Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 159, Bộ Luận Sớ XIV, Số 1835- 1844 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Đại Tập 159, Bộ Luận Sớ XIV, Số 1835- 1844 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 820.

Chương 23: Mục Lục (Trang 809 - 820)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 159




BỘ LUẬN SỚ
XIV
SỐ 412 →424







HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
 
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
 
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
 
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay  ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
 
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
 
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
 
  • Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
  • Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
 
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
 
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
 
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
 
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh

 
Lời Nói Đầu
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
 
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
 
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
 
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
 
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
 
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
 
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “

 
quý vị đang có trước mắt.
 
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
 
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
 
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
 
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
 
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
 
P.L: 2544 – (2000)
 
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
 

 
 
 
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:
 
 
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
VÀI NÉT VỀ TẬP 44
Tập 44 – Luận sớ bộ phần 5 và Chư Tông bộ phần 1, được thu lục vào trong Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 17 luận sớ giải từ No 1835 đến No 1851 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 159, 160, 161, 162 vủa tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
No 1835 Biện Trung Biên Luận Thuật Ký 3 quyển, do ngai Khuy Cơ soạn vào đời Đường. Nội dung chú thích Luận Biện Trung Biên của ngài Huyền Trang dịch, và là bản chú thích duy nhất hiện còn đến nay. Ngài Khuy Cơ đã đối chiếu các bản tiếng Phạm, so sánh cẩn thận mà chú thích.
 
No 1836 Đại thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Giải 2 quyển, do ngài Khuy Cơ chú giải vào đời Đường, ngài Phổ Tần tu chỉnh them vào đời Minh. Cùng với Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Sớ của ngài Đại Thừa Quang, (No 1837) đây là bộ chú sớ Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận của ngài Thiên Thân tạo, ngài Huyền Trang dịch, rất quan trọng trong việc tìm hiểu Tâm sắc pháp theo quan điểm Đại thừa của giới học Phật sau này.
 
No 1837 Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Sớ 2 quyển, do ngai Đại Thừa Quang soạn vào đời Đường.
 
No 1838 Đại Thừa Pháp Giới Vô Sai Biệt Luận Sớ Tinh Tự 1 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường.
 
No 1839 Lý Môn Luận Thuật Ký 1 quyển do ngài Thần Thái soạn vào đời Đường.
 
No 1840Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận Sớ 3 quyển, do ngài Khuy Có soạn vào đời Đường. cũng gọi là Nhân Minh Đại Sớ. Nội dung sách này chia làm 4 môn: Trình bày lí do soạn luận, Giải thích đề mục, neuw rõ những điểm khó khăn, và giải thích chánh văn. Từ xưa đến nay, bộ sách giá  trị này được lưu hành tại Trung Quốc, Nhật Bản và được các nhà nghien cứu Nhân Minh xem là kim chỉ nam.
 
No 1841 Nhân Minh Nghĩa Đoạn 1 quyển, do ngài Tuệ Chiểu soạn vào đời Đường.
 
No 1842 Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận Nghĩa Toán Yếu 1 quyển do ngài Tuệ Chiểu soạn vào đời Đường.
 
No 1843 Đại thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Sớ 4 quyển do ngài Tuệ viến soạn vòa đời Tùy. Đây là bộ sách giải thích luận Đại Thừa Khởi Tín theo bản dịch của ngài Chân Đế. Dựa theo văn nghĩa điễn giải.

 
Trong sách, rất hời hợt, thô thiển, có nhiều chỗ sai nên người ta ngờ đây không phải tác phẩm của ngài Tuệ Viễn.
 
No 1844 Khởi Tín Luận Sớ 2 quyển do ngìa Nguyên Hiểu người nước Tân La soạn
 
No 1845 Đại Thừa Khởi Tín Luận Biệt Ký 2 quyển do ngài Nguyên Hiểu người nước La Tân soạn
 
No 1846 Đại thừa Khỏi Tín Luận Nghĩa Ký 5 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường. Sách này Ngài Pháp Tạng đứng trên quan điểm Kinh Hoa Nghiêm mà chú thích Luận Khởi Tín.
 
No 1847 Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Ký Biệt Ký 1 quyển do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường. Nội dung sách này gồm 35 chương, giải thích những mục chủ yếu được tuyển chọn trong Luận Đại Thừa Khởi Tín bản dịch của ngài Chân Đế.
 
No 1848 Khởi Tín Luận Sớ Bút Tước Ký 20 quyển, do ngài Tử Tuyền ghi chép vào đời Tống. Đây là sách giải thích về bộ Khởi Tín Luận Chú Sớ của ngài Khuê Phong Tông Mật. Nội dung giải thích rỏ ràng tỉ mỉ, rất hợp với ý của ngài Pháp Tạng, là bộ chú sớ không thể thiếu được đối với việc nghiên cứu Luận Đại Thừa Khởi Tín xưa nay.
 
No 1849 Đại Thừa Khởi Tin Luận Nội Nghĩa Lược Thám Ký do ngài Thái Hiền người nước Tân La tước tác.
 
No 1850 Đại Thừa Khởi Tín Luận  Liệt Cương Sớ 6 quyển, do ngài Trí Húc soạn vào đời Minh.
 
No 1851 Đại Thừa Nghĩa 26 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời Tùy. Nội dung sách này chủ yếu phân loạivà giải thích các mục trọng yếu trong kinh điển để hiển bày rõ nghĩa sâu xa của Đại thừa.
 
Trên đây, là sơ lược nội dung toàn tập 44.
 
BAN BIÊN TẬP

 
MỤC LỤC

 
(BỘ LUẬN SỚ 14 – TẬP 159)
SỐ 1835 – BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN THUẬN KÝ ............................................... 3
QUYỂN THƯỢNG ........................................................................................................... 3
- Phẩm Thứ Nhất: Nói Về Tướng ................................................................................... 8
- Phẩm Thứ Hai: Luận Bàn Về Chướng ...................................................................... 33
QUYỂN TRUNG: ........................................................................................................... 52
- Phẩm Thứ Ba: Biện Luận Chân Thật ........................................................................ 52
- Phẩm Thứ Bốn: Biện Luận Tu Đối Trị ..................................................................... 73
- Phẩm Thứ Năm: Biện Luận Tu Phần Vị ................................................................... 87
- Phẩm Thứ Sáu: Biện Luận Đắc Quả.......................................................................... 91
- Phẩm Thứ Bảy: Biện Luận Vô Thượng Thừa .......................................................... 95
QUYỂN HẠ: ................................................................................................................. 103
SỐ 1836 – LUẬN ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP MINH MÔN GIẢI NGHĨA ...... 151
QUYỂN THƯỢNG: ..................................................................................................... 153
QUYỂN HẠ: ................................................................................................................. 165
SỐ 1837 – LUẬN ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP MINH MÔN SỚ GIẢI ............... 179
QUYỂN THƯỢNG: ..................................................................................................... 181
QUYỂN HẠ: ................................................................................................................. 194
SỐ 1838 – LUẬN ĐẠI THỪA PHÁP GIỚI VÔ SAI BIỆT ................................ 209
SỐ 1838 – LUẬN ĐẠI THỪA PHÁP GIỚI VÔ SAI BIỆT (DỊ BẢN 1) .......... 272
SỐ 1838 – LUẬN ĐẠI THỪA PHÁP GIỚI VÔ SAI BIỆT (DỊ BẢN 2) .......... 279
SỐ 1839 – LÝ LUẬN MÔN THUẬN KÝ ............................................................... 291
SỐ 1840 – LỜI SỚ NHÂN MINH NHẬP CHÍNH LÝ LUẬN ............................ 337
QUYỂN THƯỢNG: ..................................................................................................... 339
QUYỂN TRUNG: ........................................................................................................ 394
QUYỂN HẠ: ................................................................................................................. 449
SỐ 1841 – NHÂN MINH NGHĨA ĐOẠN .............................................................. 493
SỐ 1842 – NHÂN MINH NHẬP CHÁNH LÝ LUẬN NGHĨA TOÁT YẾU .... 539
SỐ 1843 – ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN NGHĨA SỚ ....................................... 591
QUYỂN 1: - PHẦN 1 .................................................................................................. 593
- Chương I: Chí Kính Tam Bảo.................................................................................. 597
- Chương II: Nội Dung Luận Này .............................................................................. 602
- PHẦN 2: .................................................................................................................... 625
QUYỂN 2: - PHẦN 1 .................................................................................................. 655
- PHẦN 2 ...................................................................................................................... 683
- Chương III: Hồi Hướng Phát Nguyện ..................................................................... 713
SỐ 1844 – LUẬN KHỞI TÍN SỚ ............................................................................ 715
QUYỂN THƯỢNG: ..................................................................................................... 718
- Chương I: Phần Nhân Duyên ................................................................................... 728
- Chương II: Phần Lập Nghĩa ..................................................................................... 732
- Chương III: Giải Thích ............................................................................................. 735
QUYỂN HẠ: ................................................................................................................. 769
- Chương IV: Tu Hành Tín Tâm ................................................................................. 791
- Chương V: Khuyến Tu ............................................................................................. 807
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »