận Chánh Lý chép: Bất thiện vô ký gọi là loạn tâm; dư tâm gọi là bất loạn là đứng về thiện vô biểu. Vô tâm là nhập vào định Vô tưởng và định Diệt tân. Luận Chánh Lý chép: định Vô tưởng, định Diệt tận gọi là vô tâm. Định này có công năng diệt tâm. Tuy là có quả vị vô tâm khác mà sắc vô biểu chẳng phải sở tùy lưu cho nên nói rằng, vô tâm không thuộc về đó. Nói Đẳng là hiển bày bất loạn hữu tâm, nghĩa là đẳng có cả hai xứ, đó là loạn tâm đẳng và vô tâm đẳng. Loạn tâm đẳng, đẳng thủ bất loạn tâm; vô tâm đẳng, đẳng thủ hữu tâm. Luận Chánh Lý vặn hỏi: “Nói Đẳng có cả vô tâm thì chữ Đẳng này là vô dụng, vi đã thuộc ở trước rồi. Nói loạn tâm đẳng là đã nhiếp tất cả giai đoạn hữu tâm khác, nói chữ Đẳng thứ hai sẽ thuộc vào đâu. Kinh Lượng Bộ chủ trương nên xếp vào Tư. Thuật rằng vô tâm là giai đoạn vô tâm. Nói loạn tâm, bất loạn tâm; ngoài hai thứ này ra, liệu còn có tâm nào nữa, nên vô tâm đẳng là đẳng. Đẳng này nên đặt ở một chỗ. Kinh chủ nên suy nghĩ hoặc cho rằng đẳng sau thuộc về bất loạn tâm; đẳng trước vô dụng, điều này không nên, như thế vì không dung nhiếp. Không nên để đẳng sau thuộc về tâm bất loạn. Nói theo lý thì nơi tương tợ xứ khởi. Không khởi đẳng được, theo lý thì không thuộc về dư, cho nên chẳng thuộc hoàn toàn. Thuật rằng đã nương vào vô tâm cõi dưới mà khởi đẳng thì theo lý nó không thuộc bất loạn tâm dư, cho nên chẳng thuộc hoàn toàn. Hoặc nói loạn tâm thành ra vô dụng. Thuật rằng: Nói vô tâm đẳng là so với tất cả hữu tâm, đâu cần loạn tâm cho nên nói loạn tâm là vô dụng. Lại, nên phân biệt, chỉ có tịnh vô biểu, tùy lưu ở vị vô tâm, chẳng phải thứ khác. Thuật rằng: nhập định vô tâm lý hợp với tất cả bất thiện vô biểu đều xả, không thể nói ở vị vô tâm. Trong phần tự thích cũng không phân biệt, cho nên đối với lý này, kinh Lượng Bộ chủ trương nên xếp vào Tư. An Tuệ chống chế rằng loạn tâm, bất loạn là nói về tán vị. Loạn tâm đẳng thủ bất loạn tâm là tán tự tương tợ. Vô tâm, hữu tâm là nói về định vị; vô tâm đẳng thủ hữu tâm là định tự tương tợ. Cho nên nói đẳng này, là có cả hai xứ.
29. Giai thích tướng vô biểu:
Luận chép: “Tương tợ nối tiếp gọi là tùy lưu”; là thứ hai giải thích tướng vô biếu. Thuật rằng: thể tánh của vô biểu tương tợ nối tiếp, chỉ có thiện bất thiện. Có người nói: tương tợ nghĩa là cùng với biểu nghiệp, tâm, tánh tương tợ tùy lưu, là sai. Luận Chánh Lý vặn hỏi: nay nói rằng, kinh Lượng Bộ chủ trương trong bài tụng này, không thể nói đầy đủ tướng củasắc vô biểu, chỉ nói tùy lưu gọi là sắc vô biểu; rồi tự giải thích rằng: tương tợ nối tiếp gọi là tùy lưu, chẳng phải sát na đầu tiên gọi là nối tiếp; không có lỗi thái quá. Do đó chắc chắn sơ niệm vô biểu không thuộc về tướng sở thuyết. Lại nối tiếp là giả chẳng phải thật, vô biểu chẳng phải thật; mất tông chỉ của Đối pháp. Lại cái do định phát ra thì loạn, vô tâm vị chẳng thể tùy lưu, lẽ ra cũng chẳng phải vô biểu. Nếu nói trong bất loạn, giai vị hữu tâm là tùy lưu thì cũng không có lỗi; tịnh, bất tịnh biểu nghiệp nên có tướng vô biểu. Luận sư Câu-xá chống chế nói rằng: nói nối tiếp hoặc do trước nối sau như sơ niệm vô biểu, hoặc do sau nối trước như niệm sau vô biếu, hoặc nối cả trước sau như trung gian vô biểu, cho nên sơ và hậu đều gọi là nối tiếp. Cho nên A-tỳ-đạt- ma chép: cũng có vô biểu duy nhất sát-na, dựa vào chủng loại chung nên nói là nối tiếp. Thể của vô biểu này là nối tiếp, thật thể đã nối tiếp, làm sao gọi là giả? Lại, định vô biểu tuy không cùng khắp trong bốn vị, vẫn gọi là vô biểu nghĩa là đối với bốn vị, tùy đó mà nói: không thể nói vô biểu cùng khắp bốn vị. Như định câu vô biểu có mặt ở vị hữu tâm. Bất thiện vô biểu có mặt ở vị loạn, tâm bất loạn tâm. Nếu là tán thiện vô biểu thì có mặt trong cả bốn vị. Ông lập vô tâm cùng làm một vị thì định câu vô biểu đâu hiện hành được ư? Lấy biểu nghiệp làm nạn là phi lý. Hể nếu tâm này, phát khởi thì nhậm vận nối tiếp, hiện hành ở trong vị đó là tướng vô biểu. Biểu tùy từ tâm phát, tâm dứt thì vô, nhưng chẳng phải nhậm vận, nên không thành ví dụ.
30. Nói về tánh vô biểu:
Luận chép: “Thiện và dữ bất thiện gọi là tịnh bất tịnh”: Đây là thứ ba nói về tánh vô biểu. Phải dựa vào cường biểu mới phát được, không có ở vô ký.
Luận chép: Là phân biệt các đắc cho đến “đại chủng sở tạo” đây là thứ tư nói về nhân của vô biểu. Trong bốn vị thì Đắc tương tợ nối tiếp, đồng với vô biểu, bốn đại tạo giống với vô biểu, tức dùng nhân đại tạo phân biệt các Đắc, lại nói: đại chủng sở tạo.
Luận chép: “Tỳ-bà-sa nói” cho đến năm thứ nhân: là dân giáo làm chứng, tạo nghĩa là nhân.
31. Giải thích tên gọi vô biểu:
Luận chép: “Hiển lập gọi là nhân” cho đến “nên gọi là vô biểu” là thứ năm giải thích tên gọi vô biểu. Vì văn tụng giản lược cho nên chỉ nói do đó. Luận Thành Nghiệp chép: Vì sao gọi là biểu? Vì nó có thể biểu thị tự phát nghiệp tâm giúp người khác biết được. Văn tụng chép: bên ngoài phát ra ở thân nghiệp ngữ nghiệp, nói lên suy nghĩ ở trong tâm. Ví như cá ở vực sâu biểu hiện ở chỗ quậy động nước. Tụng nói do đó, nghĩa là do không có nghĩa biểu này nên gọi là Vô biểu.
Luận chép: “Người nói hiển bày đây là lời của sư tông”: Nêu tướng vô biểu nói ở trên do Sư Tát-sa Đa Tông nói. Luận Chánh Lý chép: thuyết giả hiển bày ý của các Sư này. Kinh chủ không chấp nhận các chủng loại vô biếu sắc như vậy.
Luận chép: “Lược nói biểu nghiệp” cho đến “gọi là vô biểu”: đây là lược kết thể của vô biểu ở trên.
Luận chép: “Đã nói vô biểu” cho đến “đại chủng thế nào” dưới đây hai bài tụng, từ luận sanh ra luận, nói về bốn đại. Trong văn có hai: hàng tụng thứ nhất nói về bốn đại chân thật, hàng tụng thứ hai nói về bốn đại giả tạo.
“Luận chép” cho đến “nên gọi là giới”: là văn xuôi giải thích. Trong văn có bốn:
1) Giải thích nghĩa cõi.
2) Giải thích nghĩa Đại chủng.
3) Giải thích nghĩa Nghiệp.
4) Giải thích nghĩa Tánh.
Đây giải thích cõi, dùng hai nghĩa giải thích về cõi: một là năng trì tự tướng; hai là năng trì sở tạo, đồng với giải thích thứ ba của luận Hiển Tông. Giải thích thứ nhất của luận Hiển Tông nói rằng, tất cả các sắc pháp sanh ra từ gốc, cũng từ đại chủng sanh ra; các gốc sanh ra thế gian gọi là cõi. Như mỏ vàng v.v… gọi là cõi vàng v.v… Giải thích thứ hai nói: hoặc các thứ khổ từ gốc sanh ra gọi là Cõi, dụ như trước nói.
32. Giải thích Đại chủng:
Luận chép: “Bốn cõi như thế” cho đến “sự dụng lớn lao”: Là thứ hai giải thích đại chủng. Đại tức là chủng, nên gọi là Đại chủng, thuộc về trì nghiệp thích. Luận Hiển Tông chép: hoặc nói về mười thứ tạo sắc, nên nói là Chủng. Do thế lực đại chủng này mà các sắc được hiện bày. Cái gọi là Đại có công dụng lớn như vậy. Nói công dụng lớn nghĩa là trong việc căn bổn của các hữu tình, thì bốn đại có tác dụng hơn cả. Dựa vào đây mà lập ra thức và không. Luận này giải thích chữ chủng rằng:
là tánh sở y của tất cả các sắc khác. Thế nào là làm sở y? Luận Bà-sa quyển một trăm hai mươi bảy có nói: có thuyết nói ở dưới là pháp sở y của nhân.
Hỏi: nếu vậy, đối với sắc bức gần có thể nói là năng tạo, đối với cách viễn vì sao nói là tạo?
Đáp: không nói một cây có tất cả đại chủng, đều tạo ở dưới đó, các tạo sắc chỉ nói, nhất thọ mỗi phần đều có đại chủng ở dưới tạo sắc ở trên. Có thuyết rằng, tồn tại trong sự xen lẫn qua lại, đại chủng ở ngoài, tạo sắc ở trong.
Hỏi: nếu vậy, lẽ ra lúc cắt đứt thì thấy có lỗ hổng cũng như bẻ ngó sen.
Đáp: tuy có lỗ hổng nhưng không thể thấy vì các đại chủng chẳng thể thấy, lỗ hổng nhìn thấy được là tạo sắc. Luận Chánh Lý chép: sao gọi là Chủng, sao gọi là Đại? Khi các loại tạo sắc khác nhau sanh ra các phẩm loại năng khởi khác nhau nên nói là Chủng. Y theo văn của Chánh Lý tức là khiến tạo sắc chủng loại khác nhau sanh khởi gọi là chủng. Bà-sa chép: đại đức nói rằng, hư không tuy Đại mà chẳng phải Chủng, cho nên không thể sanh. Các pháp hữu tình khác tuy là chủng mà thể chẳng phải Đại vì tướng không cùng khắp. Thể rộng lớn cho nên bình đẳng tức dùng ba nghĩa mà giải thích chứ Đại. Thể rộng lớn ấy: trong tất cả các nhóm sắc đầy đủ tánh cứng v.v… hoặc ở trong nhóm tăng thạnh của địa, v.v… hình tướng to lớn. Đây là bốn đại giả như đại địa, đại hải, đại hỏa, đại phong, v.v… hoặc khởi các thứ đại sự dụng  tức nội bốn giới là gốc của hữu tình, nước lửa gió bên ngoài là thế giới thành hoại. Địa lấy năng trì, luận Chánh Lý chép: hư không có đại mà không có nghĩa chủng, chủng và năng sanh là một. Có thuyết hư không cũng chẳng có nghĩa đại vì thể chẳng phải sắc. Tạo sắc và các hữu vi khác chẳng phải sắc, vì tánh là năng sanh. Chủng mà không có hai nghĩa trên thì chẳng phải đại chủng. Hai nghĩa Đại và Chủng tương quan bất thành. Thuật rằng: hư không chẳng phải chủng, tạo sắc và các pháp phi sắc khác không phải Đại. Do đó, đại chủng chỉ có bốn, không thể thêm, không thể bớt. Luận Tỳ-bà-sa chép: giảm thì không có công năng, tăng thì thành vô dụng, cho nên chỉ có bốn. Như giường bốn chân. Thuật rằng: giảm thì tạo sắc bất thành, tăng lại là vô dụng.
33. Giải thích về nghiệp:
Luận chép: “Bốn đại chủng” này cho đến “năng thành nghiệp gì v.v…” trở xuống, là giải thích về Nghiệp. Trong văn có hai: một là hỏi, hai là đáp.
Luận chép “như thứ lớp ấy” cho đến “thục trưởng bốn nghiệp” trở xuống là trả lời. Trong đáp có ba:
1) Nêu tụng lược đáp.
2) Giải thích văn tụng.
3) Giải thích lại vặn hỏi.
Luận chép: “địa giới năng trì” cho đến “phong giới năng trưởng”, đây là giải thích văn tụng.
Luận chép “trưởng là tăng thạnh hoặc lại lưu dẫn” Đây là giải thích nạn. Tăng thạnh: Như nuôi cái nhỏ thành lớn, thể tăng thạnh.  Lưu dẫn: nghĩa là chuyển đến nơi khác, như nước chảy v.v… thể không tăng.
34. Giải thích tự tánh:
Luận chép: “nghiệp dụng đã thế, tự tánh thế nào” là thứ tư giải thích tự tánh. Trong văn có hai: một là hỏi, hai là đáp.
Luận như thứ lớp ấy cho đến “nên gọi là động”: là đáp. Bốn Văn như trên rất dễ hiểu.
Luận chép: “Phẩm loại túc luận” cho đến “nên cũng gọi là nhẹ”: Là Giải thích trái văn. Luận Chánh Lý chép: Nếu phong giới lấy động làm tánh, vì sao, khế kinh và Phẩm Loại Túc Luận đều nói rằng, không giới là là các tánh động như khinh, v.v… lại nói tánh nhẹ là sắc sở tạo. Nói động là gió, nhẹ là tạo sắc đó là nói về tự tướng; nhẹ là gió là nêu quả để làm nhân, nhẹ là quả của gió. Chẳng lẽ không phải hỏa giới cũng là nhân của khinh do nói lửa gió tăng thạnh sanh ra nhẹ hay sao. Tuy có nói như vậy, nhưng hỏa là bất định, nếu có tánh nhẹ, hỏa tăng là nhân, chỗ đó hẳn có phong giới tăng thạnh . Hoặc có tánh nhẹ, phong tăng là nhân mà trong đó không có hỏa giới tăng thạnh, như hoa của cây lau nhẹ theo gió. Trong đây nếu hỏa giới tăng thạnh thì trong đó lẽ ra nên có thục xúc khả đắc. Do khinh giới cùng khắp làm nhân cho nên nêu riêng về khinh, tức chỉ hiển bày phong giới; Nhưng tướng của địa, v.v… dễ biết cho nên không cần nói quả nặng, v.v… để hiển bày, đối với ba thứ như cứng, v.v… động nên khó rõ; trong đây là nêu quả bày nhân. Nghiệp thanh trong tám thứ chuyển thanh nhẹ, tám chuyển thanh gồm:
Một là, thể giải thích thẳng pháp thể.
Hai, nghiệp là sự nghiệp sở tác.
Ba, cụ nghĩa là tác giả tác cụ.
Bốn, Vi nghĩa là sở y.
Năm, Tùng  là sở tùng.
Sáu, thuộc nghĩa là sở thuộc.
Bảy, y nghĩa là sở y.
Tám, hô nghĩa là hô bỉ.
Y vào pháp thanh minh, hễ gọi các pháp tùy theo sự thích ứng mà có tám thứ chuyển thanh. Trong đây nói nhẹ là gió nghiệp, là nghiệp dụng nêu quả bày nhân. Chẳng phải như sở biểu của các nghiệp thanh khác. Như nói dao cắt, v.v… năng cắt mà lìa dao thì không có tự thể riêng.
Luận chép: “Vì sao địa đẳng địa đẳng giới khác nhau”. Dưới đây là một bài tụng, là thứ hai nói về bốn đại giả.
“Luận chép” cho đến “biểu thị cho gió” là nói về địa, thủy, v.v… giả tạm. Thật do bốn cảnh hợp thành và theo thế tưởng mà lập, cho nên chỉ nói sắc. Thế gian chỉ biết các địa hiển, hình mà không biết do bốn cảnh chung thành; cũng không biết bốn giới như cứng, v.v… chỉ ở nơi hình, hiển mà đặt tên đất, nước, lửa. Thế gian cũng biết động là gió, cũng đối với các sắc như hắc đoàn v.v… gọi là gió. Do đó, đối với gió có hai giải thích, văn rõ ràng dễ hiểu. Hỏi: trong các đại giả tạm như đất v.v… cũng có hương v.v… vì sao mà chỉ nói hình hiền làm thể? Đáp: địa, v.v… tuy có bốn cảnh hợp thành địa, tưởng giả lập của thế gian từ nơi sắc xứ khởi lên. Như quán bốn đại, chỉ quán sắc, không quán hương v.v… do sắc lìa cảnh, có thể chỉ chỗ này chỗ kia. Thanh chẳng phải hằng hữu, do ba cảnh hợp lại mà biết, cho nên luận không nói.
35. Giải thích năm căn:
Luận chép: Vì sao uẩn cho đến nói là sắc ư? Là hỏi về tên của sắc. Trên đây, giải thích năm căn, năm cảnh, sau cùng là vô biểu, tất cả đều là sắc uẩn. Đã giải thích xong về tên của sắc, nay nêu câu hỏi.
Luận chép: Do biến hoại: là đáp. Trong văn có hai giải thích: một là biến hoại, hai là biến ngại. Trong giải thích đầu có ba đoạn:
1) Lược nêu.
2) Dẫn văn làm chứng.
3) Hỏi đáp. Đây là phần đầu.
Luận chép: “Như Thế tôn nói” cho đến “não hoại như trúng tên”: đây là thứ hai dẫn văn làm chứng. Biến hoại là có thể não hoại; dẫn bài tụng trong phẩm Nghĩa của Pháp Cứu để làm chứng, rất dễ hiểu. Luận Bà-sa quyển ba mươi bốn chép: Bồ-tát Thích-ca vì vị vua đa cầu là Bần Hải người nước ngoài mà nói bài tụng này, Như trong đó nói rộng.
Luận Bà-sa quyển chín mươi bảy chép: Hỏi: biến và hoại có gì khác nhau?
Đáp: biến là nói về pháp vô thường nhỏ nhiệm v.v… hoại là nói về
pháp vô thường thô lậu; rất nhiều giải thích.
Hỏi: nay giải thích trong đây, biến hoại gọi là sắc có giống với Bà-sa giải thích về biến hoại hay không?
Đáp: không giống nhau, biến tức là hoại. Như nói biến ngại, ngại tức là biến cho nên chẳng hể có ngại mà không có biến, có biến mà không có ngại.
Luận chép: “Sắc làm sao muốn não hại được” là thứ ba hỏi đáp, đây là hỏi.
Luận chép: “Dục sở nhiễu não, biến hoại sanh ra”: là đáp. Luận Chánh Lý chép: trong đây, vì sao gọi sắc uẩn là sắc. Đức Thiện Thệ dạy rằng: biến hoại nên gọi là sắc, thuyết này ý nói rằng: vì là nhân của thọ khổ, có xúc đối, có thể chuyển dời nên gọi là biến hoại. Do biến hoại nên nói là sắc. Thọ khổ nhân: sắc có biến hoại sinh ra thọ khổ như phẩm Nghĩa nói, rong ruổi tìm cầu dục v.v… Hữu xúc đối: các sắc sở xúc của tay v.v… bị biến hoại là có đối ngoại nên có nghĩa biến hoại. Có thể Khả chuyển dời như thân trâu, dê v.v… có thể chuyển dời là nghĩa chuyển biến. Do có thể chuyển dời nên gọi là biến hoại. Vì sao nói sắc pháp có thể chuyển dời ư? Nghĩa là sanh ra tướng khác nên gọi là chuyển dời. Hoặc có khả năng biểu thị tập nghiệp ở quá khứ, nên gọi là Sắc. Như khế kinh nói: Ma-nạp-bà do tập khí lâu đời phải vời lấy hình sắc nghiệp không tốt, đó là nhiều phẫn, hận. Hoặc có thể biểu thị những điều trong nội tâm, nên gọi là sắc. Như khế kinh chép: cụ thọ! nay các căn của thầy vui vẻ, hẳn đã chứng được cam lộ; chẳng lẽ không phải thuyết này hay sao. Từ hữu kiến số hữu tình sắc mà giải thích từ ngữ sắc thì đó là pháp có công năng biểu thị tập khí nghiệp chướng lâu đời và nội tâm. Nếu vậy, vô kiến phi tình số sắc lẽ ra đều chẳng phải sắc. Chẳng có lỗi này. Chỉ ở trong nhóm sắc có nghĩa này thôi, không nói các sắc đều có thể biểu thị, lại đối với tất cả nhóm phi sắc không thể biểu thị. Do đó, giải thích từ, lý được thành lập. Như thế kinh chép: nghiệp là nhân sanh tức nói các pháp sinh đều do nghiệp, không nói các nghiệp đều  là sanh nhân. Nay không nên vặn hỏi nghiệp phi sanh nhân nên chẳng phải nghiệp. Nếu không phải vậy thì lời dạy của Đức Thiện Thệ cũng có thể là nạn. Chẳng phải tất cả các sắc đều biến hoại, cho nên Thế tôn nói theo sắc có đối ngại, vì có biến hoại nên gọi là Sắc.
36. Giải thích sắc khả biến hữu ngại:
Luận chép: “Có thuyết biến ngại” cho đến “nên gọi là sắc”: là thứ hai giải thích sắc khả biến, hữu ngại, khả biến nghĩa là có thể biến hoại, hữu ngại nghĩa là có tác dụng ngăn ngại.
Luận chép: “Nếu thế thì cực vi” cho đến “vô ngại biến” đây là nạn vấn.
Luận chép: Câu hỏi này không đúng cho đến “nghĩa biến ngại thành” là giải thích. Y theo duyên của năm thức lẽ ra phải chứa nhóm nên không có cực vi độc trụ ở hiện tại. Do thường chứa nhóm nên có biến ngại. Nhưng, Chánh Lý quyển hai có hai thuyết: một thuyết đồng với văn luận này; còn thuyết khác nói có nói. Cũng có độc trụ cực vi nhưng có biến ngại mà không phát thức. Y theo duyên của năm thức thì phải chứa nhóm, như lập cực vi, tuy không có phương phần, cũng không xúc đối mà chấp nhận cực vi hữu ngại, hữu đối, hữu chướng dụng. Nên biết nghĩa biến ngại cũng như vậy.
Luận chép: “Quá khứ, vị lai lẽ ra không gọi là sắc”: Là vặn hỏi, hiện tại, các cực vi chứa nhóm thì nghĩa biến ngại sẽ thành, các cực vi trong quá khứ, vị lai tán mạn lẽ ra không nên gọi là Sắc.
Luận chép: Đây cũng từng nên biết cho đến “như củi bị đốtcháy: Là giải thích. Pháp quá khứ đã từng ngại, pháp sanh ở vị lai sẽ chướng ngại. Các pháp bất sanh đều thuộc về ngại kia, như củi bị đốt.
Luận chép: “các sắc vô biểu lẽ ra không gọi là sắc” là vặn hỏi. Sắc vô biểu không có biến ngại, nên lẽ ra không gọi là sắc. Trong đó có hai giải thích:
Luận chép: “Có giải thích biểu sắc” cho đến “bóng cũng động theo”: là giải thích đầu.
37. Luận chủ bác bỏ:
Luận chép: “Giải thích này không đúng” cho đến “bóng sẽ mất theo”: Luận chủ nói về luận Bà-sa để bác bỏ. Chánh Lý không chấp nhận bác bỏ này, nói: có lỗi bất định, như khi các pháp như cha, thợ, hạt giống v.v… diệt mất thì còn, nhà, mầm v.v… không diệt theo. Luận Chánh Lý bác bỏ giải thích này: không hợp lý. Sắc tùy tâm chuyển, không từ biểu sắc sanh, lẽ ra chẳng phải sắc.
Luận chép: “Hữu thích sở y” cho đến cũng được gọi là có sắc: Là thứ hai Giải thích , từ đại chủng sở y mà có tên.
Luận chép: “Nếu thế sở y” cho đến “lẽ ra cũng gọi là sắc” đây là vặn hỏi, trong đó có hai giải thích:
1) Nương vào thân, sơ để giải thích.
2) Dựa vào chung, không chung để giải thích.
Luận chép: “Nạn này không đúng” cho đến “giúp sanh duyên” là giải thích theo thân sơ.
Luận chép: “Bóng này nương cây cho đến bốn đại chủng”: Luận
chủ nêu ra lỗi trái tông.
Luận chép: “Dù chấp nhận ảnh, quang” cho đến “chưa vì thích nạn”: Đây là bác bỏ dọc. Trước không chấp nhận bảo và quang là  sở  y để bác bỏ; sau lại chấp nhận nghĩa sở y để bác bỏ. Chánh Lý chống chế rằng: lời này, ý nói về các đại chủng như bóng v.v… các đại chủng như cây v.v… là sở y. Vì sao? Vì các đại chủng như bóng v.v… khi sanh, trú, biến đều tùy thuộc vào thọ. Nói bóng ánh sáng này ý nêu ra nhóm chung chẳng phải chỉ có hiển sắc như cây, vật báu mà nói. Cho nên hiển sắc cực vi như bóng, v.v… nương vào các đại chủng như bóng, v.v… mà chuyển. Các đại chủng như bóng v.v… lại dựa vào các đại chủng như thọ, v.v… mà sanh. Do đó, trong đây không có lỗi bất thuận. Chánh Lý chống chế theo chiều dọc rằng: nạn này không liên quan đến nghĩa năng y, sở y đều diệt của Tỳ-bà-sa. Nếu Vô biểu đại chủng sở y diệt thì vô biểu năng y cũng chưa từng không diệt. Sơ niệm vô biểu có thể cùng với đại chủng sở y đều diệt. Vô biểu của niệm thứ hai v.v… thì thế nào? Đại chủng của niệm thứ hai v.v… nếu là không thì sắc vô biểu kia đâu thể hiện hữu được. Tuy trong vị này chẳng phải không có đại chủng nhưng đại chủng kia chẳng phải sở y, chẳng phải là sanh nhân của vô biểu. Đúng là có sanh nhân đại chủng làm sở y cho sắc sở tạo; nhưng, lại có bốn nhân đại chủng khác: Đối với sắc sở tạo chấp nhận làm y. Nếu đại chủng sở y kia diệt thì năng y vô biểu, vẫn không diệt. Bậc Thánh sanh ở Vô Sắc lẽ ra vô lậu vô biểu được hiện tiền; sanh nhân, y nhân đại chủng diệt thì vô lậu vô biểu tuy thành tựu nhưng không hiện hành. Cho nên biết rằng, cõi Dục có vô biểu hiện hành, chắc chắn do đại chủng sở y không diệt. Đây nếu không như vậy, thì kia làm sao như vậy.
Do đó nên các Sư đều nói rằng: các sắc sở tạo có hai thứ y:
- Một là, sanh khởi y.
- Hai là, lực chuyển y.
Bậc Thánh sanh lên cõi Vô Sắc, do năng lực chuyển y đại chủng không có nên vô lậu vô biểu tuy thành tựu mà không hiện hành. Trên đây, Chánh Lý dẫn ví dụ giải thích, nay phá Chánh Lý. Trong cõi Vô Sắc tuy thành tựu vô biểu ở cõi dưới mà không hiện hành chắc chắn do không khởi định địa dưới. Nếu nói rằng do vô y nhân đại chủng sanh định thư tư khiến thành tựu vô lậu vô biểu hữu y nhân đại chủng của năm cõi dưới thì đâu được sanh trên khởi dưới vô biểu ư? Nhưng, các thức như mắt, v.v… có năm căn sở y tuy bị biến hoại mà không thành sắc do chủng loại có khác nhau. Có chủng loại thức không nương  sắc,
chỉ có năm thức thân nương sắc mà khởi. Sáu thức đều dùng ý làm sở y. Trong cõi Vô Sắc ý cũng có thể đắc, cho đến lý không hợp với tự tánh của sáu thức. Chủng loại của một pháp vừa là sắc, vừa chẳng phải sắc. Không có vô biểu vào không nương vào sắc mà sanh. Sở y có biến ngại thì năng y vô biểu cũng được gọi là sắc. Thuật rằng: tất cả các thức đều nương vào ý nhưng cũng có một phần thức cũng nương nơi sắc cho nên không gọi là sắc. Tất cả vô biểu nương vào sắc, nên gọi là Sắc. Lại nói các sắc như bò, chim công, nương thiểu phần loại mà đặt tên là tưởng, có những khác nhau vậy, không phải là nạn. Thuật rằng, Trâu gọi là địa miên; Chim công gọi là địa kiếu. Chẳng phải tất cả các thời đều miên kiếu, lại như thế gian nói, ăn mau đi mau gọi là ngựa, nhưng chẳng phải là tất cả. Tuy không có tính chất đó mà tương tợ tính chất đó cho nên thành nghĩa chủng loại. Chỉ theo một phần mà đặt tên là tưởng, ở đây cũng như vậy. Từ giải thích này nên pháp bất sanh trú ở sắc tướng nên cũng gọi là sắc. Thuật rằng, đồng với ngưu và chim công cũng có thể dùng để giải thích sắc vô biểu. Luận sư Câu-Xá bác bỏ rằng: ông nói các đại chủng như bóng, v.v… đại chủng như thọ, v.v… là sở y, khác gì bóng, v.v… nương vào thọ, v.v… thọ, v.v… nương vào ảnh đều là sơ y, chẳng phải là thân sanh, cũng chẳng phải năng tạo. Ông nói các đại chủng như bóng, v.v… nương vào thọ đại chủng thì lại trái với tông. Cho nên chống chế đó là phi lý. Lại bác bỏ, chống chế theo chiều dọc rằng: ý ông lập sơ niệm sanh nhân đại chủng đối với vô biểu của niệm thứ hai. Bốn nhân đại chủng của niệm thứ hai cũng làm sở y cho đồng thời vô biểu của niệm thứ hai đại chủng. Cho nên nói năng y, sở y đều diệt; giống như cây, v.v… diệt thì bóng v.v… cũng diệt theo; tức nói sơ niệm đại chủng là sanh nhân. Niệm thứ hai đại chủng là bốn nhân như y v.v… đâu có biệt thế lưỡng cụ bốn đại chủng cộng thành năm nhân sanh một sở tạo. Các luận đều nói, tất cả bốn đại vọng sở tạo sắc đều có đủ năm nhân. Cho nên luận Bà-sa quyển một trăm ba mươi hai chép: đại chủng quá khứ và sắc sở tạo ở vị lai, có bao nhiêu duyên? Đáp: có hai, đó là nhân và tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như sanh, nhân v.v… tăng thượng: như trước đã nói. Đại chủng hiện tại và vị lai cũng như vậy. Hiện tại và hiện tại cũng vậy. Theo văn này, sơ niệm đại chủng đối với sắc sở tạo của niệm thứ hai có đủ năm nhân, vì sao nói chỉ làm sanh nhân. Nếu chuyển sang chống chế nói rằng: Đại chủng sơ niệm là sanh nhân thì năm nhân đều gọi là sanh nhân vì là thân nhân năng sanh tạo sắc. Bốn nhân của niệm thứ hai đại chủng gọi là bốn nhân y, v.v… tuy đại chủng sơ niệm có đủ năm nhân, đại chủng niệm thứ
hai thì liên quan với sanh nhân, lại có biệt thế lưỡng cụ bốn đại cùng tạo sắc, là sai. Nếu chuyển sang chống chế rằng: bốn nhân niệm thứ hai đại chủng phải là bốn nhân như y, v.v… tức bốn đại chủng mỗi đại chủng  là một nhân gọi là bốn nhân. Tất cả đều nương vào nhân, cho nên các luận nói rằng, đại chủng sơ niệm là nhân năng sanh, đại chủng hiện tại là y nhân nên đưa ra chống chế này không có lỗi thiếu nhân. Đã nói đại chủng niệm thứ hai là sở y, là biệt khởi đại chủng, là các đại chủng tạo thân căn, v.v… là thân sở y, là sơ y; nếu nói thân căn đẳng đại chủng là sơ y của sắc vô biểu thì ta cũng đồng ý, đây đồng thời là sơ y, chẳng phải thân sở y. Vô biểu không do đồng thời y lực mà được gọi là sắc, chỉ do sơ niệm sở y lực mà được gọi là sắc. Do lý này cho nên đại chủng sơ niệm là thân sở y, có thể giống với hai thứ ảnh quang là thân y của thọ báu; cho nên ta dựa vào đây mà nói rằng sở y diệt, vô biểu không diệt; không thể nói sơ là sở y, chỉ nên nói y. Nói sở y thì trong lời nói có lỗi. Nếu nói vô biểu cũng hướng đến đồng thời sơ y được gọi sắc thì năm căn như mắt căn v.v… đối với năm thức như mắt thức v.v… cũng là sơ y. Lẽ ra nhãn thức, v.v… cũng gọi là sắc. Lại, do năng lực ấy được gọi là sắc lẽ ra là năng tạo; nếu là năng tạo, lại có đủ năm nhân như sanh, v.v… cho nên là phi lý.
39. Chánh giải thích về sắc vô biểu bốn đạ giả danh:
Luận chép: “Lại có giải thích riêng” cho đến “lý được thành tựu”.
Thuật rằng, đây là thứ hai, chánh giải thích, lời văn rất dễ hiểu.
Thứ tư trên đây có ba hàng tụng, nói về vô biểu sắc, và nói bốn cõi và đại giả danh.
“Tụng chép” cho đến “thân giới, xúc giới”. Dưới đây là thứ năm gồm nửa hàng tụng lấy sắc uẩn làm xứ giới, lời văn rất dễ hiểu. Trên năm hàng rưỡi tụng nói riêng sắc uẩn và phân ra xứ giới.
Luận chép: “Đã nói sắc uẩn” cho đến “ba uẩn xứ giới” dưới đây là thứ hai có một hàng tụng rưỡi, nói riêng về các uẩn thọ, tưởng, hành và  lập xứ, giới.
“Luận chép” cho đến “thọ do ý xúc sanh”. Thuật rằng: Trong văn xuôi giải thích, văn có hai: Đầu tiên nói về ba uẩn; sau chia ra xứ giới. Ở đây nói về ba uẩn, trong văn có ba: giải thích ba uẩn lấy làm ba, văn này là phần đầu nói về thể của thọ. Văn lại chia làm ba: một là nêu thể, hai là chia ra ba thọ, ba là chia ra sáu thọ. Lãnh tùy xúc là nêu tự tánh của thọ, thể khác với các tâm sở khác. Các tâm, tâm sở tuy cùng với thọ đồng lãnh cảnh sở duyên mà không lãnh tùy xúc nên chẳng phải tự tánh thọ; tự tánh thọ lãnh sở tùy xúc. Nếu khi làm sở duyên,
bấy giờ chẳng phải là sở lãnh, nếu khi làm sở lãnh, thì bấy giờ chẳng phải sở duyên. Có người nói: các tâm, tâm sở đồng duyên một cảnh, đều năng chấp thọ, nhưng thọ lãnh nạp mạnh mẽ nên gọi là tự tánh thọ. Giống như mười người, ngồi chung một chỗ, một người là cướp, bỗng có ngườibên canh hô hoán là cướp cưới. Tuy cả mười người đều nghe tiếng cướp, nhưng người thật là cướp thì sự thọ lãnh mạnh mẽ hơn chín người kia. Thọ lãnh cảnh mạnh, thì lãnh cảnh như tưởng v.v… sẽ yếu, nên biết cũng như vậy.
Lại giải thích: các tâm, tâm sở tuy là đồng duyên như đều chấp thọ cảnh; các pháp như tưởng, v.v… theo đặt tên riêng, thọ không có tên khác. Tuy nêu tên chung nhưng chính là thọ tên khác. như sắc xứ v.v… tuy có hai giải thích, nhưng giải thích trước là hơn. Y theo hai giải thích này thì y theo cảnh lãnh nạp mà gọi là Thọ; nhưng không tương đương với ý luận. Lại, theo giải thích này thì thọ và tưởng đồng nhau, chỉ khác nhau về mạnh yếu, nên đặt tên khác nhau. Thọ đã như vậy, thì các sắc khác lẽ ra cũng nên như vậy; chẳng lẽ không phải tạp loạn hay sao? Lại, luận này nói: thọ uẩn có ba: tùy xúc lãnh nạp mà có vui, khổ, không vui không khổ. Luận Chánh Lý chép: tùy xúc sanh mà lãnh nạp đáng ưa, không đáng ưa, trái với xúc gọi là thọ uẩn. Lãnh nạp là nghĩa năng thọ dụng. Theo luận này, lấy lãnh nạp tùy xúc làm thọ, không chấp lãnh cảnh. Lại, luận này quyển mười chép: Thế nào là hành tướng sở lãnh của xúc là chỗ y theo của thọ: đó là hành tướng rất giống như xúc, nương xúc mà sanh, cho nên, luận Chánh Lý quyển hai chép: Lại nói về các thọ, lược có hai thứ: một là chấp lấy thọ; hai là tự tánh thọ. Chấp lấy thọ nghĩa là năng lãnh nạp cảnh tự sở duyên; Tự tánh thọ nghĩa là năng thọ nạp xúc tự sở tùy, cho đến lãnh nạp thọ sở duyên và nhất cảnh pháp. Tướng khác nhau rất khó hiểu, cho đến, tuy thọ cũng có thể lãnh nạp cảnh giới, nhưng tự tánh của sự lãnh nạp này rất khó hiểu. Do vậy, lãnh nạp xúc là tự tánh thọ. Đây và các lãnh nạp khác, không dễ hiểu được sự khác nhau của chúng. Cũng vậy, các thọ cũng đồng  sở duyên với các pháp như tâm v.v… vì lãnh nạp khác. Việc sở duyên khác nhau, việc sở lãnh khác nhau, do đó xúc đối với thọ, nếu khi nào là sở lãnh thì lúc ấy chẳng phải sở duyên, nếu khi là sở duyên thì lúc ấy chẳng phải sở lãnh, cho nên việc Duyên và Lãnh khác nhau, y theo đây thì chấp cảnh mạnh hơn nên được gọi là thọ. Lại, luận Hiển Tông quyển hai chép: Thế nào là thọ lãnh nạp tùy xúc? Nghĩa là, thọ là quả gần gủi của xúc, cho nên tiếng tùy xúc này là nói lên nghĩa nhân, năng thuận theo thọ. Thọ là năng lãnh nạp, năng thuận theo nhân của xúc, nên nói
thọ lãnh nạp tùy xúc, lãnh nạp thuận theo xúc gọi là Tự tánh thọ. Có người lại nói, nói lãnh nạp xúc gọi là tự tánh thọ, chính là thọ này lãnh nạp tự thể. Nói lãnh xúc: xúc là nhân của thọ, thọ là quả của xúc; thọ năng lãnh nạp các tướng thuận, nghịch, vừa thuận vừa nghịch của xúc. Lãnh nạp là quả của xúc, quả tức là thọ. Lại lãnh nạp tự thể, tức chấp lấy tướng lãnh nạp của xúc. Luận Chánh Lý giải thích quả rằng: như nói vua ăn cõi nước, chẳng phải ăn đất đai, mà là ăn cái từ trong đất có ra, nói ăn cõi nước là nêu nhân để bày quả. Lãnh nạp xúc cũng như vậy. Lại như cha sinh con, con đẹp giống như cha, cũng như quả từ hạt giống quả dường như từ nhân. Theo văn dẫn trên, làm chứng rằng, thọ tự lãnh nạp là chẳng hợp lý. Nếu thọ lại lãnh thì trái với văn, nếu bấy giờ là sở duyên thì bấy giờ chẳng phải sở lãnh, nếu bấy giờ là sở lãnh thì bấy giờ chẳng phải sở duyên. Nếu lãnh nạp tự thể thì cái gì là năng sở.
Cho nên Luận Bà-sa quyển chín chép: nếu tự tánh biết tự tánh thì không nên lập năng thủ, sở thủ. Theo đây, đã nói năng lãnh, sở lãnh  thì biết rằng không phải là tự lãnh. Lại khác nhau với chỗ dẫn dụ, vua ăn cõi nước v.v… chẳng lẽ là tự ăn. Trong đó, nói lãnh tức là tự thể có tướng kia. Tự là năng lãnh; kia là sở lãnh; như con dấu in lên sự vật, vật thọ lãnh tướng của ấn, không thể nói vật tự lãnh vật. Có người nói càn rằng, Duy Thức chuyến chấp phá nghĩa của Hữu Bộ, làm Chánh Tông là Nhầm. Lại nói: như Sư Câu-xá bác bỏ rằng các tâm, tâm sở cùng một sát na, đều duyên với cảnh trước, làm sao có thể nói lãnh tương ưng xúc. Nếu từ kia sanh và tương tợ thì gọi là Thọ. Con từ cha sanh, quả từ nhân sanh, nên gọi là thọ; cũng đều là sai. Luận chủ tự lấy lãnh nạp làm tự tánh Thọ, cùng đồng với Chánh Lý. Nhọc gì trong đây dẫn luận Duy thức để bác bỏ. Lại, các pháp có tên gọi khác nhau, đâu thể lấy một mà ví với cái khác, rồi gọi là Thọ được.
40. Nêu thể của Tưởng uẩn:
Luận chép: “Tưởng uẩn” cho đến “nên như thọ mà nói”: là thứ hai, nêu thể của tưởng uẩn. Tưởng năng chấp tượng, đó là chấp các tướng xanh, vàng, v.v… nam nữ khổ vui v.v… nên gọi là chấp tưởng.
Luận chép: “trừ trước và sau” cho đến “gọi là hành uẩn; đây là thứ nêu thể của hành uẩn. “Trừ trước” là sắc, thọ, tưởng, và sau là thức uẩn. Các pháp hữu vi là phân biệt với vô vi. Tức là trừ bốn uẩn và vô vi, tất cả các pháp còn lại đều thuộc về hành uẩn, vì pháp nhiều cho nên theo chung mà đặt tên.
Luận chép: “Nhưng Bạc-già-phạm” đến “do tối thắng”, dưới đây thứ hai là phần hội thích kinh. Trong văn có hai: một là thuận thích, hai
là phản nạn thích. Đây là thuận thích. Thật ra, hành uẩn thuộc về đa hữu vi, nhưng kinh chỉ nói sáu tư, gọi hành uẩn là do nghĩa tư hành vượt hơn các pháp khác.
Luận chép: Vì sao? Đây là hỏi về lý do vượt hơn.
Luận chép: “hành gọi là tạo tác” cho đến “cho nên là tối thắng” đây đáp lý do vượt hơn. Do tạo tác nên gọi là Hành; nghiệp là tạo tác, tư là tánh của nghiệp, nghĩa tạo tác mạnh hơn các pháp hữu vi khác, nên gọi là tối thắng. Nói nghiêng về tư.
41. Dẫn giáo chứng minh:
Luận chép: Cho nên Phật nói cho đến “gọi là hành uẩn” đây là dẫn giáo chứng minh. Y theo lời Phật dạy cho nên biết, thật sự có cả các pháp khác nhau, do nghĩa của tư tạo tác mạnh gọi là hành thủ uẩn. Luận Chánh Lý chép: trong khế kinh dạy dứt hẳn ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, chẳng phải không dứt hẳn tất cả phiền não thì dứt của kiến đế, nên biết kinh này có thuyết khác. Các kinh như vậy đều nói theo sự thù thắng. Ở đây cũng vậy, tạo tác hữu vi, công năng vượt hơn, vì sao nói đây là năng tạo hữu vi, nghĩa là có công năng dẫn sinh kết quả.
Luận chép: Nếu không như thế cho đến nên biết nên dứt: Là giải thích vặn hỏi. Nếu theo văn kinh, chỉ có sáu tư thân là hành uẩn, tức trong pháp hữu vi, trừ sắc, thọ, tưởng, tư, thức. Ngoài ra, các pháp hữu vi khác chẳng thuộc về thủ uẩn nên chẳng phải khổ đế tập đế. Đã chẳng phải khổ, tập thì không thể nên biết, nên dứt.
Luận chép: “Như Thế tôn nói” cho đến “nói cũng như thế”: Là dẫn văn làm chứng. các pháp hữu vi khác phải tu cho đạt đến mới biết, chưa đạt thì chưa biết đây là khổ. Chưa dứt, chưa diệt, cũng như vậy. Cũng nói, nếu đối với một pháp, chưa dứt, chưa diệt là dứt tập. Cho nên biết, tất cả pháp hữu lậu, đều nên biết, nên dứt.
42. Gam nhiếp chung tất cả pháp hữu vi:
Luận chép: Vì thế phải nên cho đến “đều thuộc về hành uẩn”: Là gom nhiếp chung tất cả pháp hữu vi.
Luận chép: Tức đều ở đây nói cho đến “lập làm pháp giới”: gom chung bảy pháp làm xứ giới.
Luận chép: Đã nói ba uẩn xứ giới như thọ v.v… dưới đây là thứ ba, có một hàng tụng giải thích thủ uẩn và lập xứ giới.
43. Giải thích bằng văn xuôi:
“Luận chép” cho đến “nên gọi là thức uẩn” là văn xuôi giải thích. Trong đó có hai:
1) Giải thích thức uẩn và phân biệt xứ giới.
2) Tổng kết năm uẩn và phân biệt xứ giới.
Văn trước có ba:
1) Giải Thích danh nghĩa.
2) Chia làm sáu.
3) Lập xứ giới.
Văn ở đây nêu là, giải thích ý nghĩa tên gọi thức, tức sáu thức thân mỗi thức thân biết đều rõ tự cảnh. Trong tự cảnh xứ, đều chấp cảnh tướng, không chấp riêng, tượng ấn, trì, v.v… nên gọi là chấp chung chẳng phải trong tướng chung riêng chấp lấy tưởng chung. Luận Chánh Lý chép: Thức là liễu biệt, là chỉ cho chấp nghĩa tướng cảnh giới, mỗi mỗi chấp chung từng cảnh giới kia, mỗi mỗi biết rõ; nghĩa là nhãn  thức kia tuy có sắc, v.v… nhiều cảnh hiện tiền, nhưng chỉ chấp sắc, không chấp thanh v.v… Ở đây, giải thích đều chấp riêng nghĩa cảnh, chỉ chấp xanh v.v… chẳng cho là xanh. Luận đã nói chỉ cho nên biết không chấp chung riêng. Đây là phân biệt thắng giải. Cũng chẳng phải vừa ý, không vừa ý, v.v… tức phân biệt sở thủ về xúc, thọ. Chẳng phải nam, nữ v.v… chẳng phải người nộm v.v… chẳng phải đắc thất, v.v… tùy theo sự thích ứng mà phân biệt tâm sở. Như mắt thức, đối với tự cảnh của nó, chỉ chấp chung về tướng. Như vậy, các thức khác theo dó mà biết. Y theo lời nói trên, chắc chắn không chấp riêng. Lại, luận Hiển Tông chép: thức là liễu tức là chỉ chấp chung về cảnh năng hai chép: chỉ phân biệt chung các cảnh sắc v.v… chẳng phải cảnh tướng khác nhau, gọi là Thức. Phân tướng riêng khác nhau tức các pháp tâm sở như thọ, v.v… thức không có tác dụng, chỉ làm sở y. Y theo ba luận trên, có bốn lần nói đản, văn chấp chung là chắc chắn, không thể nói gần riêng. Trong pháp tâm sở không có một riêng nào, có hai giải thích. Có người không hiểu ý luận, nêu ra bốn giải thích sai lầm, cũng không biết giải thích nào là hơn, làm người học đời sau nghi nan, khiến mê lầm luận thuyết.
Bốn giải thích:
- Thứ nhất giải thích rằng: ở trong cảnh, có hai thứ tướng một là tướng chung đó là sắc thanh, v.v… hai là tướng riêng, đó là trái thuận, v.v… pháp tâm, tâm sở, đối với cảnh sở duyên, tâm chấp tướng chung, không thể chấp riêng. tâm sở, đều tự chấp cảnh tướng riêng, không thể chấp chung. Vì đối với một thể không có nhiều giải thích, cho nên luận nhập A-tỳ-đạt-ma quyển hai chép: Chỉ phân biệt chung về các sự cảnh như sắc, v.v… gọi là Thức. Nấu có công năng phân tướng riêng khác nhau thì gọi là các pháp tâm sở như thọ, v.v… Thức không có công dụng ấy, chỉ làm sở y.
- Thứ hai giải thích rằng: tâm vương chủ yếu là chấp tướng chung, chấp cả tướng riêng; các pháp tâm sở, đều chấp tướng riêng, chẳng thể chấp tướng chung. Nghĩa này ý nói, tâm vương năng lực mạnh, cócông năng chấp cả chung riêng; tâm sở năng lực yếu, chỉ có thể chấp riêng, không chấp chung. Phá rằng: trái với văn, lại không có giáo chứng, không thể y theo.
- Thứ ba giải thích rằng: các pháp tâm sở, đều chủ yếu chấp lấy tướng riêng, gồm chấp tướng chung; tâm vương chỉ chấp cả tướng chung, chẳng chấp tướng riêng. Nghĩa này ý nói sở tác xứ của tâm vương, tâm sở phải thuận theo, cho nên pháp tâm sở bao gồm cả chấp chung. tâm vương không tùy theo tâm sở nên không thể chấp riêng. Bác bỏ rằng: dụ không tương tợ. Vua thì thống lãnh chung, thần dân thì nhiếp khắp; lập luận đó không có văn làm chứng, lại trái với dụ trên nên không thể y theo.
- Thứ tư Giải thích: pháp tâm, tâm sở đều có công năng chấp cả chung riêng. Nhưng tâm vương, chủ yếu là chấp chung, gồm riêng; các pháp tâm sở, đều chủ yếu chấp tự tướng riêng, gồm chấp tha tướng riêng và luôn cả tướng chung. Cho nên biết tâm, tâm sở đều có công năng chấp tướng chung và tướng riêng của cảnh: như luận Bà-saquyển ba mươi bốn chép: trong vô tàm nạp tức có giải thích hành tướng của vô tàm rằng, có các Sư khác nói: đây là nói về y hành tướng của vô tàm, hành tướng này đối với các hành tướng khác nên thành lập bốn trường hợp: Hữu vô tàm, phi vô tàm hành tướng chuyển nghĩa là vô tàm làm cho các hành tướng khác chuyển. Có khi chẳng phải vô tàm, nghĩa là pháp tương ưng với vô tàm, làm cho hành tướng vô tàm chuyển vô tàm cũng chẳng phải hành tướng vô tàm chuyển: Nghĩa là nếu chấp chủng loại này thì nên nói vô tàm tương ưng với pháp làm cho các hành tướng khác chuyển. Nếu không vậy, thì nên nói, trừ tướng trước. Trong phần giải thích vô quí cũng có bốn trường hợp. Ở đây không thể dẫn hết. Y theo đây thì biết, đều chấp cả chung và riêng. Phá rằng: có người dẫn văn làm chứng mà không biết đúng hay không. Vả lại như thọ lãnh tùy xúc, tưởng chấp cảnh tượng, chứ đâu thể nói tưởng lãnh tùy xúc, thọ chấp cảnh tượng; lý hẳn là không đúng. Tâm, tâm sở cùng một hành tướng, nghĩa là chấp lấy tự tướng và công, tướng của các pháp xanh, vàng v.v… chẳng phải pháp tâm, tâm sở này đều chấp riêng tượng v.v…
Bà-sa quyển ba mươi tư chép: Thế nào là vô tàm?
Đáp: Các vô tàm, vô sở tàm; vô tu, vô sở tu; cho đến vô kỉnh tánh; cho đến hỏi: Điều trong đây nói danh ngôn sai khác là để nêu lên tự
tánh, nói về hành tướng hay để nêu lên sở duyên? Một là nói nói về tự tánh; hai, là nói nói về hành tướng; ba, là nói nói về sở duyên. Theo quyển mươi tám chép: vì sao không cọng thêm vô minh, tùy miên?
Đáp: các vô minh đối với khổ không biết rõ; đối với tập, diệt, đạo không biết rõ; không biết rõ là nêu nghĩa bất dục nhẫn. Nghĩa là do vô minh làm mê mờ, che lấp tâm, nên đối với bốn Thánh đế, không dục, không nhẫn. Do vậy, nên nói rằng, không biết rõ. Chẳng phải bất minh: như người nghèo nàn, thức ăn dở đã đầy bụng rồi nên gặp thức ăn ngon cũng không muốn ăn. Dị sanh cũng vậy, vì bị vô minh che khuất tâm tánh nên khi nghe bốn Thánh đế không muốn nghe, không nhẫn chịu. Hỏi: trong đây nói bất liễu danh ngôn là nói về tự tánh, nói về hành tướng hay nói về sở duyên? Đó là nói về tự tánh vô minh. Có Sư khác nói, đó là nói về sở duyên của vô minh. Lại có thuyết nói, đó là nói về hành tướng vô minh. Phê lời bình: nên nói thế này, vô minh này đối với bốn Thánh đế không quyết trạch được, do vậy nên dùng làm tự tánh.
Y theo văn phê bình này, biết rằng Sư dầu là đúng. Vô tàm cũng vậy, thành lập bốn trường hợp cũng chẳng phải nghĩa đúng, do vậy không thành chứng cứ. Nay nói rõ thêm y luận tâm, tâm sở, tuy đồng chấp các tướng chung riêng của xanh, vàng, v.v… nhưng đối với các tướng này, có ấn, tri, thủ, tượng v.v… nhiều thứ khác nhau, gọi là chấp riêng. tâm vương chấp có cảnh tướng, tướng riêng rất khó biết. Như  đài lục ty, lý đồng một nước, trong đó mỗi người một việc không giống nhau, vua thì coi sóc chung tướng riêng khó rõ.
Luận chép: Ở đây lại khác nhau cho đến “chí ý thân thức” là thứ hai đứng về mặt y mà chia làm sáu.
44. Giải thích uẩn ra thành xứ giới:
Luận chép: “Nên biết như thế” cho đến “chuyển thành ý giới” là chia thức uẩn ra thành xứ giới.
Luận chép: “như thế trong đây” cho đến “và ý giới” là thứ tư trong toàn văn, tổng kết năm uẩn, chia chung làm năm uẩn thành mười hai xứ, mười tám giới, lời văn rất dễ hiểu.
Luận chép: “khởi bất thức uẩn” cho đến “lại làm ý giới” dưới đây là thứ tư, gồm mười hai bài tụng, hỏi đáp phân biệt. Trong đây cómười một đoạn. Thứ nhất hỏi về ý giới. Nửa bài tụng đầu hỏi về giới, nửa bài tụng sau hỏi về số lượng của ý, đây là hỏi về thể.
Luận chép “cánh vô dị pháp tức ở trong đây” tức ở trong sáu thức.
“Luận chép” cho đến gọi là thứ khác là giải thích, tức sáu thức
thân làm nghĩa sở y gọi là ý; làm nghĩa năng y gọi là Thức. Như cha, con; quả chủng chỗ hướng về khác nhau nên có tên khác nhau. Đây là đáp về thể.
45. Hỏi về số lượng:
Luận chép: “Nếu thế thật giới” cho đến “Mười tám giới phải không? Là thứ hai hỏi về số lượng.  Nếu sáu thức y tha khởi nên gọi   là Thức thì chỉ có sáu thức; nếu thêm năm căn, sáu cảnh thì giới chỉ có mười bảy; nếu làm nghĩa sở y, chỉ gọi là một, ý căn. Nếu gồm thêm năm căn, sáu cảnh thì thành mười hai. Sáu thức và ý lại nhiếp nhau; nhiếp ý theo thức thì là mười bảy; nhiếp thức theo ý thì có mười hai.
“Luận chép” cho đến “giới thành mười tám: Là giải thích, ở đây lập mười tám giới cho nên thành thứ sáu y. Do vậy, ngoài sáu thức, lại lập ý giới. Trên đây là nói về số lượng.
Luận chép: “Nếu thế vô học” cho đến “chẳng phải ý giới” làvặn hỏi. Nếu lấy hậu thức y gọi đó là ý thì vô học hậu tâm không thể nương thức, lẽ ra không phải ý giới.
Luận chép: Không như thế cho đến “hậu thức bất sanh” là đáp. Giống như hạt giống đã trú trong tánh thể của nhân, vì thiếu các duyên khác nên kết quả về sau không sanh được. Hậu tâm cũng vậy, đã trú trong thể tánh của ý vì các duyên khác thiếu nên hậu thức không sanh mà chỉ thành ý giới.
Luận chép: Thuộc về uẩn trong đây cho đến “nhiếp chung thế nào?” từ đây là một bài tụng là thứ hai nói về uẩn, xứ, giới, đều là một nhiếp tất cả các pháp.
46. Giải thích bằng văn xuôi:
“Luận chép” cho đến “tất cả pháp cùng tận” là văn xuôi giải thích. Trong đó có ba:
1) Nói về một uẩn, xứ, giới, nhiếp hết tất cả pháp.
2) Nói thuộc về thắng nghĩa.
3) Nói thuộc về thế tục. Đây là dứt đầu của văn.
Luận chép: Nghĩa là các xứ cho đến “bất nhiếp tha tánh”: là thứ hai nói thuộc về thắng nghĩa. Ở đây, một pháp uẩn, xứ, giới nhiếp tất cả pháp, đó là thuộc về thắng nghĩa. Nói thắng nghĩa tức là nghĩa chân thật.
Luận chép: Vì sao? Là hỏi, sở dĩ thuộc về thắng nghĩa vì chỉ nhiếp tự tánh.
Luận chép “pháp và tha tánh” đến “lý ấy không đúng” là lời đáp. Tự tánh, tha tánh thường lìa nhau nên không thể nhiếp nhau được.
Luận chép: “Lại như mắt căn” cho đến “lìa tánh kia” chỉ về sự mà giải thích.
Luận chép: Nếu đối với các nơi cho đến “nhiếp đồ chúng v.v…” là thuộc về thế tục.
Luận chép: “ba xứ mắt, tai, tỷ mỗi xứ đều có hai”: dưới đây nửa bài tụng là thứ ba nói về ba căn, xứ hai, giới một. Trước là hỏi đáp, lời văn rất dễ hiểu.
“Luận chép” cho đến “nhãn thức y là giải đáp. Ba căn, tuy xứ riêng biệt, mỗi căn có hai, vì cả ba đồng nhau nên lập thành một giới. Đây là giải thích ba căn nghĩa đồng nhau.
47. Tổng kết:
Luận chép: “Do nhãn giới này” cho đến “như thị an lập”: Là tổng kết xong.
Luận chép: “Nếu thế vì sao hai xứ sanh, y”: đây là vặn hỏi, Ba căn như mắt căn, nhĩ căn v.v… đã có ba nghĩa giống nhau nên tuy hai cõi đồng nhưng vì sao có hai xứ sanh và y? Dưới đây nửa bài tụng là thứ tư nói về lý do ba căn sanh hai xứ.
“Luận chép” cho đến “thân không đoan nghiêm” trông giải thích có hai:
1) Hữu Bộ Giải thích.
2) Luận chủ bác bỏ, đây là đầu đoạn văn vì làm cho thân đoan nghiêm nên sinh ra hai, nhưng sinh ra hai thứ thân và lưỡi lại không đoan nghiêm như xuyên tử tinh, như rắn hai lưỡi. Như trong luận Bà-sa có nói rộng. Nếu mắt, tai tỷ chỉ có một thì thân không đoan nghiêm nên mỗi căn đều sinh ra hai.
48. Luận chủ vặn hỏi:
Luận chép: Giải thích này không đúng cho đến có gì đoan nghiêm?” là thứ hai luận chủ vặn hỏi. Miêu, xỉ, có hai mũi, hai tai, tuy sinh hai xứ nhưng có gì đoan nghiêm.
Luận chép: “Nếu thế ba căn vì sao sanh hai?” Hữu Bộ hỏi.
Luận chép: “Vì thức phát” ra cho đến “đều sanh hai xứ” là luận chủ đáp. Ý của luận Chánh Lý giống với ý này. Luận Chánh Lý chép: vì làm sở y cho thân tướng đoan nghiêm nên giới thể tuy một mà sinh ra hai xứ. Nếu các căn như mắt căn, nhĩ căn sinh ra một xứ, tỷ không có hai lỗ thì thân không đoan nghiêm. Giải thích này không đúng như Đà, Miêu v.v… xấu xí như vậy có gì đoan nghiêm. Do đó, các căn mỗi căn đều có chủng loại khác nhau, sắp bày như vậy khiến sinh ra khác nhau. Ở đây vì đợi nhân duyên nên có khác nhau; nếu nhân duyên bị chướng
ngại thì không sanh ra hai, như các xứ thân căn, đầu, cổ, bụng, lưng, tay, chân, v.v… Thật ra do sắp bày khác nhau nên chủng loại như vậy, không nên nghi ngờ vặn hỏi. Cũng đợi nhân duyên như vậy, nếu nhân duyên bị chướng ngại thì có dị sanh riêng, cho nên thấy thân rắn, v.v… có thiếu sót. Lại thấy, loại ấy, lưỡi chẳng phải có một. Cho nên các căn sắp bày khác nhau, chờ nhân duyên để khởi, chẳng phải để nghiêm thân. Nếu vậy vì sao nói các căn như mắt, tai, v.v… vì khiến cho đoan nghiêm nên đều sanh ra hai xứ. Ở đây có nghĩa khác, chẳng phải để nghiêm thân. Hiện thấy thế gian đối với các tác dụng tăng thượng tròn đầy cũng nói là đoan nghiêm. Nếu các căn như mắt căn, nhĩ căn, v.v… đều thiếu một xứ, thì tác dụng thấy, nghe, ngữi đều không rõ ràng, có đủ hai xứ thì phát sanh tác dụng rõ ràng. Cho nên ở đây nói đoan nghiêm chính là  vì làm cho tác dụng có nghĩa tăng thượng. Theo đây thì luận Chánh Lý giải thích hợp với Bà-sa, câu-xá. Nay hỏi rằng: vì nếu phát thức tiểu đại là được, cần gì dùng đến hai xứ, giải thích trước của Chánh Lý là hơn.
Luận chép: “Đã nói thuộc về sắc uẩn và xứ giới,” dưới đây là thứ năm có nửa bài tụng, giải thích nghĩa của uẩn, xứ, giới.
“Luận chép” cho đến “là nghĩa uẩn”, là giải thích văn tụng, trong văn có bốn: giải thích uẩn, xứ, giới có chia làm ba. Bốn là phân biệt hỏi đáp. Trong phần giải thích nghĩa uẩn văn chia làm hai: một, là giải thích nghĩa uẩn; hai, là dẫn kinh chứng minh. Văn nêu lên ở đây là phần đầu, giải thích nghĩa uẩn, nghĩa hòa hợp là nghĩa uẩn.
49. Dẫn kinh chứng minh:
Luận chép: “như khế kinh chép” cho đến hoặc xa hoặc gần là thứ hai, dẫn kinh chứng minh, trong văn có ba: 1/ Nêu lên nhiều loại; 2) Nói về nhiều tụ; 3) Kết thành. Đây là phần đầu, nói về quá khứ v.v… là nêu nhiều loại.
50. Nói về nhóm:
Luận chép: Tất cả như thế cho đến “gọi là sắc uẩn”: Thứ hai là nói về nhóm; đây là danh lược, không phải thể lược; các sắc trong ba đời không thể lược làm một nhóm, chỉ đối với danh, tổng lược làm một nhóm. Luận Bà-sa quyển bảy mươi tư nói, hỏi: các sắc quá khứ, hiện tại, vị lai có thể lược nhóm hay không? Đáp: tuy không thể lược nhóm thể của nó, nhưng có thể lược nhóm danh, cho đến thức uẩn nên biết cũng như vậy. Luận Tạp tâm nói danh lược chứ chẳng phải thể lược. Luận Bà-sa quyển bảy mươi tư chép các kinh khác lại nói, vì sao sắc uẩn, tất cả các sắc hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại hoặc trong hoặc ngoài hoặc xa, hoặc gần, tất cả như vậy lược làm một nhóm nói
là sắc uẩn, cho đến thức uẩn nói rộng, cũng thế. Đây là nhằm ngăn dứt ngoại đạo mà nói rằng: khi Phật tại thế có một người ngoại đạo xuất gia tên là Trương Kế bác không có quá khứ, vị lai, vì để ngăn ý của vị ấy, nên Đức Thế tôn nói tất cả các sắc hoặc quá khứ, hoặc vị lại, hoặc hiện tại. Cho đến mỗi rộng Luận A-tỳ-đạt-ma chép: Thế nào là sắc uẩn? Đó là mười sắc xứ, và pháp xứ, sở nhiếp sắc gọi là sắc uẩn. Đây là để ngăn dứt. Thí dụ, giả cho rằng. Nói thí dụ là để bác không có pháp xứ sở nhiếp các sắc. Ở đây tôn giả Pháp Cứu cũng nói, tất cả các sắc đều là sở y, sở duyên của năm thân thức. Thế nào là sắc mà chẳng phải sở y, sở duyên của năm thân thức? Vì để ngăn dứt ý người kia nên nói như vậy. Thế nào là sắc uẩn? Đó là sắc xứ và các sắc thuộc về sắc xứ.
51. Kết luận:
Luận chép: “Do nghĩa nhóm này mà nghĩa uẩn được thành tựu”, đây là kết luận.
Luận chép: “ở trong kinh này cho đến gọi là hiện tại” là giải thích sắc trải qua ba đời.
Luận chép: “Tự thân gọi là nội” cho đến “hoặc y theo xứ mà nói”; tự thân gọi là nội: Tự thân gọi là tha thân và phi hữu tình gọi là ngoại. Nếu từ xứ mà giải thích nội ngoại thì năm căn là nội, năm cảnh là ngoại.
Luận chép: “hữu đối danh thô” cho đến “hoặc đối đãi nhau mà lập” dùng hai nghĩa để giải thích thô tế. Hữu đối gọi là thô, năm căn, năm cảnh gọi là thô. Vô biểu gọi là tế. Đối đãi thô tế tức đối nhau khác nhau.
Luận chép: “Nếu nói đối đãi nhau thì thô tế bất thành” đây là vặn hỏi.
Luận chép: “thử nạn” này cho đến “khổ đế tập đế v.v…” là giải thích người ngoài hỏi.
Luận chép: “nhiễm ô gọi là liệt, bất nhiễm ô gọi là thắng”: là giải thích hơn và kém. Pháp vô phú vô ký, thiện đều gọi là thắng. Hữu phú vô ký, bất thiện gọi là liệt.
Luận chép: “Đến đi gọi là xa, hiện tại gọi là gần”, đây là y theo thời gian mà giải thích xa gần.
Luận chép: “Cho đến thức uẩn nên biết cũng thế: có nghĩa đồng nhau giống như giải thích các uẩn khác.
Luận chép: “mà có khác nhau” cho đến “hoặc y theo địa mà nói về sự khác nhau. Chỉ có hai thứ thô, tế và nghĩa của sắc uẩn là khác nhau, các nghĩa khác đều giống.
Luận chép: Điều “Sư Tỳ-bà-sa nói là như thế”: kết luận nghĩa của các Sư Tỳ-bà-sa.
52. Nói về thuyết khác:
Luận chép: “Đại Đức Pháp Cứu” cho đến “thô tế đồng với trước” là nói về thuyết khác. Các Sư này không nói có vô đối sắc, như trước dẫn văn luận Bà-sa. Sở thủ của năm căn gọi là sắc thô tức là nămcảnh là sắc thô. Các thứ khác gọi là tế tức năm căn này chẳng phải vô biểu. Chẳng vừa ý gọi là liệt sắc, vừa ý gọi là thắng sắc; từ số nhiều mà nói riêng, hoặc y theo hữu tình mà giải thích hơn kém. Chỗ không thể thấy gọi là viễn sắc; chỗ thấy được gọi là cận sắc; đây y theo chỗ gần xa mà giải thích gần xa. Các sắc quá khứ v.v… như tự gọi là hiển tức như giải thích tên của các sắc quá khứ, hiện tại, vị lai gọi là giải thích sắc ba đời. Rằng đã sanh đã diệt gọi là sắc quá khứ. Đã sanh chưa diệt gọi là sắc hiện tại, chưa sanh chưa diệt gọi là sắc vị lai. Thọ, tưởng v.v… cũng như vậy: Giống như giải thích bốn uẩn, tùy theo năng lực sở y nên biết gần xa. Đây là theo vặn hỏi mà giải thích lại. Khả ý, bất khả ý, ba đời v.v… là giải thích về các thuyết đồng khác, không cần giải thích lại. Pháp Vô Sắc không có nơi chốn nên theo các sắc giống nhau mà nói về xa gần để giải thích nạn nên giải thích lại. Cho nên theo sở y mà nói xa gần. Thô tế của bốn uẩn giống với giải thích của luận Bà-sa.
53. Giải thích nghĩa xứ:
Luận chép: “pháp tâm, tâm sở” cho đến “nghĩa tác dụng” kia: là thứ hai giải thích nghĩa xứ, xưa dịch là nhập; nghĩa vô cùng tận, nghĩa diệt là nghĩa nhập; tuy diệt mà không có nghĩa sanh, thật ra, mười hai xứ làm chỗ cho tâm, và tâm sở lớn lên, cũng làm chỗ cho sự hoại diệt. Nay nói xứ có cả hai nghĩa. Từ Huấn thích: Có công năng làm cho pháp tâm, tâm sở lớn lên gọi là xứ. Nêu một nghĩa để giải thích, đó là công năng lớn lên tác dụng của kia. Pháp tâm, tâm sở , trước có thể tánh; do mười hai xứ khiến hiện hành ở thế gian, lấy quả gọi là tác dụng.
Luận chép: “Pháp chủng tộc nghĩa” cho đến “gọi là mười tám giới”: Thứ ba là giải thích cõi. Văn lại có hai giải thích:
1) Nghĩa chủng tộc.
2) Nghĩa chủng loại.
Như trong một ngọn núi v.v… là nêu ví dụ. Một thân như vậy, hoặc một nối tiếp v.v… là nói về pháp hợp.
Luận chép: “Chủng tộc” trong đây cho đến vì là“nhân đồng loại” là giải thích nghĩa chủng tộc.
Luận chép: “Nếu thế thì vô vi lẽ ra không gọi là cõi vì không có
nhân đồng loại”: Là vặn hỏi.
Luận chép: Là gốc để “pháp tâm tâm sở sanh ra”: Là lời đáp. Luận Chánh Lý chép: nếu vậy nghĩa của xứ và giới xen lẫn nhau vì đều có nghĩa là gốc sanh ra pháp tâm, tâm sở. Do đó, nên phải giải thích riêng về nghĩa chủng tộc. Như hùng, hoàng, v.v… xoay vần đối nhau, thể loại khác nhau nên gọi là chủng tộc. Cũng vậy, mắt, tai v.v… xoay vần, đối nhau thể loại khác nhau nên gọi là chủng tộc. Nếu vậy, ý giới đối với sáu thức không có thể loại riêng, lẽ ra chẳng phải là một giới riêng. Bắt bẻ này không đúng. Vì sở y, năng y thể loại khác nhau. Có thuyết nói do thời phần an lập khác nhau. Lại có thuyết nói: sáu là trước ý, ý chẳng phải trước sáu cho nên biết có khác. Tuy các giới thể đều có ở cả ba đời, nhưng theo vị khác nhau mà đặt tên khác. Do vậy, nên nói, sáu trước ý sau, có người nói Sư Câu-xá giải thích xứ giới có sự tương lạm nên vặn hỏi rằng:
1) Nhân đồng loại gọi là gốc sanh các pháp thì mười bảy giới đầy đủ, phần ít của một giới.
2) Cảnh giới duyên gọi là gốc sanh ra các pháp, đó là pháp vô  vi, phần ít của một giới. Từ phần nhiều nên nói nghĩa xứ không giống nhau; phần ít xem lạm nhau cũng không có lỗi. Nay nói rõ về giải thích này tức là giải thích nạn. Danh nghĩa của ba khoa đã chấp nhận không giống nhau thì không thể nghĩa của xứ lại là nghĩa giới được. Nếu chấp nhận một phần vô vi đồng với nghĩa của xứ thì không có nghĩa giới. Theo lý, vô vi chỉ có nghĩa xứ, không có nghĩa giới, cũng như không có nghĩa uẩn. Muốn chống chế, Câu-xá nên tìm lý lẽ khác.
Luận chép: “Lại nói giới thanh” cho đến “gọi là mười tám giới”: Đây là thứ hai giải thích, đại khái đồng với ý của luận Chánh Lý, Luận sư Chánh Lý bỏ giải thích sau, nghĩa đương dị xứ. Tuy hai giải thích không giống nhau nhưng chung quy vẫn là nghĩa giới của giải thích thứ ba.
54. Hỏi đáp phân biệt:
Luận chép: “Nếu nói nghĩa nhóm” cho đến “như nhóm, nhưngã” dưới đây là thứ tư hỏi đáp phân biệt. Tát-bà-đa-bộ cho rằng ba khoa đều là thật, Kinh bộ cho rằng uẩn, xứ là giả, chỉ có giới là thật. Luận chủ cho rằng uẩn là giả, xứ, giới là thật. Lập lượng bác bỏ Hữu Bộ rằng năm uẩn như sắc uẩn, v.v… chắc chắn là giả, vì do nhiều pháp khác hợp lại mà thành, giống như nhóm ngã.
Luận chép: “Nạn này không đúng,” cho đến “cũng gọi là uẩn”: Là Hữu Bộ chống chế. Phần nhiều thật sự thành nhân là điều Hữu Bộ
không chấp nhận, đó không thành lỗi.
Luận chép: Nếu thế không nên cho đến có nghĩa nhóm: Là luận chủ vặn hỏi. Kinh nói nghĩa chứa nhóm gọi là uẩn, nay nói một thật cũng gọi là uẩn, thì có lỗi trái với Thánh giáo. Luận Chánh Lý chép: nếu dùng nghĩa chứa nhóm để giải thích nghĩa uẩn thì chẳng phải thật vì chứa nhóm là giả. Nạn này không đúng vì y theo nơi sở y của chứa nhóm để lập nghĩa mà nói, chẳng phải tụ là nghĩa, nghĩa là vật thật gọi là khác nhau, nhóm chẳng phải thật. Giải thích này nói về nghĩa thú rộng lớn của kinh, đó là như nói nhóm mà lìa sở y tụ thì không có một nhóm thể riêng, chỉ trong sự nối tiếp của uẩn mà giả nói ngã vậy thôi; cũng như nhóm ngã của thế gian chẳng phải thật có. Nếu thật sự có uẩn thì kinh hiển bày nghĩa gì về các vật hóa sanh. Biết rằng các pháp như sắc v.v… trong ba thời, phẩm loại của chúng có vô lượng khác nhau nhưng đều là uẩn. Uẩn thì vô biên; sơ người sanh lui sụt cho rằng, ta làm sao biết hết và dứt hết vô biên uẩn này, để khích lệ, tuy uẩn là vô biên nhưng tương đồng nên đều nói là một.
Lại, các người ngu, đối với nhiều uẩn kia, phát sinh tưởng hiệp một mà khởi lên ngã chấp, để khiến cho những người đó dứt bỏ tưởng hiệp một nên nói rằng, trong một uẩn có nhiều thành phần chứ chẳng nói rằng năm uẩn như sắc, thọ, v.v… do nhiều pháp hợp thành cho nên là giả, chẳng phải thật.
Lại, một cực vi thuộc cả ba đời, v.v… dùng tuệ để phân tích lược thành một nhóm, uẩn tuy là nhóm nhưng vẫn thành tựu thật nghĩa. Các pháp khác cũng vậy. Cho nên uẩn chẳng phải giả.
Lại đối với mỗi pháp khởi riêng, cũng gọi là uẩn nên uẩn chẳng phải giả. Như nói câu sanh thọ gọi là thọ uẩn, tưởng gọi là tưởng uẩn. Ngoài ra như kinh nói: Bất cứ lúc nào cũng, hòa hiệp mà sanh, uẩn tuy khác nhau nhưng nghĩa nhóm vẫn thành.
55. Giải thích pháp hữu vi:
Luận chép: “Có thuyết, nói năng gánh vác” cho đến “vật sở nhóm” là thứ hai giải thích, nghĩa là pháp hữu vi đều có quả, tức là do nghĩa gánh vác quả mà gọi là uẩn. Tuy nói vật sở nhóm nhưng chẳng phải dùng nghĩa nhóm để giải thích uẩn, mà do trong gánh vác đó có vật nhóm, khác nhau với kinh.
Luận chép: “Hoặc có người nói” cho đến ta sẽ cho ông là thứ ba giải thích. Nghĩa có thể chia chẻ, luận Chánh Lý chép: đó là nghĩa chia chẻ ba đời, v.v… “ba uẩn của ông trả lại” nghĩa là trong ba đời, trả lại đầy đủ, ta sẽ cho ông tài vật đó.
Luận chép: Ở đây giải thích vượt kinh cho đến như trước có nói rộng: Là bác bỏ thuyết thứ ba. Trước nói vật chứa nhóm nghĩa giống với nghĩa nhóm của kinh. Đây cũng có thể gồm bác bỏ cả thuyết thứ hai, vì kinh không nói nghĩa gánh vác gọi là uẩn. Theo luận Chánh Lý thì giải thích thứ ba là hợp lý.
Luận chép: “Nếu cho rằng kinh này” cho đến “gọi là uẩn” là lại bác bỏ lập luận của Hữu Bộ.
56. Tổng kết thành:
Luận chép: “Cho nên như nhóm uẩn chắc chắn là giả có”: Là tổng kết thành.
Luận chép: “Nếu thế, ưng hứa” cho đến “thành sanh môn” là câu vặn hỏi ngược lại của Hữu Bộ.
Luận chép: “Nạn này phi lý” cho đến “có nhân dụng” là giải thích thuận.
Luận chép: Nếu không như thế cho đến “mười hai xứ khác nhau”: ý nói, hỏi lại thành tựu. Luận chủ chấp nhận rằng, xứ là thật, khác với Kinh bộ.
Luận chép: “Nhưng Tỳ-bà-sa” cho đến “cũng nói đốt y” trở xuống: Là nhắc lại chung văn Bà-sa để giải thích. Cho nên Bà-sa chép: Các sư Đối pháp nói: nếu người quán uẩn là giả thì họ cho rằng cực vi là phần nhỏ của một giới, một xứ, một uẩn; Nếu người không quán uẩn là giả thì cho rằng cực vi tức là một giới, một xứ, một uẩn. Quán giả: quán cực vi là một phần của đãi tổng nhóm giả uẩn. Bất quán: không quán đãi giả tụ cực vi tức là cõi Sắc, sắc xứ, sắc uẩn. Theo đây, một cực vi được gọi là uẩn, cho nên biết uẩn là thật. Giải thích: đây là đối với phần giả mà nói hữu phần, cực vi là một phần của uẩn, nhưng là giả hữu, gọi là uẩn: uẩn là tên chung, là hữu phần, ví dụ nói rất dễ hiểu.
57. Nhân duyên khởi giáo:
Luận chép: “Vì sao Thế tôn đối với cảnh sở tri” dưới đây là nửa bài tụng, nói về lý do của ba khoa, tức là nhân duyên khởi giáo.
Luận chép: Cho đến “ba môn như uẩn v.v… ” là giải thích chung. Vì có ba thứ ba hợp nên nói là ba.
Luận chép: “Theo truyền thuyết hữu tình” cho đến “hoặc ngu mê sắc tâm” đây là giải thích ba thứ thứ nhất. Ý Phật khó biết nên nói là truyền thuyết. Do vậy, luận Chánh Lý chép: ý thú của Đức Thiện Thệ tuy rất khó hiểu nhưng theo lý mà tìm thì tương tợ như vậy. Đối với kẻ ngu muội tâm mà nói về uẩn, một phần sắc, một phần tâm, ba tâm sở. Vì kẻ ngu mê sắc mà nói xứ, mười toàn, một phần ít sắc, một toàn tâm,
một phần ít tâm sở. Vì kẻ ngu mê sắc tâm mà nói mười tám giới, mười toàn, một phần ít là sắc, bảy toàn tâm, một phần lớn là tâm sở.
Luận chép: “căn cũng có ba là lợi, vừa, độn”. Đối với người lợi căn thì nói về uẩn, vì uẩn lược. Đối với trung căn thì nói về xứ, vì xứ chẳng rộng lược. Đối với độn căn thì nói về giới, vì giới có phạm vi rộng. Căn tánh chúng sanh có ba:
Một, do sự hiểu biết nhanh chậm không giống nhau mà chia ra ba căn khác nhau.
Hai, do sự ghi nhớ dễ hay khó mà chia làm ba căn khác nhau. Nếu y theo giải không giống nhau thì chia thành thượng căn hạ. Đối với lợi căn thì nói lược, đối với độn căn thì nói rộng. Nếu y theo kiến ký không giống nhau mà chia thành thượng căn hạ thì đối với độn, nói tóm tắt đối với lợi thì nói rộng.
Luận chép: “Lạc có ba thứ” cho đến “thứ ba uẩn, xứ, giới”: Lời văn rất dễ hiểu. Ba thứ ba này: luận chủ nói lược rằng, theo nghĩa riêng thì có vô lượng, cho nên luận Chánh Lý chép: Kinh chủ trương những điều được nói trong đó còn ít, rằng các đệ tử qua tác ý, đã tu hạnh thành thục, sự nghiệp mới tu, ba vị riêng khác. Có tâm ngã mạn, chấp ngã sở tùy, mê thức y duyên, ba lỗi khác nhau. Ỷ vào mạn, tài, lộc mà sinh ra kiêu mạn, buông lung, ba bệnh khác nhau. Do các duyên này nên theo thứ lớp, Thế tôn chỉ nói nghe ba pháp uẩn, xứ, giới.
Luận chép: “Vì sao Thế tôn nói các tâm sở khác”: Dưới đây là thứ bảy nói về phế lập uẩn.
58. Giải thích bằng văn xuôi:
“Luận chép” cho đến “tham đắm các kiến”: Là văn xuôi giải thích. Trong văn có ba: một là tránh căn; hai là nhân sanh tử; ba là nhân thứ lớp. Ở đây là nhân thứ nhất Tránh căn, người tại gia do thọ lạc nên khởi tâm ham muốn tranh giành; người xuất gia, do vọng tưởng điên đảo khiến phát sinh tranh chấp về tri kiến.
Luận chép: “Lại pháp sanh tử” cho đến “sanh tử luân hồi”: Là nhân thứ hai. Như văn đã nói, theo đó dễ hiểu.
59. Tổng kết:
Luận chép: “do hai nhân này” cho đến kế đây sẽ nói: Là tổng kết thành xong. Luận Chánh Lý chép: lại, hai thứ thọ, tưởng này là gốc phát sinh hai pháp ái tạp nhiễm, mỗi loại đều nói riêng tên của một thức trụ. Dựa vào việc trừ sạch hai thứ này mà lập ra định diệt tận. Các nhân như vậy có rất nhiều loại.
Luận chép: “Vì sao vô vi nói ở xứ giới”: Dưới đây, là thứ tám, có
nửa hàng tụng, nói về phế lập uẩn.
“Luận chép” cho đến “cho đến chẳng phải thức”: Là văn xuôi giải thích, trong văn có hai: Một. ba vô vi không thể thuộc về các uẩn, như sắc thọ, v.v… vì chẳng phải sắc, v.v… không thể lập riêng thành uẩn thứ sáu, vì nó không có nghĩa uẩn. Đây là phần đầu.
Luận chép: Cũng không thể nói cho đến “gọi là vô vi uẩn”: Thứ hai là không có nghĩa uẩn. Trong văn có ba: một là không có nghĩa nhóm. Hai là không có nghĩa y. Ba, không có nghĩa uẩn. Đây là phần thứ nhất, không có nghĩa nhóm.
Luận chép: “Lại nói thủ uẩn” cho đến “nên không lập uẩn” là thứ hai, không có nghĩa y.
Luận chép: “Có thuyết” cho đến “lẽ ra chẳng phải uẩn” là giải thích thứ ba, không có nghĩa uẩn nên chẳng phải uẩn.
60. Luận chủ bác bỏ:
Luận chép: “Kia đối với xứ giới so sánh nên thành lỗi”: Luận chủ bác bỏ giải thích thứ ba, rằng nếu uẩn dứt được gọi là vô vi thì vô vi chẳng thuộc về uẩn; vậy thì xứ giới cũng gọi là vô vi vì vô vi, chẳng phải xứ giới. Cho nên nói, so sánh uẩn với xứ giới là điều không hợp lý. Chánh Lý chống chế rằng: Kinh chủ nạn rằng: Kia đối với xứ, giới so sánh nên thành lỗi” nghĩa là xứ giới lẽ ra chẳng phải xứ giới thì trái với sở tông, tức là, đối với uẩn chúng sanh chấp cho là ngã, khi ở vào các vị khác, các uẩn liền biến mất. Xứ, giới không phải như vậy, hoàn toàn không sanh khởi gì cả; chỉ có thủ uẩn khởi lên giả nói là sanh. Nếu các uẩn tức cũng lập làm uẩn thì sau khi bát Niết-bàn lẽ ra uẩn phải còn. Chúng sanh sợ uẩn vì nó có quá nhiều hoạn nạn nên không nghĩ Niết-bàn là an ổn. Trong xứ, giới không có nhiều lỗi lầm nên ở vị xứ vô dư giới vẫn tùy hành. Vì thế uẩn không nên so sánh uẩn với xứ, giới mà thành lỗi.
Lại, chữ “Tức” này chẳng phải nêu bật nghĩa dứt, thể của hư không và phi trạch diệt chẳng phải dứt. Lời đó ý muốn nêu rằng, nếu ở chỗ này tướng của uẩn không gọi là uẩn tức đối với ba vô vi không có nghĩa nhóm nên có thể gọi là uẩn tức, không có sanh môn, tộc nghĩa vì thế không nên so sánh. Giải thích này rất phù hợp với tụng. Có người soạn Câu-xá bác bỏ rằng: nếu nói vô vi không có nghĩa nhóm thì có khác gì với luận này của ta, nhưng lại ba giải thích đều là giải thích của các Luận sư Bà-sa. Trong Chánh Lý Sao chép: chủ trương củakinh Lượng Bộ đã lầm ý của các Sư xưa, cho rằng, Tức là dứt. Nếu gọi nghĩa dứt là Tức thì bị nạn đối với hư không và phi trạch diệt vì hai thứ này
chẳng đoạn, cũng gọi là uẩn tức. Nếu gọi nghĩa vô nhóm là uẩn tức thì không hợp với việc nêu xứ giới để so sánh vì xứ giới nghĩa là bất tức. Nay nói là “không đúng”. Nếu theo nghĩa dứt mà gọi là Tức, chỉ ở trạch diệt và chỉ có thủ uẩn mới có tức, các uẩn khác không tức, không trạch diệt, cũng chẳng phải hoàn toàn không có tưởng uẩn nên gọi là Tức. Do giải thích thứ ba và thứ nhất không giống nhau. Nay xét kỹ các Sư xưa nói: tức là sở hiển của diệt, nên gọi là Tức. Tất cả các pháp hữu lậu đều có hai thứ tức đó là dứt và phi trạch diệt; sắc diệt hiển bày cả hư không; hữu vi vô lậu chỉ có phi trạch diệt tức. Nếu do uẩn tức nên hiển vô vi thì uẩn không thuộc về vô vi, mười bảy giới hoàn toàn, một giới phần ít tức. Hiển ba vô vi, lẽ ra giới cũng không thuộc về vô vi vì nó chẳng phải dứt. Cũng gọi là uẩn tức. Nếu vì nghĩa vô nhóm nên gọi đó là Tức thì không hợp với việc nêu xứ, giới để so sánh, vì nghĩa xứ giới là không tức. Nên lấy không và phi trạch diệt làm vặn hỏi, không nên lấy xứ giới so sánh với uẩn. Nếu cho rằng luận Chánh Lý đồng với giải thích đầu thì cách bác bỏ này của  luận chủ trái với giải thích đầu. Nên suy nghĩ lại.
Luận chép: “Đã nói như thế các uẩn phế lập”: Dưới đây là thứ chín có một bài tụng rưỡi, nói về thứ lớp uẩn, xứ, giới. Trong đó có hai: một, nói về thứ lớp của uẩn, hai nói về thứ lớp xứ, giới. Đây là nói về thứ lớp uẩn.
“Luận chép” cho đến “lập thứ lớp của uẩn ” đây là văn xuôi giải thích. Trong văn có ba: một, là dùng bốn nghĩa để nói về thứ lớp. Hai, là chứng minh chỉ có năm uẩn. Ba, là dùng nhân có thứ lớp để, lập riêng hai uẩn thọ tưởng. Văn này là bậc nhất dùng bốn nghĩa để nói về thứ lớp, bốn nghĩa tức là bốn biệt; dùng nghĩa thứ nhất là tùy theo thô để nói về thứ lớp.
61. Nói về thứ lớp của uẩn:
Luận chép: “Hoặc từ vô thỉ” cho đến “lập uẩn thứ lớp” là thứ hai tùy theo nhiễm mà nói về thứ lớp của uẩn, Lập thứ lớp là trước quả sau nhân.
Luận chép: “hoặc sắc như khí” cho đến “lập thứ lớp uẩn” là thứ ba lập thứ lớp uẩn theo đồ đựng.
Luận chép: “hoặc tùy giới khác nhau,” cho đến “thứ lớp như thế” là  phần tùy theo giới mà nói về thứ lớp.
Luận chép: Do năm uẩn này không có lỗi thêm bớt, thứ hai là chứng minh chỉ có năm uẩn.
Luận chép: “tức do như thế” cho đến “nên lập riêng uẩn”: Là thứ ba dùng nhân thứ lớp lập riêng hai uẩn thọ tưởng.
Luận chép: “Trong môn xứ giới,” cho đến thứ lớp nên biết: Dưới đây là một bài tụng, thứ hai nói về thứ lớp xứ, giới.
62. Giải thích bài tụng căn bản:
“Luận chép” cho đến “hoặc hai, ba, bốn” là giải thích bài tụng căn bản. Trong văn có năm:
1) Chỉ chấp hiện tại nên nói trước.
2) Chỉ chấp sở tạo nên nói trước.
3) Chấp lìa cảnh nên nói trước.
4) Xa xôi mau chóng nên nói trước.
5) Thứ lớp trên dưới nên nói trước.
Đây là Phần một, chỉ chấp hiện cảnh nên nói trước nhất trong năm thứ.
Luận chép: “Cái gọi là bốn cảnh” cho đến “hoặc hai câu thủ”
là thứ hai, chỉ chấp sở tạo, cho nên mắt, tai, lưỡi, thiệt được nói trước thân.
Luận chép: Còn lại là bốn thứ trước, cho đến nói trước hai thứ, thứ ba là mắt tai chấp lìa cảnh cho nên được nói trước mũi lưỡi.
Luận chép: “Trong hai thì dụng” của mắt cho đến sau nghe tiếng: Là thứ tư nói về xa xôi mau chóng nên nói trước. Trong văn có hai: Một. mắt, tai đều là trong lìa mà biết, nhãn viễn tốc nên nói trước tai. Mũi, lưỡi là trong hợp mà biết, tỷ thì nhanh nên nói trước thiệt. Đây là bậc nhất, nói về việc nhãn được nói trước.
Luận chép: “Hai căn mũi, lưỡi” cho đến “sau lưỡi nếm vị” là thứ hai nói rằng tỷ nhanh nên nói trước.
Luận chép: “Hoặc ở trong thân” cho đến nên nói sau cùng là thứ năm trên dưới thứ lớp. Theo trên nên nói trước, ý không có nơi chốn nên nói sau cùng. Trong phẩm căn chép: Các căn mắt, tai, tỷ, được sắp theo chiều ngang đồng đều với nhau như vòng hoa đội trên đầu. Tức nói theo thể của căn. Trong văn, nói thượng hạ là y theo tướng của căn sở y, nghĩa không trái nhau. nhưng Chánh Lý đổi tụng rằng: Năm dụng trước khởi; Năm dụng hai thì dụng đầu xa, ba dụng, hai dụng đầu sáng; hoặc tùy xứ thứ lớp. Văn xuôi giải thích rằng: Trong sáu căn, năm căn trước đối với các cảnh khởi công dụng trước, ý về sau mới phát sinh, cho nên nói năm căn trước, như luận này nói: năm cảnh như sắc thanh, v.v… năm thức nạp thọ trước, ý thức biết sau vì năm thức là tự thức y và chấp tự cảnh. Nên biết, đều là công dụng của mắt, v.v… trong năm căn, một và hai có tác dụng xa, không hiệp với cảnh, do đó nói trước. Trong hai căn này công dụng của mắt lại xa hơn tai, dẫn sự đều như trước cho
nên nói trước. Công dụng của ba căn mũi, lưỡi thân, trong đó căn thứ nhất và căn thứ hai rõ ràng nên trước là tỷ kế là thiệt và sau là thân. Như tỷ đối với hương năng thủ nhỏ nhiệm; thiệt đối với ngọt đắng thì không được như vậy. Thiệt đối với vị năng thủ nhỏ nhiệm; thân đối với ấm lạnh thì không như vậy. Tùy theo thứ lớp các chỗ giải thích chẳng khác trước. Nếu đối với các cảnh như sắc, thanh, v.v… năm thức lãnh nạp trước, ý thức nhận biết sau, thì vì sao trong mộng lại chấp được sắc, thanh v.v…?
Có Sư khác nói: trong mộng là ức niệm nên cảnh sở thọ trước; nếu không vậy thì những người bị mù mắt ở trong mộng lẽ ra cũng chấp sắc. Có thuyết nói: trong mộng chẳng phải nhớ nghĩ, chẳng phải cảnh sở thọ trước, chỉ chấp trước cảnh hiện tiền một cách rõ ràng. Chẳng phải ở trong giác vị, nhớ nghĩ rõ cảnh sở thọ trước. Như ở trong mộng, sắc thanh v.v… hiện tiền có thể chấp trước một cách rõ ràng; chẳng phải như ở trong giai đoạn mộng, nhớ lại cảnh khi xưa, có tính chất cao quý còn hơn ở giai vị giác ngộ. Do đó, nhớ nghĩ cảnh sở thọ trước, rõ ràng trước mắt hơn ở giác vị. Cho nên trong mộng chẳng phải chấp lấy sở thọ sắc thanh cũ; nhưng ở mộng vị, cũng có lúc nhớ lại cảnh cũ. Đây chẳng phải thật mộng, không thể chấp cảnh tướng một cách rõ ràng được. Nếu vậy, vì sao người mù bẩm sinh không thể chấp sắc ở trong mộng vị? Ai nói người mù bẩm sinh không thể chấp sắc ở trong mộng vị. Nếu bảo rằng trong mộng chắc chắn nhớ nghĩ cảnh sở thọ trước, cũng chẳng phải trước đó chưa hề lãnh thọ. Nên tin rằng, người mù bẩm sinh chấp  sắc ở trong mộng, thì trong các đời kiếp trước đã từng thấy sắc rồi. Lại, ở trong mộng chẳng phải chỉ thấy các việc đã thọ lãnh ở trước, như các chỗ khác đã nói, cho nên người mù bẩm sinh, nằm mộng cũng vậy. Lại, luận này nói: đối với năm cảnh như sắc, thanh v.v… năm thức lãnh nạp trước, ý thức nhận biết sau. Y theo một thuyết khác thì không chắc chắn như vậy.
Nói như vậy đối với các cảnh như sắc, thanh, v.v… mắt, tai v.v… khởi tác dụng trước, ý phát sinh nhận thức sau, cũng chẳng chắc chắn. Năm thức như mắt, tai, v.v… xoay vần làm duyên đẳng Vô gián cho nhau. Cho nên luận này nói như vậy, ở đây chẳng phải y theo giai đoạn mộng vị mà nói lãnh thọ sắc thanh v.v… theo thứ lớp. Từ giải thích này thì chắc chắn là sắc sở chấp. Trụ ở chỗ rảnh rang vắng lặng thì đều nói rằng: các cảnh thanh v.v… trong định là sắc hữu kiến; không thể nói rằng sắc này chắc chắn là nhãn thức hội thọ. Các loại sắc tướng khác, ở trong định này hiện ra rõ ràng. Cảnh sắc trong định này là đại chủng sở
tạo được sinh ra từ định, trong sạch, rõ ràng không hề chướng ngại, như không ở cõi Sắc. Luận Bà-sa quyển ba mươi bảy chép: Lại, thuận theo thô tề mà lập thứ lớp các pháp, đó là sáu nội xứ, nhãn xứ rất thô nên nói trước, ý xứ rất nhỏ nhiệm nên nói sau.
Luận chép: “Vì sao duyên mười xứ” cho đến “gọi là pháp xứ” dưới đây là thứ mười hai, gồm một bài tụng nói về việc phế, đặt tên của sắc uẩn và pháp xứ.
63. Giải thích bài tụng căn bản:
“Luận chép”: cho đến không phải đều là một: Là giải thích bài tụng căn bản . Trong đó có hai: một, là giải thích sắc xứ. Hai, là giải thích pháp xứ. Trong giải thích sắc xứ lại có ba:
1) Giải thích về việc chia ra mười thứ khác nhau.
2) Giải thích tối thắng.
3) Thuận theo thế gian đặt tên.
Giải thích về việc chia ra mười thứ khác nhau, để giúp cho hiểu rõ cảnh, là năm cảnh, hữu cảnh là năm căn. Tức gồm năm căn, năm cảnh thành mười sắc xứ.
Luận chép: Nếu không có nhãn, v.v… cho đến tức là tên khác: Là giải thích mắt, v.v… khác nhau; tức là tuy nêu sắc để nói chung nhưng mười xứ, có tên riêng từng xứ.
Luận chép: Lại trong các sắc, cho đến ở sai khác kia: Là thứ hai giải thích sắc xứ là tối thắng, nên đặt tên chung. Do hữu đối, và hữu kiến, có đủ hai nghĩa này gọi là Thắng. Khi tay v.v… xúc chạm thì vật bị tiếp xúc biến hoại là giải thích hữu đối. Có thể chỉ ở chỗ này hoặc ở chỗ kia là giải thích hữu kiến. Ngoài ra, chín xứ còn lại chỉ là hữu đối, không có nghĩa hữu kiến, chẳng phải là thắng nên không đặt tên chung.
Luận chép: “Lại các thế gian” cho đến “chẳng phải nhãn v.v…” là thứ ba thuận theo thế gian mà đặt tên.
64. Giải thích pháp xứ:
Luận chép: “Lại vì khác nhau” cho đến “như sắc nên biết”: Là thứ hai giải thích pháp xứ. Trong văn có ba: Giải thích một là sai khác, hai là nhiếp đa pháp, ba là nhiếp pháp tăng thượng. Giải thích đầu giống với giải thích về xứ; tuy gọi chung  nhưng chính là tên khác.
Luận chép: Lại ở trong đây cho đến nên đặt tên chung là thứ hai giải thích nhiếp nhiều pháp.
Luận chép: “Lại pháp tăng thượng” cho đến “gọi riêng là pháp”: Đây là thứ ba, thuộc về pháp tăng thượng. Luận chép: Có Sư khác nói cho đến gọi riêng là pháp. Đây là luận Tạp tâm giải thích.
Luận chép: “Trong các khế kinh có các thứ khác”: Dưới đây là thứ mười một, có bốn hàng tụng gồm nhiếp các tên khác của uẩn, xứ, giới trong các kinh. Bài tụng thứ nhất: gồm nhiếp pháp uẩn trong các kinh. Bài tụng thứ hai: Nói về số lượng pháp uẩn. Bài tụng thứ ba: gồm nhiếp các uẩn, xứ, giới trong các kinh. Bài tụng thứ tư: do luận, sanh luận, giải thích sáu giới trong các kinh. Bài tụng thứ nhất nói về gồm nhiếp uẩn ở trong các kinh nói trong đoạn văn hỏi đáp ở trước bài tụng. Lời văn rất dễ hiểu.
“Luận chép” đến “đều thuộc về hành uẩn” là giải thích văn tụng. Các luận phần nhiều đều nêu ra hai giải thích nhưng Bà-sa lấy thanh làm thể là hợp lý nhất. Luận Bà-sa quyển một trăm hai mươi sáu. Hỏi: lời Phật dạy như vậy, lấy gì làm thể, hoặc là ngữ nghiệp, hoặc là danh, v.v… Đáp: Nên nói như vầy: Ngữ nghiệp làm thể. Hỏi: Nếu thế thì điều nói ở kế sau nên hiểu thế nào? như nói Phật dạy gọi là pháp gì? Đáp: đó là danh thân, cú thân, văn thân cho đến theo thứ lớp mà liên hiệp. Đáp: đoạn văn sau nói về tác dụng của lời Phật dạy, không phải hiển bày tự thể. Đó là an bố liên hiệp thứ lớp hàng lối. Danh thân, cú thân, văn thân là công dụng của lời Phật dạy.
           65. Nói về thuyết khác:
Có thuyết nói: lời Phật dạy, danh thân v.v… là thể.
Hỏi: nếu vậy điều được nói trong đây làm sao hiểu, như nói lời Phật dạy là gì, đó là ngữ môn của Phật cho đến ngữ biểu, đó là lời Phật dạy.
Đáp: dựa vào nhân xoay vần cho nên nói lời này. Như thế gian con cháu là pháp sanh khởi xoay vần tức là ngữ làm phát khởi danh, danh nói lên nghĩa. “Nói như vậy” tức ngữ nghiệp là thể, là sở thuyết của ý Phật, là sở văn của người nghe.
Lại nói: hỏi: vì sao lời Phật dạy là ngữ biểu, chẳng phải vô biểu?
Đáp: vì lời nói giúp cho chúng sanh có được sự hiểu biết đúng đắn, nên gọi là Phật dạy. Mọi người phát sanh sự hiểu biết đúng chỉ do biểu nghiệp, chẳng phải vô biểu. Như luận ấy có giải thích rộng.
Lại nói: lời Phật dạy nên nói là thiện hay vô ký?
Đáp: có thể là thiện, có thể vô ký. Sao gọi là thiện? Đó là thiện tâm của Phật phát ra ngôn ngữ cho đến ngữ biểu. Thế nào là vô ký? Là lời do tâm vô ký của Phật phát ra, cho đến ngữ biểu.
Hỏi: trong lời Phật dạy lời nào là thiện, lời nào là vô ký?
Đáp: A-tỳ-đạt-ma-tố đát-lãm tạng, phần lớn là thiện, tạng Tỳ- nại-da phần lớn là vô ký. Như Thế tôn nói: cửa nên đóng lại, y bát nên
đặt trên giá trúc, ngà voi, những lời như vậy đều là vô ký. Lại có thuyết nói: lời Phật dạy, nếu vì sở hóa mà nói nên biết đó là thiện; nếu vì các việc khác mà nói thì đó là vô ký. Như Đức Thế tôn bảo A-nan-đà rằng: người đến nhìn trời là mưa hay không mưa, trong vườn sao lại có cao thanh, đại thanh, những lời như vậy đều là vô ký.
Luận chép: “Các chư pháp uẩn này lượng nó thế nào?” Dưới đây là thứ hai, có một bài tụng, nói về lượng của pháp uẩn.
“Luận chép” cho đến “Pháp Uẩn Tức nói” là giải thích bài tụng căn bản . Có ba Sư nói: Sư thứ nhất rằng, giáo lý Phật có đến tám muôn bộ, mỗi bộ có sáu ngàn bài tụng. Như Pháp Uẩn Túc Luận chẳng hạn. Theo văn này thì Pháp Uẩn Túc Luận là một trong sáu túc luận, đây là theo văn, cú mà nói số lượng. Sư Chân-đế giải thích: có Sư khác nói: một phần của A-tỳ-đạt-ma gọi là pháp ấm, gốm có sáu ngàn bài kệ. Trong tám mươi ngàn pháp ấm, mỗi pháp đều có số lượng như vậy cả. A-tỳ-đạt-ma tạng có chín phần:
            1) Pháp ấn.
            2) Phân biệt hoặc.
            3) Phân biệt thể.
            4) Phân biệt nhân.
            5) Thành lập giới.
            6) Danh tụ.
            7) Đắc đảo.
            8) Nghiệp tướng.
            9) Định tướng.
Pháp ấn là một trong chín phần đó, có sáu ngàn bài kệ, đó là một trong tám muôn. Đây là dứt nói giải thích không giống với luận này. Trong chín phần, pháp ấm chẳng phải Pháp Uẩn Túc Luận.
           66. Nói về tám muôn pháp uẩn:
Luận chép: “hoặc nói là pháp uẩn” cho đến “gọi là nhất pháp uẩn”. Đây là Sư thứ hai nói, mỗi giáo môn gọi là một pháp uẩn, giáo môn như thế có tám muôn biệt, đó là uẩn, xứ v.v… lời văn rất dễ hiểu. Luận nói như thế, cho đến tám muôn pháp uẩn: Là thứ ba, luận chủ lời bình. “Như nhị thuyết” tức là do có tám muôn bệnh nên nó pháp đối  trị cũng có tám muôn. Chánh Lý có hai, giải thích đồng với trước. Giải thích của Sư thứ ba: “như nhị thuyết” tức là hữu tình được hóa độ có tám muôn hành tướng khác nhau như tham, sân, si, ngã mạn, chấp thân và tầm, từ v.v… vì để đối trị với tám muôn hành tướng đó, Thế tôn giảng nói tám muôn pháp uẩn; bất tịnh, từ bi, duyên khởi, tưởng vô thường,
không, trì ức niệm v.v… đây là nói theo thuận hiển tùy uẩn vô uẩn v.v… mà nói không phải để đối trị căn bệnh của hữu tình mà là nói suông.   Y theo văn luận này thì giải thích thứ ba không khác với giải thích thứ hai nhưng tám muôn ấy” tức là nêu lên con số chung, đây tức là tám mươi bốn ngàn pháp uẩn. Sư Chân-đế nói: các Sư thật sự đều sắp xếp như vậy cả. Chúng sanh có tám muôn loại phiền não khác nhau, đó là dục, sân si, mạn, v.v… để đối trị nên, Thế tôn nói tám muôn pháp ấm. Tức là do chúng sanh có tám muôn phiền não nên Đức Phật nói tám muôn pháp môn. Sắp xếp pháp môn theo lý lẽ ấy gọi là thật phán. Kinh bộ đồng ý với giải thích này. Tương truyền rằng: giải thích của sư Chân-đế chia mười tùy miên làm mười phần, mỗi phần lại có chín tùy miên làm phương tiện, tổng cộng thành ra một trăm. Trong một trăm đó lại có phần trước, phần sau và phần gốc thành ra ba trăm. Đặt số một trăm gốc vào trong hai phần trước và sau, mỗi pháp đều lấy chín tùy miên làm phương tiện và hai trăm gốc, hợp thành hai ngàn, cộng một trăm gốc thành hai ngàn một trăm. Lại, theo năm thứ: đa tham, đa sân, tự giác, ngu si, trước ngã, mỗi loại có hai ngàn một trăm thành tất cả là một muôn năm trăm. Đã khởi có một muôn năm trăm, chưa khởi có một muôn năm trăm thành hai mươi mốt ngàn. Lại, lấy ba độc, v.v… chia thành bốn người, mỗi người đều có hai mươi mốt ngàn hiệp thành tám mươi  bốn ngàn. Giải thích này với không giống Chánh Lý. Xét  lại thì câu-xá sớ của Chân-đế không có văn. Lại dựa vào ba trăm năm mươi độ trong kinh Hiền Kiếp, mỗi độ có sáu thừa Ba-la-mật thành ra hai ngàn một trăm. Đối với bốn đại, sáu suy đều có hai ngàn một trăm thành hai mươi mốt ngàn. Các phần tham sân si, v.v… mỗi mỗi lại có hai mươi mốt ngàn thành ra tám mươi bốn ngàn. Giải thích này không giống với giải thích của luận này và luận Chánh Lý. Luận Trí Độ chép: các phần tham, sân, si mỗi thứ đều có hai mươi mốt ngàn bệnh, đều có tám mươi bốn ngàn pháp uẩn. Theo văn luận ở trên, mỗi pháp uẩn lại có chung riêng khác nhau nên không giống với ở đây.
Hỏi: tám muôn pháp uẩn, hợp lại có bao nhiêu muôn ức bài tụng?
Đáp: Cách tính trong đây có thượng trung hạ. Pháp Hạ, mười muôn gọi là ức; pháp trung, một trăm muôn gọi là ức; thượng pháp, muôn muôn gọi là ức. Nếu theo luận Trí Độ thì ngàn muôn gọi là ức. Ở Trung quốc mười muôn gọi là ức. Một pháp uẩn có sáu ngàn bài tụng; mười pháp uẩn có sáu muôn bài tụng; một trăm pháp uẩn có sáu mươi muôn bài tụng; một ngàn pháp uẩn có sáu trăm muôn bài tụng.  Muôn
pháp uẩn có sáu ngàn muôn bài tụng. Tám muôn pháp uẩn có bốn mươi tám trăm ức bài tụng.
           67. Vì sao có quá nhiều bài tụng:
Hỏi: luận Trí Độ chép Ba tạng chỉ có ba mươi muôn bài tụng, vì sao ở đây nói quá nhiều như thế?
Đáp: Tỳ-đàm y theo số lượng khi Phật còn tại thế pháp chưa bị diệt mất nên có nhiều; luận Trí Độ y theo số lượng khi Phật đã diệt độ, pháp theo người mất bớt nên còn ít. Do vậy, luận Trí Độ chép: số lượng kinh Phật, căn bản nhiều không thể kể; nhưng sau khi Phật Niết-bàn, các vị vua tà kiến dốt nát đã đốt bỏ kinh sách, phá hoại chùa tháp, hãm hại Sa-môn nên còn ít. Sau khi Phật diệt độ năm trăm năm, là đời tượng pháp bất tịnh, các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát có thần thông, khó lòng gặp được, các kinh sâu kín thì nhiều mà người thực hành, người thọ trì ở Diêm-phù lại rất ít, chỉ có các rồng thần giữ gìn. Phó Pháp Tạng chép: Thương-na-hòa-tu đã diệt độ, bảy mươi bảy ngàn kinh bổn sanh, một muôn A-tỳ-đàm, tám muôn thanh tịnh tỳ-ni đều mất theo. Đây là minh chứng. Luận Bà-sa chép: Cù Sa giải rằng: năm mươi muôn năm ngàn năm trăm năm mươi bài tụng là số lượng của một pháp uẩn.
Xem cách giải thích này thì số lượng các bài tụng khác nhau rất nhiều. “Nói tám muôn pháp uẩn” tức nói theo Thanh văn giáo, ở Duyên giác và Bồ-tát thì nhiều hơn. Kinh Bồ-tát Tạng: kinh Vô Lượng nghĩa chép: Thanh văn có tám muôn, Duyên giác có chín muôn, Bồ-tát có mười ức. Kinh Bi Hoa chép: Thanh Văn có tám mươi bốn ngàn nhóm pháp; Duyên giác có chín muôn nhóm pháp; Đại thừa pháp tạng có mười ức nhóm pháp. Các thuyết không giống nhau. Kỳ thật, pháp uẩn có vô lượng nhưng mỗi lập luận y theo một căn cứ riêng nên không trái nhau. Như Hoa Nghiêm, tùy theo căn cơ mà nói Bốn đế không giống nhau, có mười muôn v.v…
          68. Nói về uẩn và hành uẩn:
Luận chép: Điều kia nói cho đến thuộc về hai uẩn: Là nói về sắc uẩn và hành uẩn.
Luận chép: Các chỗ khác như thế, cho đến cũng giống như thế: Dưới đây là thứ ba, có một hàng tụng, giải thích tên khác của uẩn, xứ, giới trong các kinh.
“Luận chép” cho đến “mỗi mỗi tự tướng”: Là giải thích chung bài tụng, là trong kinh nói: năm uẩn như sắc, thọ v.v… mười hai xứ như mắt, tai v.v… và mười tám giới như mắt, tai v.v… ở trước. Lại có tên khác của uẩn, xứ giới đều thuộc về phần trước nói.
Luận chép: Lại trong các kinh cho đến đây thuộc về hành uẩn, đây là bậc nhất, nói về gồm nhiếp các uẩn khác tức là năm uẩn như giới uẩn v.v… Luận Bà-sa quyển ba mươi ba nêu ra thể của năm uẩn như giới v.v… rằng: thế nào là giới uẩn vô học?
Đáp: luật nghi thân ngữ vô học.
Thế nào là vô học định uẩn?
Đáp: Ba Tam-ma-địa vô học.
Hỏi: Thế nào là vô học tuệ uẩn?
Đáp: Vô học chánh kiến trí.
Hỏi: Thế nào là vô học giải thoát uẩn.
Đáp: vô học tác ý tương ưng tâm, đã thắng giải, nay thắng giải và sẽ thắng giải. Đó là tận vô sanh vô học chánh kiến tương ưng thắng giải; đối với cảnh tự tại đặt tên là giải thoát, chẳng gọi là ly hệ. Thế nào là vô học tri kiến uẩn?
Đáp: tận trí, vô sanh trí.
Hỏi: vì sao hai trí này gọi là giải thoát trí kiến uẩn?
Đáp: Trong thân giải thoát có riêng trí này, rất có công năng xem xét, chắc chắn các pháp giải thoát. Vô học tuệ uẩn và tri kiến giải thoát uẩn có gì khác nhau?
Đáp: vô học khổ tập trí là vô học tuệ uẩn, duyên pháp trói buộc, vô học diệt đạo trí là vô học giải thoát tri kiến, uẩn duyên với pháp giải thoát. Lại, Khổ, Tập, Diệt, Trí vô học là tuệ uẩn vô học, pháp này duyên theo hữu lậu, vô vi giải thoát, không duyên duyên trí giải thoát vô lậu. vô học đạo trí là vô học giải thoát trí kiến uẩn, pháp này duyên theo vô lậu hữu vi giải thoát, cũng duyên duyên giải thoát vô lậu trí. Lại, vô học khổ tập đạo trí là vô học tuệ uẩn không duyên với pháp ly hệ. Vô học diệt trí là vô học giải thoát tri kiến uẩn duyên với pháp ly hệ. Đó là khác nhau. Đó là sự khác nhau của tướng thô thế tục. Nếu nói thắng nghĩa chân thật khác nhau thì như trước đã nói, nghĩa là vô học chánh kiến trí là vô học tuệ uẩn. Tận vô sanh trí là vô học giải thoát tri kiến uẩn.
Luận chép: “Lại các kinh nói” cho đến “thuộc về pháp xứ”: đây là phần nhiếp thâu tên khác của xứ. Phần đầu của đoạn này có ba:
            1) Mười biến xứ.
            2) Tám thắng xứ.
            3) Bốn Vô Sắc xứ.
Phần lớn ý văn trong đây đều có thể hiểu được.
            69. Nói về năm xứ giải thoát:
Luận chép: “Năm xứ giải thoát” cho đến “thuộc về pháp xứ” là thứ hai nhiếp năm xứ giải thoát. Năm xứ giải thoát ấy là:
1) Nghe Phật v.v… nói pháp mà được giải thoát.
2) Nhờ tự đọc tụng mà được giải thoát.
3) Nói pháp cho người khác nghe mà được giải thoát.
4) Ở chỗ vắng lặng, suy nghĩ mà được giải thoát.
5) Khéo phân biệt tướng định mà được giải thoát.
Giải thoát nghĩa là Niết-bàn. Do năm loại này được giải thoát cho nên gọi là xứ giải thoát. Đây là lược y theo Tập Dị Môn Túc Luận quyển mười ba, mười bốn; và kinh A-hàm quyển chín mà nêu tên, giải thích, như trong luận ấy có nói rộng. “Nói tuệ đều là tánh” là chỉ cho sanh đắc tuệ thứ hai. Luận Bà-sa chép: thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh là sanh đắc thiện, Văn tuệ thứ nhất và thứ ba do nghe Thánh giáo phát sinh thắng tuệ; hoặc có thể tuệ thứ ba cũng là tư tuệ nghĩa là vì người khác nói pháp trước phải suy nghĩ. Tư tuệ thứ tư thì như tên gọi mà biết. Tu tuệ thứ năm tức ở trong định, khéo biết cách phân biệt tướng của định. Tuy nói không giống nhau nhưng đều lấy tuệ làm thể. Đây   là thuộc về pháp xứ. Hoặc gồm ba pháp giúp bạn ở trước thì thuộc về thanh, ý pháp xứ. Và sau thuộc về hai pháp lý và pháp xứ. Lại có giải thích thanh thuộc tuệ thứ hai, thứ ba chấp lấy tự thanh. Thanh chẳng phải thứ nhất, không thể dùng thanh khác kèm theo được.
Luận chép: Lại có hai xứ cho đến “bốn uẩn tánh” là thứ ba nhiếp hai xứ. Đối với hữu tình Vô Tưởng, thanh thường thành tựu cho nên có thanh, thành mười xứ. Do đó, luận Phát Trí chép: cái gì thành tựu thân, đó là hữu tình ở cõi Dục và cõi Sắc; như thân sắc thanh xúc cũng vậy. Cho nên biết thanh này thường thành tựu. Khi chánh thọ quả Vô Tưởng dị thục tuy không phải có tâm nhưng khi vừa mớisanh, khi sắp chết, chắc chắn có tâm. Cho nên cũng nói là ý. Lại, thành tựu địa pháp kia thì hẳn có tâm. Lại luận Bà-sa quyển một trăm ba mươi bảy hỏi: Bạch Đức Thế tôn vì sao ở trời Vô Tưởng, trời Hữu Đảnh, Thế tôn thừơng nói về xứ? Đáp: Vì có các ngoại đạo chấp chặt cho hai xứ này là giải thoát nên Đức Phật muốn ngăn dứt mà nói là sanh xứ. Như trong luận ấy có giải thích rộng.
70. Tên gọi khác của giới:
Luận chép: “Lại, kinh đa giới” cho đến “thuộc mười tám giới” đây là phần gồm nhiếp các tên gọi khác của giới. Kinh Đa giới chép: Nói về sáu mươi hai cõi, đó là: ba thứ sáu, sáu loại ba, một loại bốn, hai thứ hai lại thêm mưới tám giới thành sáu mươi hai cõi. Tất cả đều tùy
theo sự thích ứng mà thuộc về mười tám giới. Dưới đây nêu ra thể tướng của nhiếp, theo thứ lớp giải thích rõ từng loại.
Luận chép: Lại trong kinh ấy nói sáu giới dưới đây gồm một bài tụng nói về sáu giới. Phần hỏi đáp trước bài tụng thì như văn mà hiểu, phần giải thích riêng cũng như văn rất dể hiểu.
Luận chép: Cho đến gọi là không giới là lên thể của không giới. Luận chép: Kẻ hở như thế làm sao biết được? Là hỏi.
Luận chép: “Truyền thuyết cho đến sáng tối làm thể là dùng lý luận của Hữu Bộ tông mà trả lời. Chẳng tin không giới là có thật nên nói là truyền thuyết. Luận Chánh Lý chép: nói truyền thuyết là biểu hiện sự không kính tin, ý của vị kia nói rằng: làm sao có việc đó được; Thượng tọa Đạo Nhất đó và các Sư phái Thí dụ đều nói: hư thể của hư không giới cũng chẳng có thật. Đây chỉ thuần là ngôn ngữ không có nghĩa thật, về hư không có thật sẽ nói ở sau. Nay dựa vào không giới mà thành lập rằng, lìa hư không giới thật sự vẫn có hư không. Do đó, Đức Thế tôn nói: hư không chẳng có sắc, chẳng có kiến, không có đối, thì nương vào chỗ nào. Tuy nhiên, vẫn có không sở y nhưng có sở tác; nghĩa là dung thọ tất cả ánh sáng, dùng quả để nói lên có thể tướng thật sự. Nếu hư không chẳng có thì cũng không có ánh sáng; đã có ánh sáng mà nhãn thức chấp lấy thì đó là sự khác nhau của các sắc. Cho nên phải có hư không để dung thọ ánh sáng. Do vậy, đã thành lập được rằng hư không là thật có. Với điểm này, trong câu văn của khế kinh nêu lên hai điểm: phân tích nêu rõ từng khía cạnh thật có. Lại, ở cõi Sắc, khi được lìa nhiễm cũng gọi là dứt trừ cõi hư không này. Như Đức Thế tôn nói: khi lìa sắc nhiễm, tâm đối với năm giới lìa nhiễm giải thoát, chỉ trừ thức giới, không nên nói rằng dứt trừ hư không vô vi vì các lậu trong đó chưa hề chuyển biến. Nhưng thật ra, không có cả sáng sáng, bóng, sáng, tối; ánh sáng và sáng cùng loại; tối và bóng cùng loại; hai thứ đó, chỉ nêu lên từng loại mà nghĩa đã bao gồm loại kia. Luận Chánh Lý chép: truyền thuyết lỗ hổng tức là ánh sáng tối, đó là lỗ hổng sáng tối của cửa sổ v.v…
Luận chép: Nên biết thể này không lìa ngày đêm: Nghĩa là, ngày là sáng thể; của đêm là tối thể của sắc không giới này lấy sáng, tối làm thể, lấy ngày đêm làm vị.
Luận chép: “Tức ở đây gọi là sắc A-già-đà” là nói về tên khác của sắc không giới trong luận này.
71. Giải thích khác của luận Bà-sa:
Luận chép: “truyền thuyết A-già-đà” cho đến “lân A-già-sắc”, là
nói về giải thích khác của luận Bà-sa. Giải thích thứ nhất: A-già-đà là cực ngại.
Luận chép: “Có thuyết nói A-già” cho đến “lân A-già-sắc” là thứ hai giải thích. A-già này dịch là vô ngại; tiếng Phạm là A-già, chung với hai nghĩa kia. Mỗi nghĩa y theo một giải thích.
Luận chép: “Các thức hữu lậu, gọi là thức giới”. Ở trước, đã nêu ra thể của không giới; ở đây nêu ra thể của thức giới mà chỉ chọn lấy hữu lậu, không chọn vô lậu.
Luận chép: Vì sao không nói cho đến “là thức giới phải chăng”  là hỏi.
Luận chép: “do chấp nhận sáu giới” cho đến “thì không như thế” là trả lời, chấp nhận sáu giới là sở y của sanh mạng hữu tình, lại thường giữ mãi sanh mạng. Các pháp vô lậu thì không như vậy. Cho nên, luận Chánh Lý chép: do pháp vô lậu, đối với sanh mạng của hữu tình thì có dứt, hại, các chuyển biến khác nhau cho nên chẳng phải chỗ nươngcủa sanh mạng. Như vậy, sáu giới đối với sanh mạng hữu tình mà làm các nhân sanh, nuôi lớn v.v… rồi chuyển biến khác nhau, đó là sở y của sanh mạng. Sanh nhân nghĩa là hạt giống nhóm sanh ở thức giới; nuôi nhân là chỗ nương của sanh mạng đại chủng; nuôi nhân là dung thọ sanh của không giới. Tôn giả Thế Hữu nói: giới là sự lập bày nhân của hữu tình, chẳng phải pháp vô lậu. Như Khế kinh chép: sáu giới làm duyên nhập vào thai mẹ. Lại, luận Bà-sa quyển bảy mươi lăm chép: nếu pháp có công năng nuôi lớn các hữu, lớn ích các hữu, nhậm trì các hữu trong sự thành lập sáu giới, ý thức vô lậu làm tổn giảm các hữu, tán hoại chư hữu, phá diệt các hữu, nên không xếp vào sáu giới. Đầy đủ như trong luận đó giải thích.
Hỏi: Ba vị vô tâm, thiếu sáu thức giới, trong bốn Vô Sắc lại thiếu năm giới trước, làm sao nói sáu thức giới v.v… thường giữ mãi sanh mạng?
72. Nói chung về các giới:
Đáp: đây là nói chung về các giới, từ vị tục sanh cho đến lúc chết tâm tùy theo sở hữu của nó mà giữ mãi sanh mạng, chẳng có hiện khởi nào mà không giữ gìn sanh mạng; và cũng không có một hữu tình nào hoàn toàn không có sáu giới mà có sanh mạng. Chẳng phải như pháp vô lậu hiện khởi ở thân mà không giữ gìn thân. Hoàn toàn không có vô lậu nào mà cũng có sanh mạng. Vì không muốn nói tất cả hữu tình thường đủ sáu giới cho nên nói như vậy. Do đó luận chép: chấp nhận sáu giới là sở y của sanh mạng hữu tình. Như vậy, các giới, từ nối tiếp sanh tâm
cho đến tâm khi chết thường giữ gìn sanh mạng. Các pháp vô lậu thì không như vậy.
Luận chép: Trong sáu giới, cho đến thuộc bảy tâm giới: Là nói về sự thu nhiếp lẫn nhau, rất dễ hiểu.
Luận chép: Giới còn lại của kinh kia cho đến mười tám giới: Giống như nói các giới còn lại đều thuộc về mười tám giới này: Lược nương vào Pháp Uẩn Túc Luận quyển mười, mười một, phẩm Đa Giới nêu thể của sáu mươi hai cõi, đều thuộc về mười tám giới. Văn tụng của luận Pháp Uẩn chép: giới có sáu mươi hai thứ, mười tám giới là đầu, mười tám, bốn thứ, sáu ba, sau hai hai. Mười tám giới là: sáu căn, sáu cảnh, sáu thức, như thuộc tự danh, nói ba sáu là ba thứ sáu. Thứ nhất lục là các giới đất nước lửa gió không thức. Bốn giới đầu thuộc về xúc giới, lấy thức hữu lậu làm thể nên thuộc về bảy tâm giới. Thứ hai lục là các giới dục, nhuế, hại, vô dục, vô nhuế, vô hại. Dục lấy tham làm tánh; nhuế lấy sân làm tánh; hại lấy hại làm tánh; vô dục lấy vô tham làm tánh; vô nhuế lấy vô sân làm tánh; vô hại lấy bất hại làm tánh. Sáu thứ này là pháp tâm sở đều thuộc về pháp giới. Thứ ba lục là các giới lạc, khổ, hỷ, ưu, xả vô minh. Năm giới trước lấy thọ làm tánh; một giới sau lấy si làm tánh, là pháp tâm sở, đều thuộc về pháp giới. Một bốn thứ , đó là thọ, tưởng, hành thức; thọ tưởng, hành thuộc về pháp giới; thức thuộc về bảy tâm giới. Lục tam là: thứ nhất, tam giới, các cõi Dục, sắc, Vô Sắc; cõi Dục thuộc về mười tám giới. Sắc giới thuộc về mười bốn giới, trừ hai cõi hương vị và hai thức: Mũi, lưỡi. Cõi Vô Sắc, ý pháp thuộc về ý thức giới. Thứ hai tam giới: Là các cõi Sắc, Vô Sắc, diệt. Cõi Sắc là các cõi Dục và sắc, do có cõi Sắc nên gọi chung là cõi Sắc, thuộcvề mười tám giới. Cõi Vô Sắc thuộc về giới thứ ba trong ba cõi, diệt giới lấy trạch diệt, phi trạch diệt làm tánh, thuộc về mười tám giới. Ba cõi thứ tư là các giới quá khứ, hiện tại và vị lai đều lấy năm uẩn làm tánh, thuộc về mười tám giới. Ba cõi thứ ba là là các cõi quá khứ, vị lai, hiện tại, đều lấy năm uẩn làm tánh, thuộc về mười tám giới. Ba cõi thứ tư các cõi kém, trung, mầu. Liệt giới lấy pháp bất thiện, hữu phú vô ký làm tánh, thuộc về bảy tâm giới, sắc thanh và pháp giới. Trung giới lấy thiện hữu lậu và pháp vô phú vô ký làm tánh, thuộc về mười tám giới. Diệu giới lấy pháp thiện vô lậu làm tánh, thuộc về ý, pháp giới, ý thức giới. Ba cõi thứ năm là các giới thiện, bất thiện và vô ký. Thiện giới lấy tất cả các pháp thiện làm tánh giới bất thiện lấy các pháp bất thiện làm tánh, hai cõi này thuộc về bảy tâm giới như sắc, thanh và pháp giới; giới vô ký lấy tất cả pháp vô ký làm tánh, thuộc về mười tám giới. Ba
cõi thứ sáu là các giới học, vô học, phi học, phi vô học. Học giới lấy năm uẩn vô lậu làm tánh; học giới vô lấy năm uẩn vô học vô lậu làm tánh, hai cõi này thuộc về các giới ý, pháp, ý thức. Giới Phi học, phi vô học lấy năm uẩn hữu lậu và ba vô vi làm tánh, thuộc về mười tám giới. Hai hai sau: Hai cõi thứ nhất là các giới hữu lậu, vô lậu. Giới Hữu lậu lấy hữu lậu năm uẩn làm tánh, thuộc về mười tám giới. Giới Vô lậu lấy năm uẩn vô lậu và ba vô vi làm tánh, thuộc về ý, pháp và ý thức giới. Hai cõi thứ hai là các giới hữu vi, vô vi. Giới Hữu vi lấy năm uẩn làm tánh, thuộc về mười tám giới. Vô vi giới lấy ba vô vi làm tánh, thuộc về pháp giới. Trong kinh A-hàm cũng nêu tên gọi sáu mươi hai cõi, gọi là kinh Đa Giới.
 
Ngày 06 tháng 09 nhuận, niên hiệu Bảo Diên năm thứ ba , ở Nam Tân phòng, phụng điểm xong. Gia cửu thọ, giao tử.
 
 
 
■
/21
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »