Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 144, Bộ Luật Sớ II, Số 1805- 1808 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Đại Tập 144, Bộ Luật Sớ II, Số 1805- 1808 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 861.

Chương 5: Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký, Quyển Trung (Phần 4- 1) (Trang 174 - 237)

TỨ PHẦN LUẬT HÀNH SỰ SAO TƯ TRÌ KÝ
                   QUYỂN TRUNG
                      (
PHẦN 4)
 
THIÊN GIẢI THÍCH TRÌ PHẠM
 
Danh nghĩa trì phạm, như trở xuống là môn danh tự, tự giải thích.
Trì là cầm giữ, phạm là xâm phạm, đều từ bổn thọ mà đặt tên nầy.
Thiên nêu bảy môn, bao trùm hết pháp giới, là thô cảnh của khai mở, thật là khuôn mẫu lập hạnh, giải hạnh nương nhau nên nói là “phương quĩ”. Chú chia làm hai đoạn: Ban đầu nêu ý của thiên nầy, hai câu trên chỉ cho thiên trước. Y cứ sự mà chia vì hiển bày tướng riêng. Chữ chí trở xuống ba câu là sinh khởi thiên nầy. Nói gồm là chỉ bày ng- hĩa chung. Ở đây thì hai thiên đều là giới bổn của tông, nhưng trước là giải thích riêng, ở đây y cứ luận chung, cho nên nêu riêng là chánh hiển ý thiên nầy, chân là phân biệt, tức trước tùy tướng, ở đây là chỗ phân biệt. Trên đây bảy chướng là năng phân biệt, hoặc có thể y cứ luận trừ phạm, lý hợp đồng thiên. Nay y cứ nghĩa chung, nói riêng ở sau, cho nên nói là phân biệt nêu riêng.
Chữ nhược trở xuống là kế nói trước sau. Do đồ nghĩa là tướng nhân thứ lớp, cách thường là chọn trước chung sau riêng, như Giới Ng- hĩa Sớ đều trước nêu nghĩa chung, sau giải thích văn riêng. Nay ở đây ngược lại, cho nên đặc biệt chỉ điểm, ý là giúp cho người mới học dễ hiểu.
Trong phần chỉ bày tông, hai câu đầu là khen tướng sâu, câu trên nêu bày, câu dưới chánh khen. Trong phần đầu, hai chữ trên nói sự rộng của năng thuyên, bốn chữ sau nói chỗ quy của sở thuyên. Nói chỉ có là ở đây có hai cách giải thích, nghĩa là y thể khởi hạnh, hạnh có trái thuận, nên chia ra trì phạm, cơ duyên chẳng phải một, chế đồng trần sa nhiếp làm năng thuyên, gọi là tạng Tỳ-ni, xét bổn kia chế, chẳng phải riêng đã rõ, đây chung y cứ giáo bổn mà giải thích.
Lại luật Tứ Phần, đầu tiên nêu giới bổn Tăng-ni riêng, đây là
chỉ trì, dịch thành tác phạm, hai mươi kiền độ sau là tác trì trái thì, chỉ phạm. Vả lại y cứ đại ước mà nói, nếu luận gồm nhau thì một bộ trước sau bốn hạnh đều đủ, ở đây riêng giải thích bộ văn. Câu sau chánh khen, vì là nghĩa chung, cho nên nói rằng: Đây sâu. Chung ở đây là đại cương của bày tướng, nghĩa chính là chung lý ngoài văn, đối trước riêng sự cả hai đều chẳng sâu. Chữ phi trở xuống ba câu là nói khó hiểu. Hai câu đầu phân biệt người, câu trên phân biệt công học, bởi có chứa nhóm học đến khốn cùng mà không thể rỗng suốt là chẳng phải học, câu dưới là phân biệt năng giải, bởi có tột tối tăm từng ít có mà không thể tận lý là phi giải, hoặc có thể hai câu bốn nghĩa giải thích: đầu tiên y cứ học lâu, kế y cứ giải rõ, ba là công sâu, bốn là chánh lý. Chữ tắc trở xuống là nói về nạn, trái là nói người nầy, đầu tiên có thể cùng nói trì phạm thì dễ thấy.
Trong phần nêu bày xưa, hai câu đầu chỉ bày xưa để kia nạn cũng không dám sửa đổi. Nhiều đời là chỉ chung các Sư Sớ Sao như tựa đã nêu, Tuân giống như tuần, thuật âm toại, là đường. Chữ tuy trở xuống hai câu là ngăn ngừa, câu trên là buông ra, do chỗ nói của các Sư đều có hơi khác, nên nói là chia đường. Xưa nói là thủ sớ có lập tám môn (1- Giải thích tên; 2- Thể trạng; 3- Đốn tiệm; 4- Trước sau; 5- Hơn kém, có thấy trong văn kia). Câu dưới là đoạt lấy, nghĩa là lấy đại khái kia so sánh đều đồng, nên nói là không trái. Xưa ghi ở đây phóng khoáng nói khác xưa. Vả lại, văn kia đều mất, do đâu mà nghiên cứu, lại làm cho người học sau càng thêm mê muội. Huống chi là bác bỏ, dù thuật đồ là cũ, nay nêu cắt bỏ.
Trong chương thuật tác, bốn câu đầu của khoa đầu là nêu sự học cạn, hai câu trên nói mới học chưa lâu, hai câu dưới nói thiếu học không công. Giáo võng chỉ chung ba tạng, tướng thuyên chẳng phải một, như cương mục đâu hiểu rõ hết, ngọn ngành chưa thể tột cùng. Chữ phược trở xuống hai câu là nói không biết.
Khoa kế, đầu tiên chỉ chung một sao, một trụ để xếp hai quyển thượng hạ vào tác trì, quyển trung là chỉ trì, ở sau chỉ riêng thiên trước phát khởi ở sau. Chữ nay trở xuống là chánh nói thiên nầy, để chỉ bày ý văn đối lật tùy tướng. Ba món khác nhau, y cứ nghĩa trái trước nói sự, nói chung trái trước tướng riêng, cương yếu trái với cương mục trước. Chữ cử trở xuống là nói dùng riêng hiển chung khiến trước sau chiếu nhau. Chữ như trở xuống là các môn giới học phối hợp giải thích.
Nêu chương có bảy, lập danh có nghĩa, nghĩa phải có thể, thể chung cho năng sở, làm có chỗ thành, cảnh sự chẳng phải một, thông bít
có khác, khởi tâm chẳng thường, tiệm đốn khác nhau, năm cái trên cuộc hạn chế, thứ sáu chung cho hóa chế, chế có hưỡn gấp, nghiệp chia nhẹ nặng, trang 332), phải qua phân biệt để nói về hơn kém. Sáu sinh tướng đều chuyên một nghĩa. Nhưng Luật tông nghĩa trì phạm chẳng phải một đường, cho nên lập cái thứ bảy gồm thâu nhiều vị. Đại nghĩa bảy môn bao gồm hết trước sau, tâm cảnh cả hai đã rõ, hành tướng không mê mờ, hiểu sâu nơi đây thì tất cả giới luật rõ như chỉ trong lòng bàn tay, xin người học lưu ý.
Trong danh tự, danh tức tự, liên miên là lời, không nhọc gượng chia (Nghiệp Sớ phá là kia chia rõ danh và tự phải khác nhau, chẳng phải ý nầy). Hai tên trì phạm đều theo thọ thể, trái thuận là tên tìm văn sẽ thấy.
Trong chỉ trì, ban đầu nêu danh. Chữ phương trở xuống là giải thích nghĩa. Ban đầu giải thích nghĩa chỉ, phương tiện là khởi đối trị, chánh niệm là lìa tạp nhiễm, thân miệng là y cứ bảy chi, phải chung ba nghiệp chỉ mà sau sẽ giải thích nghĩa trì. Trì do sau song kết như dưới nêu việc. Nói cùng loại là hai thiên trở xuống chỉ là lìa lỗi, đều quy về chỉ nhiếp.
Trong tác trừ, câu đầu nêu tên. Chữ ác trở xuống là giải thích ng- hĩa. Ban đầu tiếp sinh khởi ở trước, chữ tất trở xuống là giải thích nghĩa tác. Chữ trì trở xuống là chỉ lược. Ba tiết đồng với trước, nên dùng văn trước sẽ nói. Nhưng sửa chỉ làm tác nên nêu sự nói rằng: thể, lượng, y, bát, v.v...
Trong trước sau, nghĩa là lấy lý thuận tu thiện lìa ác, tác nên ở trước nay sao trái lại. Nếu y theo sinh khởi thì ý kia đã rõ, sợ nghi không có y cứ cho nên lại trích dẫn giải thích. Ban đầu gạn, chữ luận trở xuống là giải thích tức trăm luận, kia nhân ngoại đạo cùng nội chúng luận ng- hĩa. Ngoại đạo nói: “Phật nói thế nào là Pháp tướng?”
Nội chúng đáp: Dứt ác làm lành là Pháp.
Hỏi: Đã nói hành thiện, không nên còn nói dứt ác, vì dứt ác tức là hành thiện.
Đáp: Tướng chỉ dứt, tướng hành tác, tánh tướng trái nhau. Chữ hựu trở xuống là kia luận ngoại đạo nạn rằng:
-Hành thiện có diệu quả, nên trước nói hành thiện sau mới nói dứt ác.
Nội chúng nói: Vì pháp có thứ lớp, nếu không dứt ác thì không thể hành thiện. Trước trừ thô cấu sau nhiễm pháp lành (nay chỉ lấy ý biến đổi lời kia).
Trong tác phạm, đầu tiên nêu tên. Chữ xuất trở xuống là giải thích nghĩa. Ban đầu giải thích nghĩa tác. Nói năm chúng là người năng phạm, đều phát trần sa vì có phạm chung. Chữ nội trở xuống hai câu là gốc khởi nghiệp. Chữ cổ trở xuống là chỗ tạo nghiệp. Tác mà sau giải thích nghĩa phạm, phạm do sau kết, hợp đây sau chỉ tông. Pháp ác tức dâm, trộm, v.v... nên nói là việc ác. Pháp ngữ rất chung liền sinh điều lành. Nói là mười pháp ác nầy (có người dùng năm tà bảy phi để giải thích là lầm). Hỏi: Lý do kết tông là gì?
Đáp: Hai phạm chỉ tác, tâm cảnh khác nhau, nhưng e rằng lạm nhau cho nên phải phán riêng.
Hỏi: Trong hai thứ trì ở trước, sao không kết?
Đáp: Nay vì sao lược? Sớ thì nói đủ. Kia chỉ trì nói rằng ở đây đối không làm pháp ác làm tông. Tác trì chép: Ở đây đối với tu tập pháp làm tông.
Trong chỉ phạm, ban đầu tiếp sinh khởi ở trước. Chữ ngôn trở xuống là chánh giải thích danh nghĩa, câu đầu nêu tên, chữ lương trở xuống là giải thích nghĩa. Ban đầu giải thích nghĩa chỉ, chỉ rồi sau giải thích phạm. Chữ thử trở xuống là kết tông rất dễ hiểu.
Trong thể trạng, tướng trạng của thể cũng phải chia. Trong gồm nêu, cái ban đầu san xưa. Sớ dẫn chép: Có người cho rằng mười điều lành là thể của chỉ trì, mười điều ác là thể của tác phạm. Hành đàn, lễ tụng, đầu-đà, bốn thệ nguyện rộng lớn là thể của tác trì, trái đây gọi là thể của tác phạm. Không rõ hóa hành, đối với lý rất sơ, như kia phá. Chứ Trực trở xuống là giải thích nay, luận thẳng là không bày nghĩa khác, chánh giải là hai thể năng sở đều nương giáo lập thể trì phạm, năng sở phân biệt.
Trong văn, năng sở nêu lược chữ phạm, nghĩa phải đầy đủ. Trong năng trì phạm, ban đầu nêu danh, chữ dụng trở xuống là nêu thể. Câu trên chánh chỉ bày, Sớ chép: Nếu không suy nghĩ thì không thành trì phạm, cho nên lấy ý nghĩ làm thể năng trì phạm. Câu dưới là phân biệt với phi, cho thân, miệng, sắc chỉ là duyên thành nghiệp, chẳng phải gốc chánh nghiệp. Sớ chép: “Thân, miệng là đủ, không gọi là nghiệp”. Sau dẫn y cứ, ban đầu liền thành luận suy gốc của nghiệp. Kia lại nói tiếp rằng: “Lìa tâm không suy nghĩ, không có nghiệp thân miệng”. Kế dẫn bổn luật, tựa kia có kệ rằng: Tạo điều lành đủ ba nghiệp, nay dùng đầy đủ cùng khắp để thông trì phạm, ý nghiệp là chủ, thân miệng do thành cho nên xét riêng để nói thành không, nói đồng là như luật kết phạm đều hỏi tâm gì. Trong phần không phạm nêu mở quên lầm. Dưới chỉ
như sau là môn thứ ba.
Hỏi: Luận nói ba nghiệp đều chỉ là tâm, đây tức là tâm vương, đâu được như trên định ý tứ làm thể?
Đáp: Tâm vương, ý tư, thể, dụng phân chia. Luận suy gốc ba ng- hiệp cho nên y cứ vào thể mà luận. Ở đây xét định công năng thành nghiệp cho nên từ dụng mà nói.
Hỏi: Nếu vậy sao không như luận từ gốc mà nói?
Đáp: Thể chung cho bốn ấm, dụng cuộc hạn tâm hạnh, bỏ thông theo cuộc, luận về nghiệp càng hiển bày. Lại nữa, tâm chưa hẳn là tư, tư phải là tâm, thể không gồm dụng, dụng quyết được thể. Nay nói: Ý tư thì thể dụng đều thâu, nghĩa không trái nhau.
Hỏi: Trong lục thọ giới, tác giới sắc tâm làm thể, nay ở đây năng trì là tùy tác, đâu chỉ lấy tâm mà không gồm sắc? Lại hỏi: Chỉ có tâm tạo nghiệp đâu khác gì Đại thừa? Lại hỏi: Đã phân biệt thân miệng vì sao sau môn thành tựu lại chung ba nghiệp? Ở đây sợ văn nhiều như chỗ hiển bày riêng.
Trong chỗ trì phạm, khoa đầu các sư xưa nêu ra thể, hóa hạnh không chia, nay hạn cuộc Luật tông chuyên nương hạnh giáo. Luật tạng tuy rộng, hành tướng rất nhiều, chế cho hai môn thảy đều nhiếp hết. Do đối cơ khác nhau nên lập giáo có khác nhau, nếu không chia hai thể tra- ng xen lẫn, trước nêu hai giáo ý kia ở đây, cho nên nói rằng để rõ (xưa ghi dùng đây làm lập thể là sai).
Trong ý lập giáo, văn đầu nói tội có hay không, hiểu biết hai giáo danh nghĩa, giới hạn đủ làm tiêu chuẩn. Trong cho, không làm không tội, ở đây hướng về hạnh không bẩm thọ làm lời. Chữ Trung trở xuống là lãnh dùng cần nương pháp chế, trái liền có tội. Nếu luận cho, thì giáo cũng có chỉ và tác, trong văn không nêu ra như sau sẽ rõ.
Khoa kế, câu đầu là gạn khởi. Chữ phược trở xuống là giải thích chung, đầu tiên giải thích phải cho. Chữ phược trở xuống là nói phải chế. Chữ “dĩ trung” trở xuống là không kham chuyên chế, bậc thượng trí không thích thường khai, lập riêng một mối đều cho thối đạo mất nơi cơ khí, đâu nói là biết thời? Lại nhưng văn đối một lần chia khác phải biết, chế vốn chung cho trung, hạ, cho cũng khai cả thượng căn. Chữ cố trở xuống là song kết, sinh tức là cơ, thông gồm ba loại.
Khoa Cổ ký, văn trước là chánh nói về thể trạng. Nay chia về sau là bốn hạnh nhiếp pháp. Nay nên hỏi rằng: Nêu ra thể đã xong, sao bỗng ở sau nói về pháp nhiếp? Nếu cho là pháp nhiếp không quan hệ với thể, thì do đâu không nêu trong sáu môn khác, mà không biết văn
trước lại nêu hai giáo? Nay chia về sau mới nêu ra thể trạng, mê một nơi đây, nhiều đời luống tranh cãi, xin dùng lý tìm cầu chớ sự thì hằng chấp.
Trong phần nêu thể, văn đầu tiên muốn chia ra bốn hạnh, lần lượt nói về thể trạng cho nên trước là chung, chỉ bày riêng nhiếp giới hạn. Hai câu đầu nêu bày, nối pháp nhiếp ấy, một chữ pháp tức thể sở trì không gọi là sự pháp. Trong chỉ trì sự đâu không gọi là Pháp, như giới bổn chép: Bốn pháp Ba-la-di, v.v... phải biết sự, pháp, tên có chung riêng, tùy văn dùng bỏ không thể chuyên một góc. Chung thì sự cũng gọi là pháp, tức nay pháp nhiếp đã nêu. Pháp cũng gọi là sự, như tác pháp yết-ma đều gọi là hành sự. Riêng thì sự chuyên cảnh sự, pháp chỉ là chế pháp, như hai môn chỉ tác ở sau, phối riêng sẽ thấy. Chữ chỉ trở xuống là chia thông và bít. Chữ sở trở xuống là điểm cuộc hạn sự ở trước. Câu đầu gạn hỏi, chữ pháp trở xuống là giải thích chung, câu trên nói pháp không chung, trái ngược nói các việc dâm trộm chẳng phải tấn tu, cho nên nói mới biết nghĩa là tác môn, pháp lành là đó, bèn biết hiển môn chỉ ở sau, không đợi làm việc ác (trang 333) cho nên chỉ có thể tự nhiếp. Nhi dĩ trở xuống hai câu là nói cuộc hạn sự, cho nên được nói nghĩa là chỉ trì, môn chỉ được nói sự.
Nếu y theo giới sở chỉ là nghĩa xưa, sau tự lập rằng năm tà bảy phi đều chẳng phải chánh pháp, đồng nghĩa với sát sinh, trộm cắp, thì nói hai môn chỉ tác đều chung cho sự pháp, xưa nay chương ký lại dẫn, văn sớ nối tiếp, ví dụ thuận với xưa. Vả lại, nay sao nhiếp y cốt yếu để dễ hiểu, đâu được một bề dẫn ngang lời xưa, hoặc có người không lấy văn, tự nêu rằng “bao nhiêu nghĩa bỏ đó là bỏ nghĩa xưa, v.v... nhưng biết truyền lầm mà chưa rõ lý do”. Nay vì lược nêu các góc, trái đó do ban đầu soạn sao, vẫn như đồng với chấp xưa, cho nên phần nhiều theo thời xưa có thay đổi. Sớ ở sau chế kính mến xem trọng thời xưa có sửa đổi. Sớ ở sau chế kính mến trọng tu nghiên cứu cùng tận lý mới thêm sự phán đoán cắt bỏ, cho nên nay phán đoán giải thích chưa thể lại dùng sớ sao xen nhau, lại khiến giở ra tìm văn ý chuyển mê, cho nên phải lại làm, nay nghĩa giải thích đó có chỗ khác nhau, văn ngoài tự điểm, cần đến học sớ ưa tự bao gồm, cho đến cú pháp ý cũng đồng với đây.
Chế môn chỉ trì, câu đầu nêu chung. Chữ nhất trở xuống là riêng bày đáng học. Lại trong hai chế, chỉ ở đầu nêu dâm trộm là chánh bày thể trạng. Ba cảnh tức ba đường đều là nặng, cho nên nói là chung. Bốn chủ lại thêm Tam bảo, phạm tướng đều khác nên nói là chia. Trong văn lại nêu hai giới của thiên đầu, còn các thiên tụ khác cấm tất cả việc ác
đều thuộc môn nầy (trong sớ lại thêm pháp chế chỉ, như năm tà bảy phi, thể trái với Thánh giáo nên không được làm).
Kế trong chế tác, y, bát v.v... là thể trạng đều cần ba như. Trong văn lược sắc lại nêu thể lượng (sớ thêm pháp chế tác như ba yết-ma v.v...).
Hỏi: Đây là môn sự tác trì, đâu ở chỉ môn mà nói?
Đáp: Vì chỉ bày nghĩa song trì, Sớ nói song trì song phạm thì có hai món: Ban đầu y cứ theo tâm dùng tất cả giới đều là song trì phạm, vì hễ trì một giới thì quyết khởi đối trị, cấm ác gọi là chỉ, khởi trị gọi là tác, hai phạm cũng vậy. Hễ làm ác quyết không trị (đây có thể vâng trì dụng tâm, chẳng phải chọn phán). Thứ hai là y cứ giáo hạnh tức trong các giới, hoặc có giáo chế vâng làm, hoặc chế, hoặc cho, hoặc sự, hoặc pháp. Vả lại như ba y giáo khiển phải đủ, nương giáo mà làm là tác trì, đối với không trái phạm là chỉ trì, bao nhiêu đều giống nói từ các thứ dâm, trộm, v.v... không có chế pháp, đều là đan trì song phạm (lựa phán các giới chánh dùng nghĩa nầy).
Như trên song trì, chỉ trì thuộc môn nầy, tác trì quy về sau nhiếp. Đây thì chỉ trì có đủ hai món: 1/ Đối với việc ác chỉ rõ chính là bổn vị; 2/ Đối với việc lành chỉ rõ gồm thâu môn sau nên biết. Các việc y, bát, v.v… trước sau đều rõ. Y cứ theo hạnh phải riêng không thể lạm nhau, còn bao nhiêu rộng như trong sớ.
Trong không thể học, ban đầu bày nghĩa nầy. Trong luật cảnh tưởng vốn mê chuyển tâm tưởng nghi, đều khai bổn tội. Nay nói là mê đảo gồm ba món trên, nghĩa là tâm mê nầy gặp việc bỗng khởi không do ngăn hộ cho nên nói là không thể (có người nói tâm mê học không được là sai). Tùy cảnh không rõ, Sớ chép: “Ở cảnh sát sinh, trộm cắp nghi ngờ không phân, trông chẳng phạm vị, cho nên thuộc về chỉ trì, mà tâm không rõ là không thể học (nếu đối pháp, bốn y, năm tà, bảy phi, ba pháp, thị phi xen lẫn nhau, nhớ quên không rõ). Chữ phế trở xuống là san xưa chú giải có hai: Ban đầu nêu ra ý xưa, xưa dùng sự là kia ở chỉ trì, lập chung có thể học hay không thể học, chế tác môn sự là có thể học, chế chỉ môn sự là không thể học, do chỉ lìa lỗi chẳng phải tiến tu. Tác trì chỉ là đáng học chẳng phải không đáng học (như sau chỉ phá). Chữ kim trở xuống là nói lên chỗ lập ngày nay, đầu tiên nói lên sự khác. Xưa y cứ sự chia thông bít mà chế, nay y cứ tâm mê bao gồm thiên tụ. Chữ nhất trở xuống đến chữ thân lý, hai câu trên là chỉ bày đáng học. Nói tất cả là gồm chỉ các giới, đều đáng học, đều phải rõ, thuần luyện giữ gìn ủng hộ không trái. Chữ đãn trở xuống là nói không đáng học.
Ở đây y theo văn luật cảnh tưởng để lập, chỉ có trừ phá tăng dâm, rượu (rượu có nghĩa đoạn) các giới khác đều đều khai tưởng nghi, cho nên nói rằng: “Phật khai tất cả”. Đây gọi là tố, đều rõ suốt đến cảnh bỗng quên, không đồng với ngu giáo một bề không biết.
Trong môn cho, sự vốn là là tác trì, do chung cho chỉ tác nên chia ra hai môn, nghĩa là phòng, y đúng như pháp gọi là cho làm. Phòng có ngăn nạn, y có phạm lỗi, không nên thêm pháp nên gọi là cho chỉ. Chữ ngôn trở xuống là giải thích riêng, ban đầu giải thích đáng học (theo sớ có pháp tức xử phân, thuyết tịnh, v.v...).
Trong không thể học, đầu tiên chỉ cho đồng. Chữ đãn trở xuống là lược bày, nghĩa là phòng quá lượng, giảm, chứa tài, lớn, nhỏ, mê, quên sinh ra lẫn nhau, nhưng không trái giáo nên gọi là chỉ trì, mê chẳng đáng học nên không chế phạm (pháp gọi là tác pháp, đúng sai, hôn mê tạp khởi). Hai câu trên là mê trước sau như làm phòng y quá lượng một bề cho là đúng lượng, v.v… Hai câu dưới nói về chuyển tưởng, như trước tâm muốn làm quá lượng, sau chuyển cho là đúng lượng, tâm trước tội Thâu-lan-già, tâm sau không phạm, cho nên nói là không định. Nay đối với tâm sau là không đáng học.
Trong tác trì, chế môn đáng học, ban đầu gồm nêu. Chữ pháp trở xuống là giải thích riêng. Trước giải thích trong pháp, câu đầu gồm nêu, hai câu sau chuyển giải thích. Nói Luật tạng, lại chia làm hai đoạn: 1/ Gồm thâu chế tác ba món yết-ma, chúng pháp như thọ giới, kiết giới, nói pháp, tự tứ, trị phạt, can ngăn, sám hối, diệt tẫn, v.v... (luống chia gậy, đãy v.v... ở môn cho phép). Đối thú tức an cứ, y chỉ, trì y, thêm thuốc các loại (y, thuốc, thuyết tịnh, v.v... thuộc môn cho phép). Tâm niệm như sáu niệm, trách tâm, v.v...; 2/ Gồm thâu chúng cùng hai hạnh trừ yết-ma. Ngoài các kiền-độ của luật chỗ chế hành pháp như đồ đạc của Tăng, y bát, hành hộ các loại, chung có chế và cho, đủ như hai quyển thượng hạ. Hành nghĩa là đối trị như y, đồ ăn, phòng, thuốc, tùy thời khởi quán hạnh, đi đứng ngồi nằm thường là nhất tâm của ông.
Kế nói trong sự cùng chỉ trì chế tác không khác ở trước, nhưng lấy tu tạo là bổn vị nầy (theo đây cũng có chế tác chế chỉ, nhưng chỉ ở môn trước cho nên ở đây không chia). Môn cho phép pháp sự rất dễ thấy.
Kế trong nạn chung, về trước một bề y xưa chỉ nói đáng học, kia cho việc ác là không thể học, tác môn, sự pháp, đều là thiện cho nên không thể lập. Nay y cứ tâm mê là không thể học, chứ bất luận thiện ác, tất cả đều chung, muốn nói lên xưa nay khác nhau, cho nên ở văn
sau gạn phá, tức như Sớ chép: Nếu nói theo đây thì hoàn toàn khác với trì phạm, thông bít xưa (xưa bít, nay thông). Ban đầu là trước gạn khởi, chữ do trở xuống là dùng thẳng nghĩa này nạn phá, nghĩa là chứa y khai quên, phòng khai tưởng nghi. Đã đồng mê quên cũng nên đồng lập, đâu được không thông? Rộng như ở sau là chỉ khoa tạp, câu dón gọn trong tháp, nếu theo giới Sớ gạn văn đó, dưới trước nêu ra giải xưa nói rằng: Chẳng phải ở đây đã rõ do chẳng phải tấn tu, Thánh không chế học (ở đây chỉ bày nghĩa không đáng học), không đồng với chỉ trì chung cho không đáng học, sự chỉ lìa lỗi cho nên được. Nay lược xưa kia giải thẳng chỉ bày nghĩa nầy (hoặc có sửa chữ là cũng chung, hoặc nói rằng: Cùng Sớ bày lược ấy đều chẳng phải có đặt bày lược văn ở bộ riêng ư? Chữ thử trở xuống là điểm bày hạnh tông, sợ cho là mê quên chẳng phải tác trì. Sau rõ hai phạm đều trái với hai trì, do không có thể trạng riêng, nhưng hướng về thuận trái hai phần trì phạm. Trước, tác phạm nói rằng: “Chỉ không y giới”. Sau, chỉ phạm nói rằng: “Chỗ đối pháp sự”, đã lược chỉ thể kia, đến nơi chế, cho, chỉ, tác, có thể, không thể học, đều đồng với trước.
Người xưa có lập chế cho hai giáo là thể, nay cho là hai giáo chính là khoa chung nhiếp pháp, đã nhiếp sự pháp chính là thể kia, cho nên biết là sai. Lại có chương môn dùng bốn hạnh vô tác làm thể, cho là cùng một thọ thể chẳng khác. Nay cho là thọ tùy trước sau, phát nghiệp khác nhau, làm sao trì phạm chẳng khác với thọ? Huống gì hai phạm vô tác thể là bất thiện, thì đâu đồng với thể thọ, ở đây cũng không. Lại có người lập muôn cảnh làm thể, (trang 334) nay cho cảnh chính là duyên trì phạm, chẳng phải là thể kia. Lại các giới nêu duyên cảnh chuyên một món, nếu chỉ lập cảnh không nhiếp các duyên thì thành cuộc hạn. Lại dâm, xúc, thô, môi giới, nói pháp, ngủ chung, đi, ngồi, đi thuyền, cảnh chỉ một người nữ, nếu chỉ lập cảnh thì mê các tướng. Lại giới thứ sáu mươi ba là chỉ một người nữ, nếu chỉ lập cảnh không nói nhiều giới. Nếu vậy, Mẫu Luận chép: “Phạm phải y theo cảnh” há chẳng thành y cứ hay sao?
Đáp: Luận nói y theo cảnh há chẳng phải duyên phạm hay sao? Còn nói về chỗ phạm phải nói là “phạm giới”, đâu được nói phạm cảnh?
Hỏi: Như ba nhà trên là có lỗi gì?
Đáp: Trước đã lược bày để nói, nêu cốt yếu đều trái lời Tổ dạy.
Vả lại, trong văn tự nói rằng: Chế cho hai giáo để hiển rõ là y cứ theo giáo mà nói thể, đâu nói là hai giáo tức là thể? Lại một môn
thể trạng chưa thấy một lời bàn vô tác và cùng muôn cảnh, đâu được ở ngoài mà tự gượng lập. Lại các chương ký đều là đoạn trước của khoa, rõ văn hai giáo dùng để lập thể. Nay chia về sau chánh nói thể xứ tự luận bốn hạnh, chỉ dùng đây tìm cầu thì có quan hệ gì? Còn bao nhiêu lầm vọng đâu đáng nói.
Hỏi: Nay đây chỗ lập chỉ cái gì làm thể?
Đáp: Một giáo Đại tông đâu cho đàn lập, huống chi ở văn đã hiển rõ, đâu cần nhờ cầu tìm riêng. Một là y cứ văn sao như giải thích ở trước, sợ có người chưa ngộ lại lược nêu bày, như văn trước nêu ra danh nghĩa hai giáo (Khoa Giới Sớ chép: Trước nói ý hai giáo) sau chia lược hiển sự pháp của hai giáo, sự pháp tức là thể đâu còn nghi ngờ gì.
Hỏi: Sự pháp là những gì? Muốn biết về sự pháp.
Vả lại đối với giải thích tướng tức là tất cả các giới của giới bổn, nếu chung sao nay tức là ba hạnh, tất cả chế pháp của ba quyển. Nếu chung với Tổ dạy tức là hành tướng đã nói văn bộ lớn nhỏ của một tông. Nếu chung cho sở tông tức là pháp chỉ tác trước sau của bổn luật. Nếu chung cho các bộ tức năm trăm mười tám (518), năm bộ, hai bộ, Đại Tỳ-ni tạng. Nếu chung với Phật chế thì ba ngàn, tám muôn cho đến vô lượng. Nếu chung với các cảnh thì ba đời mười phương, số đông như trần sa, lượng đồng với pháp giới. Nếu theo Phật Phật đạo đồng, thì ba thừa đều thờ, Tiên thánh, Hậu hiền truyền nhau không dứt, tức là giới pháp. Nếu theo lãnh nạp ở trong tâm tức là nghiệp thể. Lược nêu vài mối thô biết sự pháp nên phải nghiên cứu mới thấy sâu xa, nếu mê ý chỉ nầy, còn bao nhiêu não đáng nói. Dầu muốn nhiếp tu thẳng sợ không có chỗ để làm, tuy nói là giảng tạp mà hoàn toàn luống phí thời gian công sức. Thánh ý rất rõ, phàm tình chớ so lường, bỏ văn xét thể đâu khác leo lên cây tìm cá, gượng lập dị đoan đâu khác thêm chân cho rắn, xin gánh vác cái biết trái góc, chớ đóng kín cái mê xưa. Bao gồm xưa nay, quyết chọn lựa có thể được chăng, thì đạo của Tổ sư ta đâu có tai họa tán mất.
Ba, là môn thành tựu. Trong phần y cứ tâm, hai câu đầu là nêu bày, nghĩa là chia bốn tâm để rõ hai chỉ. Trong ba tâm chỉ khoa nầy đã rõ. Trong hành tâm thì như sau sẽ nói, luận chung bốn hạnh chỉ chung hai thứ chỉ trì, còn ba hạnh khác đều cuộc hạn tâm hạnh. Chữ nhất trở xuống là chánh rõ ban đầu lập nghĩa. Trong đây chỉ rõ một món, trông sau y cứ hạnh cho nên nêu một. Chú giải dón gọn, bốn tâm hiển bày chia ra hai lý do: Thức nghĩa là phân biệt rõ cảnh duyên theo (chỉ chung sáu thức). Tưởng nghĩa là chân tướng lãnh nhận. Thọ là lãnh nhận sở
 
duyên (ba thứ trên thiện ác chưa dính mắc nên nói là chẳng phải ng- hiệp). Hành là tâm tạo tác, chấp trước vào quả (tâm suy nghĩ thành nghiệp, thiện ác bèn khác, cho nên nói là biệt nhân khác, còn lại có nói riêng).
Chữ do trở xuống là chỉ bày lập, sở dĩ ba tâm chẳng phải nghiệp vốn không gọi là trì, nhưng đối với thể thọ nói có nghĩa trì. Chữ thọ trở xuống là ngăn nghi, do trì là ký nghiệp, vô ký chẳng phải trì (đây vì xưa cho là chỉ không làm ác tức gọi là chỉ trì, nay y cứ bốn tâm chia làm hai môn, khác thì không có lạm).
Kế, trong hạnh, khoa đầu trước nói hai trì, trên dựa theo bốn tâm lựa bỏ ba tâm, dưới dựa theo ba tánh lựa bỏ hai tánh, vì tâm hạnh chung cho ba tánh. Chỉ tác trở xuống là kế nói hai phạm, dựa theo bốn tâm ba tánh để phân biệt thể hạnh. Đối với văn có thể chia, chú giải chia thiện ác là do tâm hạnh lời chung e lẫn lộn nhau, ba thiện đồng thời mà không lìa nhau, ba ác khác nhau, tánh kia trái nhau. Tác phạm phần nhiều là tham, sân. Chỉ phạm đều do si, mạn. Một phen đại chế chẳng phải không gồm nhau.
Trong phần trước sau, văn trên lược y theo hai hạnh mà nói thì trì phạm khác nhau, chỉ tác đều khác. Ở đây nói bốn hạnh xen lẫn đồng thời, chữ tức trở xuống là tự làm và dạy người từ nghiệp tướng thành nghĩa hai môn. Tâm trước sau là như ban đầu dạy người làm và sau là tự làm. Riêng trì phạm, trong một hạnh có gồm hạnh khác. Nếu biết được thì đó là nghĩa dễ thấy. Sau y cứ ba nghiệp, trong phần hai thứ thân, miệng phần đầu nói về hai trì, kế nói hai phạm. Nói trái với trên là làm sát sinh, trộm cắp, v.v... gọi là thân tác phạm, không nhận đồ ăn gọi là thân chỉ phạm. Vì miệng có bốn lỗi gọi là miệng tác phạm, không nói tịnh ngữ là miệng chỉ phạm, đều lược nêu sự để phối hợp, còn bao nhiêu trình bày như thuyết.
Trong ý nghiệp, ý đến thân, miệng gọi là thân miệng nghiệp, chưa đến thân miệng thì chỉ gọi riêng là ý. Ở đây nói phương tiện xa của các điều thiện và ác giác không nhiếp ý, thầm quên tự che, v.v... quả là tội đầu. Ban đầu pháp không thành, ở đây chung hai tông đã hứa. Nếu thật tông kia nhất định không có ý nghiệp, động sắc thành phạm, nếu y cứ giả tông suy nghĩ tâm thành nghiệp, tức chỉ lượt qua gọi là đơn ý. Chữ nhược trở xuống là kế rõ chung thành, suy lường việc đã làm gọi là thân, miệng, tư. Tuy chưa có tướng động liền thuộc thân miệng, không ngại văn trên. Nếu y theo Giới Sớ thì trên là mới giải, sau lại giải rằng “Độc đầu tâm niệm bỗng khởi, duyên đều gọi là phạm”, trọng duyên
hướng niệm có thể được tự giác mà không chế ước thì xếp vào khoa phạm.
Lại nói rằng mặc tình hai chấp, sau là chánh nghiệp (vì thuận theo tông nầy). Chỉ thuyết sau là trong thú quả phương tiện của môn thứ bảy. Bốn là nói về thông bít, nêu trong bốn hạnh đều đặt tên là tắc. Trong một hạnh gồm có các hạnh, hoặc ít hoặc nhiều đều gọi là Thông. Môn đầu chỉ có bít, môn thú ba chỉ có thông, còn hai và bốn thì gồm cả hai. Lại trong hai, thông ấy trì phạm tự thông, trong ba và bốn thông trì phạm xen lẫn thông, như thế mà tìm.
Trong nhất tâm, ban đầu nêu, chữ duy trở xuống là lập nghĩa. Nói tác nghiệp, ở đây rõ tâm hạnh tạo tác chung cả bốn hạnh, chẳng phải là tác của tác trì, nghĩa là khởi tâm đối cảnh đều cuộc hạn mà nói, không y cứ nghĩa trước sau gồm nhau.
Hỏi: Nếu vậy song trì song phạm làm sao nói? Đáp: Chỉ tác duyên khác lại thành không thông.
Chữ dĩ trở xuống là giải thích lý do tâm và cảnh đốn không có lý nầy.
Nếu vậy thì không học có đốn phạm, đâu chẳng phải cảnh đốn?
Như sau có nói. Trong nêu thứ hai, chỉ do cảnh sự gồm chỉ tác, cho nên tâm tùy cảnh hạnh có đủ cả hai, tức trước đã nói nghĩa song trì song phạm. Nhưng tâm dụng giáo hạnh hai nghĩa xem nhau, đối với văn khó hiểu. Trong chia chung, trên giải thích nghĩa bít, trì phạm đối lập nhau, thiện ác khác nhau, cho nên sau giải thích nghĩa thông, trì phạm đều cuộc hạn, vì chỉ tác thông. Suy trong giải thích, chỉ tác lạm nhau vì không có sự phân biệt.
Trong phần đáp chung, đầu tiên y cứ thâu đáp lẫn nhau. Trong chỉ có tác nếu y cứ giáo hạnh, trong chỉ không tác đây là y cứ tâm dụng, nghĩa thấy ở khoa sau. Trong tác có chỉ, hai món giáo hạnh và tâm dụng đều đủ, chữ nhất trở xuống là y cứ câu để phân biệt, hai câu trên lựa hai trì, ban đầu nói là tâm riêng là dừng (chỉ) tâm lìa lỗi, tác tâm tấn tu. Kế cảnh riêng là chỉ cho cảnh là cảnh ác tác, là thiện trở xuống hai câu chọn riêng hai phạm, câu trên là chỉ phạm, câu dưới là tác phạm.
Kế trong phần y cứ hạnh, trước nói hai trì (trang 335) tức tâm dụng song trì chung cho tất cả giới tu quán, chỉ duyên chung y cứ hóa nghiệp đều chẳng phải chế giáo (y cứ biết tâm dụng chỉ tác thì chung cho hóa chế, giáo hạnh chỉ tác chỉ cuộc hạn chế giáo). Từ bi thương xót chúng sinh hành trị sát sinh, ít muốn biết đủ là hạnh trị trộm cắp, lìa nhiễm tịnh là hạnh trị dâm, nói lời thành thật là hạnh trị nói dối. Sau nói hai
phạm, tức dựa vào giáo hạnh song trì. Nhưng trong tác phạm làm ác phải nói phạm giới, không học cũng y cứ khoa chế. Ở đây tuy giáo hạnh mà chính là y cứ thông luận. Sau trong chỉ phạm chỗ nêu phòng dài tức là giới riêng. Chỉ phạm có hai: Trên nói sự pháp chỉ phạm, chữ nhược trở xuống là lựa không học chỉ phạm, hai câu trên nói bít, hai câu dưới bày thông, tuy không thành ngay nhưng đối với sau có thể nói như người không học bèn gây ra là chẳng phải trong chỉ có tác.
Hỏi: Giáo hạnh song trì, riêng đối với giới bổn là có bao nhiêu giới?
Đáp: Nay nói bao gồm, Tăng tàn có hai (hai phòng chế lượng có xử phân): Ba mươi chín (chứa y, một tháng, chứa bát, chứa thuốc, y thí gấp năm giới nầy có tịnh pháp. Hai lìa dưới sáu năm đều có pháp khai, chứa tiền bạc, vật báu, thuyết tịnh, giao cho tịnh nhân). Chín mươi có mười hai (nói thô, giáo giới ni, yết-ma, khai trái. Riêng y công đức khai hai vào tụ lạc chế tự ni có pháp dư thực ngủ đêm, không thọ bảy ngày, trọn đời, khẩu pháp chân thật, tịnh hỏi chủ, Tăng đoán sự, dữ dục).
Đề-xá có hai, (Ni chỉ khiến quở trách, chỉ Lan-nhã chế nói biết), chúng học có một (gậy, đãy, yết-ma khai). Gồm hai mươi sáu giới, đều có hai thứ trì phạm, còn bao nhiêu là đơn trì phạm (xưa ghi không dùng hai môn tâm dụng giáo hạnh để lựa rất là phù mạn).
Ba, trong phần dạy người nêu rằng: Đều chung ấy vì là dạy người, nghĩa bít không lập, dạy người làchỗ thông, tự làm là năng thông, sở thông thông bao nhiêu, năng thông chỉ một hạnh. Trong phần giải thích, khoa đầu văn nêu bốn việc, y cứ đủ mà nói, cho đến một việc cũng gọi là Thông. Sát sinh là tác phạm, không xin là chỉ phạm. Chữ tác trở xuống là gồm bày nghĩa thông, tự tu là chỉ trì, trước dạy bốn việc vì đồng thời thành xong. Trong một hạnh chung có nhiều nghiệp. Kế trong ba món kia, cho đến ấy nên nói là sai người làm bốn việc. Tự mình ngồi tụng giới tức là tác trì, trong đủ bốn hạnh, hoặc thực hành dâm trộm là tác trong phạm có bốn, như bản đồ trình bày:
Tự làm dạy người bốn hạnh đều chung gồm có mười sáu câu
Tự làm chỉ trì chung bốn hạnh Tự làm tác trì thông bốn hạnh Tự làm tác phạm chung
bốn hạnh
Tự làm chỉ phạm chung
bốn hạnh
tác ý lìa lỗi thuyết tịnh chứa dư
tự làm việc dâm
tự khởi không học
chỉ trì
 
tác trì
 
tác phạm
 
chỉ phạm
Sai người tưới cây, trong tăng trì dục, xúi người sát sinh, không xin mà
làm nhà.
 
 
Bốn, nói về tướng hành. Trong phần chỉ chung, bít nghĩa là tự khởi phương tiện. Sau đến chánh quả tức là tự nghiệp tướng thành, ở đây như lẽ thường, cho nên nói là dễ hiểu, nghĩa chung như trước. Trong một có bốn cho nên nói là chẳng khác, tự nghiệp cùng dạy người sự có khác nhau, cho nên nói là khác nhau. Chữ như trở xuống là có thể thấy. Trong phần chỉ bày tướng bốn câu đầu là nêu bốn hạnh phải tự chia ra, cấm Sa-di tức là tác trì, Luật chế dạy Sa-di thường phải cần cấm ngăn ở trong phòng, chữ thử trở xuống hai câu là gồm chỉ bày. Bốn câu nầy là trước phương tiện, sau tu chỉ trì, trong một chung bốn, ba thứ khác đồng với ở đây, chữ nãi trở xuống là chỉ ba hạnh khác loại, y theo mà làm cũng là bản đồ sau:
Tự nghiệp tướng
thành chung trong
bốn hạnh gồm mười sáu câu
Sau tu chỉ trì
Chung bốn hạnh
Sau tu tác trì
Chung bốn hạnh
Sau tu tác phạm Chung bốn hạnh
Sau tu chỉ phạm Chung bốn hạnh
tác ý lìa lỗi xin phép làm nhà tự trộm vật của người
tác ý đoạn học
chỉ trì tác trì tác phạm chỉ phạm
tự an tưới đủ cấm ngặt Sa-di
tự an dụng cụ giết hiện không
dữ dục
 
 
























Trong điểm chỉ, trước là môn thứ hai chung cho hai môn chỉ phạm, hai món sau đều y cứ tạo tác, bất luận không học chỉ phạm. Hỏi: Như dạy người việc tự mình khởi đoạn học, sao lại có chuyện không được?
Đáp: Năng thông có thể nói, văn điểm sở thông.
Năm, là môn đốn tiệm. Trong phần y cứ tâm, môn nầy không y cứ tạo tác thành hạnh, chỉ đối với tâm khởi chung riêng để nói đốn tiệm. Trong chánh nói, ban đầu nêu bốn thứ đốn, chữ nhược trở xuống là kế chỉ bốn cái tiệm, chỉ y cứ một cảnh mà nói.
Hỏi: Khắp chung các cảnh có thể gọi là đốn, hoặc duyên ba và năm khởi tâm trì phạm là tiệm hay đốn?
Đáp: chỉ một tên là tiệm, từ hai trở đi đều là đốn.
Trong hiển ý, đây nói về trì phạm, nhưng đối với khởi tâm trái thuận với thể khác nhau. Khóa kế đối sự tạo tác, nên biết hai trì tâm đốn tức y cứ trì chung, đối với bổn thọ thể trần sa sự pháp phát việc lành vô biên. Hai phạm cũng vậy, nếu nói về tác phạm, đối duyên chánh làm tự theo phạm ở trước. Trong đây chỉ là thiếu càng khởi tâm, có thể đối với bổn thọ thông phạm, tội Đột-cát-la chỉ, phạm, đốn, tiệm như ở sau giải thích riêng.
Kế, trong đối hạnh, sự tướng đều khác, tâm không đồng thời, cho
nên chỉ là tiệm. Nhưng nói ba hạnh, một hạnh chỉ phạm để hợp nghĩa môn. Chữ tại trở xuống là giải thích riêng. Hai trì, rất dễ hiểu. Tu từ là tác, thâu tác thành chỉ, cho nên là chỉ trì.
Trong phần tác phạm, ban đầu bày nghĩa tiệm, chữ thả trở xuống là nêu sự để hiển. Ban đầu nêu riêng giới sát, bảy tâm tức ba món bất thiện đơn phúc trải qua. Chữ tư trở xuống là chỉ các giới khác, nam tử năm mươi sáu, nữ nhân sáu mươi ba, bảy sát ở trên có nói, cho nên nam bốn mươi chín, nữ năm mươi sáu. Chỉ như trước là giải thích tướng ở đầu.
Trong phần chỉ phạm, nếu y theo sự pháp, chỉ phạm là tiệm, chẳng phải đốn. Hợp với khoa trên văn lược không nêu ra môn nầy, chỉ là rõ không học chỉ phạm. Bốn câu là bốn khoa dưới, môn đầu thiếu luận đốn tiệm có hai thứ khác nhau: 1/ Trước sau tức môn nầy; 2/ Một, nhiều tức như môn kế. Trong văn không học trước khởi, ở đây đối với ban đầu khởi tâm đoạn học. Y cứ nghĩa sao trước khởi dưới có, cho nên hai chữ đốn văn thoát, không biết sau sinh là trước không dứt học, không kết không biết, phải nhờ trước thành cho nên là nghĩa Tiệm. Ba căn khác nhau như sau giải thích. Chữ văn trở xuống là dẫn văn chứng minh tiệm.
Trong giải thích riêng không học, ban đầu gồm nêu, chữ như trở xuống là giải thích riêng. Lại hai thứ đầu là nói đốn phạm, chữ vân trở xuống là giải thích tiệm phạm. Trong phần không biết, ban đầu nêu, chữ vị trở xuống là giải thích. Không học y cứ tâm, không biết tùy sự, tâm có chung riêng, chung cho việc đốn tiệm, không cùng tu cho nên chỉ cuộc hạn tiệm. Lại tội không học phàm trải qua hai kiết, nếu ban đầu khởi tâm đốn tiệm tùy phạm như đây đã nói, đến sau không biết tùy sự lại kết, như câu pháp ở dưới.
Trong phần bày tội, do xưa nay phán khác. Hỏi: Xin giải thích. Trong đáp, đầu tiên nêu ra giải thích xưa, chữ kim trở xuống là chánh phán. Câu đầu nói một phẩm không học. Chữ vô trở xuống là nói không biết nặng nhẹ. Dẫn luật chứng minh nặng là không nhiếp nhĩ giới, nghi dụ như hợp giải cho nên tội nhẹ.
Hỏi: Tội không học là xuất xứ từ đâu?
Đáp: Thọ giới nói tướng là chế nương theo thầy, nay trai giáo nầy cho nên kết tội Đột-cát-la.
Trong giới hạn, chia giáo thành hai: Ban đầu nêu chương, chữ học trở xuống là chánh giải thích. Trên nói không học, học nghĩa là vâng làm quyết không bỏ giữa chừng, cho nên nói trước sau. Trước y cứ ban
đầu thọ, sau y cứ trọn đời. Sau nói không biết. Hạn cuộc năm hạ là trong pháp thọ giới chế học năm hạ, có chỗ chưa biết, chưa thì kết tội. Năm hạ trở lên đối sự không rõ, rõ ràng là giải mạn cho nên tùy kết phạm.
Trong phần đối hạnh, năm hạ lìa thầy đây là dựa theo giáo hạn, nếu theo thành hạnh thì đến Thánh mới thôi. Tuy chẳng trái giáo nhưng đều trái hạnh. Trong văn đầu tiên nêu, chữ khủng trở xuống là kế giải thích mới nêu lập. Dật đãn là buông lung, tự thị đồng Thánh là cống cao, hơn kém không hạn cuộc số hạ nhưng hơn ở nơi mình thay nhau làm thầy, cho nên nói rằng tương giáng. Chữ văn trở xuống là dẫn chứng cũng nêu ra pháp thọ. Y chỉ phải đủ ba đức: 1/ Đủ mười hạ; 2/ Có trí tuệ; 3/ Siêng dạy dỗ. Đến pháp thân không cần một hình, huống chi Như Lai dùng pháp làm thầy, bao nhiêu phàm ngu đâu thể tự lập.
Trong phần y cứ các căn, ban đầu là nêu. Chữ nhược trở xuống là giải thích, nếu luận không học y cứ chung trước sau, ba căn không khác. Tội không biết vị chia ba loại khác nhau: Thượng căn không đợi năm hạ cho nên nói rằng trước sau hai tội (có thuyết nói rằng liền bị hai tội là sai. Không học có đốn, không biết không đốn). Trung căn sau năm hạ kết (nghĩa thấy ở khoa trước cho nên không nêu lại). Hạ căn một bề không kiết. Văn rõ lợi độn không hiển trung căn nghĩa thủ ở khoa trước thì ba căn đều đủ. Trong phần phải sám, ban đầu nêu, câu hỏi, chữ nhị trở xuống là giải thích chung, câu đầu gồm bày đối phá với giải thích xưa. Xưa cho là không học phải sám, khởi tâm muốn học dứt tương tục. Không biết không thể sám, muốn biết chưa rõ vì không có nghĩa đoạn, không thể sám duyên sau được hiểu, tức là hiểu hoặc dứt trừ tướng, lại không cần sám (do giải trừ hoặc tội không nương cho nên chữ tướng là bình thanh). Nay đưa thẳng ra chánh giải, giải thích xưa như nghĩa sao trích dẫn. Chữ như trở xuống là hiển bày riêng, ban đầu nói trước phạm. Chữ nhược trở xuống là nói đoạn sau để vừa khởi tâm học liền chẳng có gì không biết, vì cả hai đều có đoạn, nên đều có thể sám.
Sáu, là nói hơn kém, trì phạm đều có mười môn, ban đầu mười môn trì, trong mỗi môn đều chung cho hai trì đều thấy nghĩa hơn kém. Trong phần y cứ pháp, khoa đầu, oai nghi là tùy cảnh vì riêng hộ giới cấm thân miệng. Hộ căn là nhiếp chung sáu căn vì chế các căn. Định cộng và thiền định đều phát, đạo cộng dứt hoặc chứng đạo đồng thời được. Trên hai tán nghiệp, ba là định nghiệp, bốn là vô lậu nghiệp, y cứ giới chỉ có ba ngôi, hai thứ trên đều được giải thoát riêng. Nhưng y cứ trong ngoài cả hai đều chia thô tế, oai nghi chung phàm thánh, đạo cộng chỉ cuộc hạn ở Thánh. Trong hai tướng thông cuộc có thể biết.
Khoa kế, ban đầu phối hợp bốn giới với ba ngôi. Ngoại phàm tán tu quán sự, chưa duyên đế lý vì không có thật đức cho nên gọi là giả danh, tức năm pháp quán dừng tâm, tổng, biệt tướng niệm và bạc địa phàm phu. Nội phàm phần nhiều ở định tâm, duyên theo cảnh bốn đế, chưa thấy chân lý nên gọi là hòa hợp, Tức Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất. Sơ quả trở lên chứng lý chân đế gọi là chân thật tăng. Chữ đức trở xuống là kế y cứ ba vị, nói lên hơn kém, trước kém sau hơn, giữa chung cả hai. Cho đến là lược bỏ định cộng, hai giới nội phàm lại phải chia ra. Môn kế ban đầu dựa vào bốn Thánh để chia đạo cộng, tự có hơn kém. Tam quả nghĩa là người ở ba quả vị, so sánh tiệm, liệt. Xí là mong ngóng, trông trên tiến cầu vì đức chưa tròn. Kế trong nội phàm, hai giới chung cho bốn người, Thế Đệ nhất là hơn, Noãn vị là kém, trong hai có thể biết. Ngoại phàm oai nghi ba vị cũng vậy, nếu y cứ luận chung chỉ có Vô học là hơn. Ngũ Đình rất kém, chín vị ở giữa có thể so sánh mà biết.
Hỏi: Hai môn đều nói nhân pháp, làm sao lấy riêng?
Đáp: Trước là y cứ vị để bày pháp, sau là y cứ nơi vị mà chia nhỏ.
Môn thứ ba trước chung phàm thánh, bốn pháp vì nói, ở đây cuộc hạn hạ phàm riêng thoát để nói về giải thoát riêng. Lại bốn, năm, tám đối với hai chúng tại gia, mười giới là đối ba chúng sau, giới cụ túc là đối với hai chúng tăng ni y cứ thể bốn vị tuy đồng y mà cứ người bảy chúng là khác, trước kém sau hơn, chặng giữa có thể biết.
Trong bốn, trước chung cho đạo tục. Chữ thử trở xuống là bảy môn y cứ văn, tuy y cứ chung nghĩa ở đạo, trong văn chia làm hai: Ban đầu y cứ lỗi phạm nặng nhẹ, hai y cứ năng trị khó dễ. Khoa đầu nói thiện tâm lại y cứ trị dâm, còn bao nhiêu đều y cứ theo loại, lìa hạnh nhiễm tịnh là quán bất tịnh. Tâm bất thiện là cầu danh tiếng lợi dưỡng, quả báo vui cõi người, cõi trời. Nhưng trong lời tựa giới, thì nói danh dự, lợi dưỡng, chết được sinh lên cõi trời, kia gọi là trì giới, thầm cảm đúng sai, ác cầu, vô ký lại nêu ngủ cuồng. Không duyên theo lành dữ, thiếu vâng giữ đều thuộc về vô ký. Khoa kế, hai câu trên là bày hơn kém. Nói tác trì, tác là tâm hành khởi hộ chung gồm hai trì (xưa cho tác trì một hạnh, giải thích đó là danh thì lầm) nghĩa là chấp tâm tác so sánh có ba phẩm hơn kém, thiện tâm là thượng, bất thiện là trung, vô ký phi nghiệp là hạ. Chữ nhược trở xuống là hiểu đồng, dùng ba tâm y cứ nghiệp hơn kém thành khác nhau, hai trì cứ chế thuận giáo, không khác.
Trong sáu, bốn thứ đều y cứ nêu tâm kỳ hẹn, nên gọi là phần
chừng. Trong trước kém sau hơn hai cái rất dễ hiểu, nếu nói về nghiệp hạnh, ban đầu nghiệp bất thiện và nhân bốn đường, hai ba đời thiện, người trời chia ra. Bốn, nghiệp vô lậu là nhân gốc của ba thừa. Ban đầu cho là tà siểm mong có lợi như giặc, đối với giáo không trái cũng gọi là trì giới. Thứ hai nghĩa là thường sợ tội báo không riêng chỗ cầu. Thứ ba, y cứ bài tựa giới. Thứ tư y cứ lời tựa của luật, các lời tựa kia nói rằng trừ kiết không quái ngại, ràng buộc do đây mở. Đây rõ phàm phu bẩm trì riêng thoát, xa có thể hướng đến quả, chẳng phải định đạo giới.
Trong thứ bảy, phiền não trọng xử vì người thiện ít. Lại do khổ ép ngặt tâm quyết mạnh đầy cho nên riêng hơn, hai thứ khác yếu kém vì phiền não nhẹ, châu phía Bắc là nan địa cho nên không luận nói. Kinh chép rằng: châu Thiệm bộ ở phía Nam một ngày một đêm phát tâm tu hành hơn Châu Thắng Thần ở phía Đông và châu Ngưu Hóa ở phía Tây năm mươi tiểu kiếp.
Trong thứ tám, ban đầu nêu trước sau tức y cứ thời. Kế là giải thích có hai: Trước y cứ ở diệt để luận, sau ước ba thời mà nói. Chánh pháp ngàn năm đủ giáo, lý, hạnh, quả. Tượng pháp ngàn năm thiếu quả. Mạt pháp muôn năm thiếu hạnh và quả, căn cơ con người càng ô trược, dần kém có thể biết. Chữ dĩ trở xuống là dẫn chứng Truyện Phó Pháp Tạng. Tổ sư thứ năm độ người đã nhiều, người gọi Ngài là Phật không có tướng tốt, (hành hóa đồng với Phật, chỉ không có tướng tốt) Quật-đa ý cho là đồng với Phật. Bấy giờ, có vị Ni già thấy Phật lúc còn tại thế, có nhiều việc thường đến hỏi. Vị ni kia trước lấy đồ dùng đầy dầu để sau cánh cửa, Quật-đa vào phong làm nghiêng đổ vài giọt dầu. Quật-đa hỏi vị Ni ấy rằng: “Khi Phật ở đời sự giáo hóa có giống ta chăng?”, Ni đáp “Phật ở đời, nhóm tỳ-kheo sáu vị mấy lần vào phòng tôi mà chưa hề làm đổ một giọt dầu. Nay Tôn giả không bằng sáu vị”. Sao nhiếp ý kia như văn nói rằng: Quật-đa cũng là Cúc-đa.
Trong thứ chín, y cứ tội thì tánh mạnh giá yếu, y cứ trị thì già hơn tánh kém, cho nên nói là lẫn nhau.
Trong thứ mười, thiên tụ y cứ hai ý trên xen luận hơn kém. Thứ hai, trong phạm mười môn thì môn đầu là ba sơ học, vô học đối nhau, bậc Vô học kiến tư hoặc đã hết nên không cố phạm, sự tập chưa quên nên cho cho có sai lầm. Tam quả tàn dư chưa hết cho nên có cố tâm (hai vị trên chỉ phạm già giới). Sơ quả và Nhị quả dục hoặc chưa hết cố tâm phạm tánh giới, nhưng không tạo cho người, lại không kết nghiệp, không chịu tổng báo, có khác với phàm phu (Tu, Tư hai Ni do oán ng- hiệp ép ngặt thọ vui như thọ giới dẫn). Văn nói rằng ba quả cũng chỉ
cho ba vị.
Kế y cứ Thánh phàm đối với nhau, bậc Thánh thấy lý nghiệp không nhóm. Nội phàm chưa chứng, hoặc còn đầy đủ. Ba y cứ trong ngoài đối nhau, cho đến là hợp nói rằng: Trong ngoài thấy một phần chân lý, sức mạnh định tuệ cho nên nhẹ. Ngoại phàm chưa duyên đế lý, sự hành đạo kém cho nên nặng. Trên y cứ bốn vị đối nhau, tóm lại vô học là kém nhất, Ngũ đình tâm là hơn hết, chặng giữa thông suốt nhau, y theo trước sẽ hiểu. Trong văn lại y cứ hạnh vị cho nên đến ngoại, lại chung bạc địa rất là hơn.
Trong thứ hai, ban đầu chỉ tác ấy là y cứ tâm đối sự, dưới cố lầm là chỉ y cứ tâm mà nói, gồm cả hai phạm ở trên đều chung cho hai tâm.
Trong thứ ba, chỉ cho trước tức trong thiên hạ bất thiện là hơn, tâm thiện là kém, vô ký rất là kém.
Trong thứ tư, chỉ thiên tụ, phần phạm giới trước nặng cho nên là hơn, phạm oai nghi sau là nhẹ cho nên là kém. Lại nữa, gồm y cứ thiên tụ, Ba-la-di là hơn, Đột-cát-la là nhẹ, (trang 337) đối nhau có thể hiểu.
Trong thứ năm, phạm già tội là nhẹ, nhưng trái chế giáo phạm tánh tội là nặng, chế nghiệp đều trái, chỉ có Trí Luận văn thấy ở thiên sám.
Trong thứ sáu, chỉ trước trì là Phật còn ở đời căn cơ lanh lợi thì phạm tội (nhẹ), sau khi Phật diệt độ lần lần ô trược phạm nặng. Ba thời đối nhau, nặng nhẹ cũng vậy (y cứ vào ba phương, phương nam hơn, hai phương kia kém).
Trong thứ bảy nêu, nghĩa là tâm cảnh đối nhau hoặc hiển bày hơn kém lẫn nhau.
Trong dẫn luận, ban đầu y theo văn chỉ bày chung, do tội nhờ duyên, thành duyên tức tâm cảnh. Cảnh là duyên ngoài, cho nên nói là gá. Tâm là duyên trong cho nên nói là quan. Tâm khởi không thường nên có tăng thêm, cảnh duyên chẳng phải một cho nên có hơn kém. Chữ hoặc trở xuống nhiều câu phân biệt, câu đầu là hơn, hai câu sau có hơn kém lẫn nhau, nghĩa lấp đều xếp vào một câu, như phi nhân mà nghĩ là súc sinh hay gốc cây. Chữ luận trở xuống là điểm văn luận ở trên, lời chung cho thiên tụ. Câu giữa vả lại y cứ giới sát để bày tướng cho nên riêng trải qua bốn tội nặng, các thứ khác nêu chung.
Trong giới dâm, câu đầu nêu chung, chữ súc trở xuống là phân biệt riêng có bốn: Câu đầu phân biệt khác loại, lẽ ra thêm phi nhân. Kế là đối với súc sinh và người phân biệt đạo tục. Ba là trong đạo tục phân biệt riêng trì giới phá giới, tại gia lại phân biệt không giới, có giới.
Trong trì giới lại có nam nữ năm giới, tám giới. Xuất gia trước phân biệt năm chúng, đại tăng là nặng nhất. Trong năm chúng đều có trì và phá. Bốn, là trong trì lại phân biệt thánh phàm, bạt địa trì giới, ngoại phàm trở lên cho đến Vô học, lăng nhục tội rất nặng. Câu cuối nêu chung, trọng đồng với chế tội, dâm không phân biệt cảnh đều phạm tội Ba-la-di. Báo khác nghĩa là nghiệp đạo, nghiệp có hơn kém, thọ báo
khác nhau. Sau ba chế quả báo đều khác, rất dễ biết.
Trong giới trộm thứ ba, đầu tiên phân biệt đường cũng nên thêm súc làm đầu. Trong hai người, phân biệt thánh phàm. Ba là phân biệt Tam bảo, Phật nhẹ, pháp kế đó, Tăng nặng, như giải thích tướng đã nói. Trong ba, dẫn luận chỉ phân biệt tà chánh người nhẹ, kiến nặng. Vả lại y theo cứ nghiệp mà nói, không theo chế giáo. Y cứ nghĩa cũng nên y cứ các đường, đạo, tục, trì, hủy, phàm, Thánh phân biệt, văn lược không nêu ra. Cho nên giết A-la-hán, làm thân Phật chảy máu đều là tội nghịch, há chẳng phải nặng hay sao? Lục Túc, Tỳ-đàm, Thành luận tự chỉ Lục Túc, là tên khác của luận. Bảy luận chung thành một bộ, một thứ sau là luận phát trí làm thân, sáu luận kia như chân (phân biệt Phật Tỳ-đàm và Bà-sa, Tạp Tâm đồng Tỳ-đàm).
Trong thứ tư, ba đường đồng trộm, người thì trái lại, như văn có nói. Lại trong năm chúng xuất gia cho đến bậc Thánh, tiệm khinh rất dễ hiểu. Nếu như Ngũ Phần, trong Tăng nói dối nặng hơn trước trăm vị A-la-hán, cho nên biết dối tăng tội rất nặng.
Bốn món trên chỉ nêu ra hơn kém của cảnh, tâm theo cảnh cho nên khinh trọng rất dễ biết. Nếu y cứ xem luận như trước câu tác, tất cả đều thông hiểu.
Trong thứ tám là nêu, chế y cứ luật mà phán, báo y cứ hóa ng- hiệp, hoặc đồng hoặc khác, cho nên phải phân biệt, tùy y cứ nặng nhẹ để chia hơn kém. Bốn câu đều xuất xứ từ Mẫu luận, câu đầu chia làm hai: Trước nêu giới chỉ bày tướng, thứ hai là dẫn luận để chứng thành (hai thứ sau đồng với ở đây). Ngăn ác chế tàn cho nên biết khác nhau, thiên sau đào làm hư hoại, ở đây nói rõ. Văn luận, hai câu trên chứng minh phạm tăng tàn, câu trên chỉ bày khác, vì khác nghiệp lý, câu dưới giải thích khác. Hai câu sau chứng minh vời lấy quả báo, câu trên chỉ bày khác, vì khác chế giáo (mắc tội tức là nghiệp nhân ngày nay, vì có công năng vời lấy quả báo, nên nói là báo khác. Xưa nói rằng: “Tương lai mắc tội”. Pháp khác tức cho báo là tội, rất sai lầm).
Câu dưới giải thích khác, quả do nhân mà có, nhân là tâm nghiệp, chẳng quan hệ gì với chế giáo. Câu kế, ban đầu là nêu, chữ như trở
xuống là giải thích chia văn, đồng với đánh Tỳ-kheo v.v... đồng với giết súc sinh, các loài côn trùng ở trên. Văn luận chia giải thích làm hai cũng đồng với trên. Trong ba nêu rõ hai câu, ban đầu gồm bày câu trên, vì thiên đầu dễ hiểu, chỉ nêu thiên kế, lậu lỗi, dục nhiễm, hai lần phỉ báng, hoại chúng, hai món thô, bốn can ngăn. Thiên sau tánh nghiệp lệ cũng đồng đó. Câu dưới có hai: Trên là vô ký, dưới là y cứ tâm lành. Dưới đây hợp chứng, tức chế giáo và nghiệp đạo cả hai đều đồng.
Trong nêu của thứ chín, khoa trước là đối cảnh, ở đây nói riêng về tâm, cho nên nói là đơn. Ba thời: Ban đầu là thời phương tiện, thứ hai là thời căn bản, thứ ba là thời thành xong. Như sinh thiện là chỉ bày đã nêu ra, vả lại y cứ sát sinh còn bao nhiêu có thể y cứ mà biết. Tâm niệm không thường trước sau đủ không nêu ra tám câu, bao gồm hết cả. Câu đầu chỉ bày tướng trọng của ba tâm, vưu là dạy kỹ, nhưng chẳng phải rất sâu tức là tâm khinh, nhưng rất khó rõ, phải lược nêu tướng, chỉ y cứ khởi tâm, niệm niệm không đứt đoạn, sắc tâm tháo động buồn phiền không biết hổ thẹn, với người gần bên, thần tư hôn mê đều quên việc lành, chạy theo cảnh trước buông lung theo tình mình, hai tà kiến ở trong lòng, bác không nhân quả, hướng về người thân làm việc dơ uế, đối tháp điện làm chuyện trái khuấy, tất cả sự dụng tâm nầy đều gọi là định nghiệp, có công năng lôi kéo quả báo, dầu sám hối vẫn không mất, do đây tự lượng đâu cho khinh động, kẻ thức tâm há không sợ ư? Số câu trong văn giao kết muốn giúp cho người mới học dễ hiểu nên làm bản đồ chỉ bày:
1. Một câu            - Phương tiện        } nặng
ba thời                  - Căn bản                - nặng
đều nặng (trọng)  - Thành rồi             - nhẹ
2. Ba câu              câu          -Phương tiện- nhẹ
mỗi câu có            đầu          - Căn bản         -nặng
hai nặng                                - Thành rồi      -nặng
một nhẹ               câu             -Phương tiện- nặng
                            giữa            - Căn bản     - nặng
                                               - Thành rồi   - nhẹ
4.    Một câu     Phương tiện}
       ba thời       Căn bản       }  nhẹ
       đều nhẹ     Thành rồi     }

Nếu dùng bốn vị để chia, câu trên là hơn hết, câu dưới kém nhất, câu giữa chung cả hai. Nếu nói theo tám câu thì mỗi câu giáng nhau, chặng giữa hai vị đều có ba câu và y nặng nhẹ thứ lớp nêu bày, so sánh tự thấy. Trong thú tư, dẫn các kinh luật nêu sự hiển tướng, dầu ôm lòng thương xót chẳng phải không ý giết, đều nhẹ rất dễ biết.
Trong phần hội thông, ban đầu chánh là nói rõ, nghĩa là nếu y luật chế thì không có nặng nhẹ, (trang 338) nay lấy tâm nghiệp cho nên chia ra tám câu. Sau dẫn chứng luật y cứ chế tội, người nặng súc nhẹ, luận y cứ tâm nghiệp súc nặng hơn người.
Trong phần nêu của môn thứ mười, có tâm chung cả nhẹ nặng, không tâm là khác với trước, lịch câu đều đồng.

1.    Một câu          Phương tiện}
       ba thời            Căn bản       } có
       đều có tâm     Thành rồi     }
2.    Ba câu          câu         Phương tiện} có
       mỗi câu          đầu       Căn bản       }  không         bốn giới
       hai có                          Thành rồi     } không         đều nặng
       một không      câu       Phương tiện - không         bốn giới
                              hai       Căn bản        - có                 đều nặng
                                          Thành rồi      - có
                              câu       Phương tiện   - có               giới đầu nặng hơn
                              ba        
Thành rồi       - không         giới kia phương tiện
                                          
Căn bản         -không          tội Thâu- lan- già
                                                                                       thành rồi tội
                                                                                       Đột- cát- la.






 
3. Ba câu       câu               căn bản                      có                 bốn giới
mỗi câu          một              phương tiện               }không          đều nặng
một có                                thành rồi                     }không
hai không      câu                phương tiện               có                   giới đầu nặng hơn ba
                      hai                 căn bản                      }không            giới kia, phương tiện tội
                                             thành rồi                    } không           Thâu- lan- giá
                      câu                 phương tiện               }không            giới đầu nặng hơn ba
                       ba                  căn bản                     }không            giới kia, thành rồi tội
                                             thành rồi                    có                    Đột- cát- la
 4. Một câu                          phương tiện                    không
     ba thời                           căn bản                          không
     đều không                     thành rồi                        không
Giới dâm ép ngặt, cấm tâm ba giới, trước sau mê mất, nghĩa hơn kém cũng như trên đã nói. Nếu tám câu đối nhau, chỉ dùng trong ngôi thứ hai câu sau ở dưới. Trong ngôi thứ ba câu đầu ở trên, thì nghĩa thứ lớp tiện hơn.
Hỏi: Câu sau không tội đâu gọi là phạm kém?
Đáp: Chỉ y cứ giáo mà khai cho nên không có tội, chẳng phải không gây ra việc cho nên xếp vào phạm.
Trong phần dẫn bày, muốn bày môn nầy có chỗ y cứ. Vốn khởi niệm tức thời phương tiện, thời chánh vọng biết tức là thời căn bản, nói rồi liền là thời thành rồi, như trong tiểu vọng có dẫn đủ. Trong khoa phân biệt, ở đây y cứ chế giáo. Văn kế, đầu tiên là nhắc lại ở trước, đối khinh trọng ở trên, cho nên nói là sau rõ (hoặc có thể riêng điểm thứ ba đều không). Chữ hoặc trở xuống là chỉ bày tướng, câu đầu phân biệt riêng giới dâm, môn nầy nói về dâm, và y cứ oán thù ép bức ba thời có không. Nếu theo tạo cảnh tự thì liền phạm, không theo ba thời, cảnh tưởng không khai vô tâm cũng nặng, cho nên chẳng phải chỗ đáng nói. Chữ cập trở xuống nên chỉ bày ba giới, y cứ chung tâm mê không rõ cảnh trước. Lại giới dâm trong ba thời hễ có một thời, thảy đều là nặng, đều không phương khai, ba giới kia nặng nhẹ không nhất định, cái đầu có, còn cái khác thì không. Không Đột-cát-la, hoặc Thâu-lan-già đều là phương tiện, cho nên ở giữa có, còn cái khác thì không, đều là nặng, và căn bản cho nên sau có còn cái khác không, đều tội Đột-cát-la và tùy
hỷ cho nên gồm y cứ mười môn: Hai, ba, bốn, năm, mười đều y cứ chế giáo. Một, sáu, bảy, tám đều chung với hóa chế. Thứ chín chỉ cuộc hạn hóa giáo, cứ như vậy mà tìm.
Môn thứ bảy, năm chương giáo nghĩa cùng nhóm họp ở một môn, nên nói là tạp. Trong phần nêu, đầu tiên là phạm chung, tội nhánh nhóc bao gồm tất cả. Sau đều phạm riêng, nhân quả khác nhau. Hai là phương tiện. Ba là căn bản. Bốn là phân biệt nhân, quả, nặng, nhẹ, có, không. Ba khoa nầy nghĩa chung sự riêng. Trong thứ năm tạp, lại tạp dùng nghĩa trì phạm, rộng không thể bày đủ, cho nên xem các mục gồm nêu môn sau, kia chỉ bày không hết.
Trong không học, hai câu đầu nêu bày nạn giải ý. Khiến học là dụng công tinh cứu. Hai câu sau chia chương, tức hai khoa sau. Trong phần nêu kết, câu đầu nêu chương, chữ vị trở xuống là giải thích nghĩa. Trước rõ học là khai mê, chữ nhược trở xuống là chánh nêu không học kết phạm. Trong phần đầu, văn chia làm bốn tiết: Câu đầu chỉ bày kia theo trước, câu kế nói về đạt giáo, chữ ư trở xuống hai câu là nói tùy hạnh chứa mê; câu trên là duyên cảnh tâm khác nhau, câu dưới là đối trị sức kém. Chữ tùy trở xuống một câu là chỉ sở duyên khai phạm. Trong luật, sau các giới có cảnh, tưởng, cú, pháp, đã khai căn bản cho nên không có nhánh nhóc. Không thể học mê, cứ đây mà lập, như môn thứ tư đã nói.
Kế trong phần chánh nêu bày cũng có bốn: Câu đầu giống ở trước, ba câu khác trái với trên, do vì theo. Câu kế là ngu giáo. Thứ ba nghĩa là hạnh trái, tố đã không biết cho nên không nói mê. Chữ Phật trở xuống là dẫn y cứ.
Hỏi: Thế nào gọi là học?
Đáp: Học có hai: Một là giáo, hai là hạnh. Giáo để chiếu hạnh, hạnh để theo giáo, vì vậy tìm văn thì gọi là học, cho nên sớ chép: “Phật lập giáo tướng chỉ nên vâng làm”, nếu chỉ đọc tụng chẳng phải bổn ý, như giới gọi là chúng học, đâu chỉ đọc văn ư? Lại nếu hạnh luống dối thì không gọi là học, dầu cho vâng giữ vẫn không khỏi lỗi. Sớ chép: “Nếu ở hai trì tuy không trái ngược mà chẳng rõ thì không gọi là phước.
Biết học, chỉ là xứng giáo tu hành, giáo hạnh theo nhau mới gọi là học. Còn như Nhan Uyên hiếu học, không bỏ giận thì không có hai lỗi, Dương Hùng bàn học hành là kế trên lời, nhà Nho còn vậy, huống chi giáo pháp siêu đời cứu tục mà chỉ lấy văn tụng cho là học ư? Ngày nay học luật, giải không hiểu hạnh không quán buông tình tạo lỗi đâu không hổ thẹn, liền cho ta là người có học, khỏi không biết tội, đây là
tội dối mình đâu thể khỏi tội. Lại kiêu căng ỷ lại, ta dầu phạm lỗi ng- hiệp cũng chẳng nặng, giống như chén thiếc có thể nổi trên nước, đây lại không nghe Tịnh Tâm Giới Quán chép: “Biết mà cố trái tội nặng hơn người không biết”. Nay muốn hiểu cú pháp ở sau thì phải y theo luật chia tướng, nhưng từ khi hạ đàn đến nay hẹn tâm trì giới, chuyên nương phép tắc, tham hỏi lãnh thọ giáo pháp, hết lòng giữ gìn không dám dối trái thì gọi là Học.
Hai, là người mới học tuy học chưa thông như thuyết đốn tiệm (trên hai nương ba học thứ lớp mà học).
Ba, chưa học nghĩa là cần cầu đạo quả hẹn sau tu tập. Luật như hủy Tỳ-ni không phạm chỗ khai (ở đây khai cho không thứ lớp học). Như trên ba người một bề không kết, không học không biết. Kế nói không học cũng chia ba loại: 1/ Mới xuống đàn tràng, hoặc tích lộn thế tục, hoặc học vượt tông khác, hoặc lễ tụng các nghiệp, xem thường giới luật, đều không biết như văn đã nêu; 2/ Tuy học tập nhưng không vâng giữ, mắt thấy, tai nghe, tâm trái, hạnh ngược, biết mà cố phạm, đời mạt pháp phần nhiều là vậy, theo văn sớ trên không gọi là Học; 3/ Trước hiểu vâng giữ, tâm không bền chắc, giữa chừng lại bỏ lại là không học.
Ba khoa nầy tất cả sự pháp hễ có mạt pháp nào không rõ, hoặc trì hoặc phạm đều kết hai tội, như đây cách lượng phần thô đường tắt. (Trang 339)
Hỏi: Dưới khai cú pháp là người học hay là không?
Đáp: Khoa nầy chánh nói về không học, không biết kết phạm giới hạn, người học một bề không tội đâu dùng cú pháp mà phân biệt. Xưa nay chương ký nêu người học và không học tham nhau mà nói truyền mê lâu xa, thấy đây tốt là một ngộ.
Trong lệ khai, khoa đầu, câu trên kết trước, câu kế sinh sau, tội tướng xen lẫn, phi cú chẳng biện nên nói là cần. Chữ kim trở xuống là chỉ bày chỗ lập, nêu rằng nay là lựa các Sư xưa vì cú pháp khác. Hai cái chín câu nầy là thể trạng năng sở đối nhau mà luận, sở thể có hai, tức sự và pháp, dưới pháp sự đều kèm theo tướng phạm, năng thể có ba: 1/ Biết; 2/ Nghi; 3/ Không biết, do ba tâm nầy trải qua sự, trải qua phạm đều có ba tâm, giao kết xen lẫn thì thành chín câu (trong pháp cũng vậy) tức trên sự phạm tâm chứa mê mờ điên đảo lại là chín câu, hai cái chín câu nầy bao trùm tâm cảnh, dùng tất cả trần sa sự pháp để xem xét tâm hạnh, thảy đều thông đạt, sự pháp vô lượng hai lần chín khắp gồm kiểu mẫu nhất định, nên nói là phép tắc.
Chữ thả trở xuống là nêu chung y cứ một việc, nghĩa là nêu chút xuất pháp chẳng nhất định một việc. Chữ như trở xuống là chỉ trì tác phạm. Lược nêu sát, trộm, tác trì chỉ phạm chỉ dẫn ngăn ngừa chứa dư. Chung cho các giới là giới tướng môn khác nhau, cú pháp đều thông, do thông suốt riêng. Chỉ trì là trong nêu có không, biết thì đều không nghi, đến không biết đều có. Nhẹ, nặng có hai:
1-Không học là nhẹ, không biết là nặng. Lại trong phần không biết, tâm nghi là nhẹ, không biết là nặng. Trong có thể học khoa đầu, câu đầu nêu vị, câu kế gồm bày, trên dưới nêu câu làm bản đồ để chỉ bày:
Phẩm thượng một câu, biết sự biết phạm (không tội).
Phẩm  1. Biết việc.   Nghi phạm, hai tội Đột- cát- la
trung   2- Biết việc.   Không biết phạm, một Ba- dật- đề, một Đột- cát- la
bốn     3- Biết phạm  Nghi sự, hai tội Đột- cát- la
câu     4-  Biết phạm.   Không biết sự, một Ba- dật- đề, một Đột- cát- la

Phẩm   1-Nghi sự, hai tội Đột- cát- la
hạ         Nghi phạm, hai tội Đột- cát- la
bốn       2- Nghi sự, hai tội Đột- cát- la
câu        Không biết phạm, một Ba- dật- đề, một Đột- cát- la
             3- Không biết sự, một Ba- dật- đề, Ngi phạm hai Đột- cát- la
             4- Không biết sự, một Ba- dật- đề, một Đột- cát- la
                Không biết phạm, một dật- đề, một  cát- la
 
Trong giải thích, chỉ nhắc lại không biết phạm hay không phạm v.v… nói chung sự phạm, do hai môn chỉ tác tất cả sự pháp tùy theo một sự pháp nào đều quyết gồm nơi phạm. Vả lại, như giới dâm, phạm ha- nh bất tịnh với súc sinh, v.v... tức là sự, Ba-la-di gọi là phạm, cho đến chúng học “Mặc nội y ngay ngắn” là sự, nên phải học là phạm. Ở đây y cứ mà nói chung, nếu y cứ nói riêng, một trong giới dâm tự tạo oán
thù ép ngặt, phương tiện nặng nhẹ cảnh tưởng khác nhau, các thứ tướng riêng, đều gọi là sự, pháp cũng như vậy. Ở đây biết sự pháp nên có không cùng, phạm thí không nêu ra sáu tụ. Phạm gọi là không phạm, như làm hư thai người và dụng cụ sát sinh, v.v… gọi là không phạm.
Chữ thử trở xuống là có không phạm gọi là phạm, như trộm vô chủ gọi là phạm Ba-la-di. Khinh gọi là trọng như trộm vật của chuột nói phạm trọng, v.v... cũng nên nói rằng mê trọng cho là khinh, như trộm vật của Tứ phương Tăng phạm Thâu-lan-già, v.v... Trong nghi có không, tức phạm không phạm cũng nên bốn câu, nhưng là nghi chậm chẳng phải hoàn toàn không biết, đến văn tự nói, tránh nhiều lại dừng.
Trong số tội, khoa đầu lại chia ra làm hai, trước bày riêng. Chữ thử trở xuống là phải tìm bản đồ để đếm, chú giải chia nặng ra nhẹ nói lên tổng số trên. Khoa kế, hai câu đầu nêu tông, nghĩa là đối cảnh giữ giới, không nói sự phạm tuy là nhánh nhóc, có phạm đối với căn bản gọi là trì. Trên dưới chia phẩm Giới Sớ gọi là ba phẩm trì luật. Chữ giai trở xuống là ngăn nghi, sợ thấy ba phẩm cho là nhiều việc, nên biết tùy chỉ một việc chín tâm khác nhau lại như dứt dâm, chín người đều hiểu, nhưng đối với kết tội có không, nhiều ít, cho nên chia ra ba loại.
Hỏi: Trong sớ đã nói rằng ba món trì luật, sao lại nói cú pháp chỉ có người không học?
Đáp: Tuy là không học đối cảnh (chỉ) dứt lỗi vốn không phạm tội nên gọi là trì luật, biết việc biết phạm tức đồng với người học, tinh trì không khác nên nói là phẩm thượng. Nhưng chín người nầy tuy cho có biết thảy đều dứt học, đều là người không học.
Hỏi: Trước y cứ trì giới để định người học, nay đã thành trì sao gọi là không học?
Đáp: Chẳng phải gọi là không học là một bề không trì, chẳng phải người học thường không phạm, nhưng đối với tâm học có tiến có dừng, nên chia làm hai.
Hỏi: Đã là không học thì đâu có sự phạm đều biết?
Đáp: Như trước đã nêu ba món không học, tự có thể rõ. Kế trong nêu không thể học, sự tội đều ba, tâm tức dùng sáu tâm đơn, nhưng xen lẫn nhau nên thành chín câu, đồng như trước rất đáng học, nhưng nêu phẩm thì khác. Phẩm Thượng ba câu (câu một là một câu phẩm thượng ở trước, hai câu sau là hai câu trước của phẩm trung ở trước). Phẩm trung ba câu (câu một là câu thứ ba của phẩm trung ở trước, hai câu sau là hai câu trước của phẩm hạ ở trước). Phẩm hạ ba câu (câu một là câu thứ tư của phẩm trung ở trước, hai câu sau là hai câu sau của phẩm hạ
ở trước).
 Phẩm        Biết sự, biết phạm
trung          Biết sự, nghi phạm, hai tội Đội- cát- la
ba câu        Biết sự, không biết phạm, một Ba- dật- đề
                  một Đội- cát- la

Phẩm       Nghi sự, khai mê. Biết phạm
trung        Nghi sự, khai mê. Nghi phạm, hai tội Đội- cát- la
ba câu      Nghi sự, khai mê. Không biết phạm,
một Ba- dật- đề,
                
một  Đội- cát- la

Hạ            Không biết sự, khai mê. Biết phạm
phẩm       Không biết sự, khai mê.  Nghi phạm, hai tội Đội- cát- la
ba câu     Không biết sự, khai mê. Không biết phạm, một Ba- dật- đề,
                
một  Đội- cát- la

 
Hỏi: Vì sao hai thứ chín nêu phẩm khác nhau? Đáp: Môn tác phạm tự nói.
Hỏi: Ở đây không thể học đã là mê mất đâu được có biết?
Đáp: Ba tâm giao kết, làm câu phải như thế. Thật ra thức tâm chẳng phải không thể học.
Hỏi: Trước nói rằng tùy giới cảnh tưởng khai cho người học, nay người không học do đâu lại khai?
Đáp: Văn trước nêu kết lại y cứ đại phán, không ngại, không học, y cứ nêu đồng khai. Nếu dùng nghĩa cầu thì mê sự không khác, nếu dùng văn làm chứng thì Nghiệp Sớ hiển rõ, gặp văn tự nêu, ở đây không phiền dẫn.
Hỏi: Cú pháp trước sau đều y cứ ba tâm, vì sao chia khác?
Đáp: Biết tâm là đồng, nghi và không biết thì khác, trước là mê giáo, sau là mê tâm.
Hỏi: Xưa nói rằng: “Trong phần nói rõ về tâm, thành có thể học” trong mê mất tâm cho nên không thể học, nghĩa ấy thế nào?
Đáp: Như trước có thể học, biết việc, biết phạm có thể rõ ràng, nghi và không biết thì chẳng rõ ràng, cho nên biết không phải như vậy. Lại tâm mê mất là không đáng học, đâu được mê mất mà thành đáng học, nghĩa cũng không đúng. Hai văn Sớ và Sao đều không có lời nầy. Nay chỉ y cứ sau chia hai món mê, cái chín trước gọi là mê đáng học,
cái chín sau gọi là mê không đáng học. Hỏi: Hai mê khác nhau thế nào?
Đáp: Mê trước là ngu giáo, mê sau là hôn đảo.
Hỏi: Mê của cái chín sau quyết phải trước biết, sau cho khởi mê, người học nên như vậy, người không học có nên hay chăng?
Đáp: Trước nói không học tự có hiểu, từ trước không hiểu cũng cho có mê, như có chủ, không chủ, nghĩ là người, nghĩ là phi nhân, gặp việc liền sinh, đâu đợi học trước, như vậy mà suy nghĩ.
Trong phần nêu tội, trước chánh nêu. Xét bản đồ trước văn đối nhau rất dễ hiểu. Ba câu đầu đều không tội cho nên chỉ hai câu sau. Nghi không biết khác là bày phạm. Hai tâm ở trên đối với sự là gồm cho nên phạm nói là “khác”. Chữ diệc trở xuống là kết bày, nghĩa đồng nêu ở trước.
Trong sự khai, khoa đầu chỉ rõ việc khai, y theo Sớ đọc rằng: “Tội có thể học”. Nếu có người mê đều kết tội kia, kia thì đủ rõ phạm kết. Lại nói rằng do không biết sự cảnh chẳng đáng học (khai việc) không ngại nơi phạm vì là đáng học (kết phạm). Có đây rõ y cứ đâu còn nghi gì.
Hỏi: Một bề đồng là mê sao khai kết khác nhau?
Đáp: Sự là hiện đối, tạo tu tâm tưởng nên sinh sót mất. Phạm là duyên thầm, giáo tướng có mê vẫn là không biết. Dầu khiến trước đã học thông lại chế tâm sau rơi vào biếng nhác, rõ ràng Thánh ý chắc không luống dối.
Có người nói chín câu trước kết cho người không học, chín câu sau khai cho người học, do người không học trước đã không học, không mê mất lại khai phạm mười hai tội trên. Nay cho là người học sống đáng học, mê còn không kết tội, đâu được mê mất mới muốn khai tội. Lại nếu khai mười hai tội thì cú pháp đều không có tội, dụng lập vì đâu lại có người nói rằng này là mê tâm không mê giáo, người học cần ở trên sự buông mười hai nhánh khác, trong đây thuận xưa lại nói sự khai pha- m kết. Nếu Sư ngày nay dùng tâm mê trông đó thì sự phạm gốc nhánh đều buông, đâu có sự khai phạm kết?
Vả lại, tội là Phật chế đâu được do ông mà tự buông? Lại Sớ Sao đều nói sự khai phạm kết, ông lại công phá đâu không trái lời Tổ dạy? Lại nếu cho đây là thuận xưa thì trong môn tác phạm nói mười hai tội, văn rất rõ đều nên là xưa, thì một môn nầy đều không có nghĩa nay. Văn sau dặn rằng: “Có biết gương hay chăng? Há khiến là gương xưa”, than ôi! Dạy học ở đời phần nhiều tập mê xưa chỉ việc chấp văn, đâu
suy nghĩ khai ngộ tự duyên gốc lành xưa lạm nhiễm Tổ thừa, thô có thể khảo xét, xưa nay phân tách quyết có thể chăng? ?? hình bút mực đều là đúng sai, tuy đều theo nhau mới có thể nghiên cứu cho nên ở đây đều lược bày, vẫn hổ thẹn là nhiều lời, có tin chăng? Tướng trì phạm thật sâu chẳng học thì không biết, sự nhỏ nhiệm sâu kín, chỉ là nêu tháng cũng không nói hết, quyết muốn thông suốt rõ ràng, trọn phải đích thân tham khấu.
Trong câu hỏi đầu, y theo cảnh tưởng của luật vặn hỏi sự khai ở trên, ban đầu khởi vốn mê tâm, sau mới giải thích. Nói luật kết không tội là cảnh khác tâm sau luật không kết. Cũng chỗ phạm là y cứ giết phi nhân, vì truyền nhau phạm cát-la. Trong phần đáp, ban đầu bày lý do có không. Nói tâm phạm, vì có tâm giết phi nhân, kết tội Đột-cát-la nhưng sau chánh đáp chung đến phần hỏi. Ban đầu y cứ căn bản chung cho sự khai ở trước, chánh tội là căn bản. Chữ mạc trở xuống là kế y cứ tội cảnh đáp trên có không. Kế y theo Giới Sớ chuyển tâm tưởng trước giải thích. Hỏi rằng: “Luật kết không tội, như giới trộm không có câu thứ ba, cũng chế phạm tức giới sát câu thứ ba kết Thâu-lan-già.”
Trong phần đáp, nói rằng: Kết tâm phạm, trước là tâm phương tiện. Chẳng phải tội cảnh là trước sau mê tâm. Cho nên Giới Sớ nói rằng: “Nhưng kia mê tâm đều không kết phạm”, đều y theo trước là tâm phương tiện mà nói (văn sớ), vả lại còn hai giải thích, người học suy nghĩ mà chọn. Trong phân biệt, do chín câu trước nghi và không biết vốn là ngu giáo, đều đáng học, nói mê đồng nghĩa khác cho nên đặc biệt phân biệt khiến không xen lẫn nhau. Pháp sự, pháp tức là phạm. Kế dẫn nạn có hai ý: 1/ Sư xưa trong môn tác trì không thông không đáng học, nay muốn y theo sự lệ pháp đều chung cho hai thứ chín. 2/ Rốt sau tác trì không nêu lại nữa. Muốn nói cú pháp khai kết lý đồng.
Văn chép: Nếu vậy tiếp duyên trước tội có vô nghĩa. Hai, phòng nhà xử phân đối với giới sát và trộm của thiên đầu, nên nói là sau. Giết, trộm chế việc dừng, xử phân cho tác pháp, nên nói là duyên pháp. Xử phân năm câu là cảnh tưởng, nên nói là chuyên pháp. Xử phân năm câu là cảnh tưởng, văn dẫn câu hai và câu ba. Không phạm nặng tức khai tưởng chuyển không đến nỗi chết. Nói cũng phải là so với trước không kết chánh. Chế tội, hai câu đều kết Thâu-lan-già. Hai chữ thế nào là chánh là lập nạn, ý cho là nếu nói duyên sát cảnh tội cho nên có phạm, trộm chẳng phải cảnh tội cho nên không phạm. Xử phân duyên pháp cũng chẳng phải cảnh tội, lẽ ra không lỗi, vì sao kết tội Thâu-lan-già? Đây thì duyên pháp không khai mê ư?
Trong phần đáp có hai: Đầu tiên bày môn nầy. Nói vả lại y cứ là chưa rảnh gồm nói. Chữ tất trở xuống chỉ cho môn sau, như chỗ dẫn là nương ý nạn ở trước. Đối pháp có hai thứ chín là đây hiển tác trì thông không đáng học, khác với xưa. Đã lập mê mất, so với môn chỉ nay khai kết không khác, đây thì luật chế Thâu-lan-già cũng là tiền tâm phương tiện, đến nơi mê tưởng đều không có lỗi (do người vọng giải cho nên đặc biệt giải thích, hoặc dẫn Giới sớ hỏi đáp, so sánh nhau mà không biết thế nạn kia đây tự khác nhau, đến đổi tìm cầu không do đâu hiểu được.
Trong tác phạm có nêu, y theo trước danh thể trì phạm đều nói đây luận về cú pháp, trì phạm ở giữa nêu là muốn nói lên cú pháp cùng giòng, trái tướng dễ hiểu. Trong đồng khác, đầu tiên chỉ đồng. Chữ đãn trở xuống là chỉ bày khác. Trong phần đầu nêu rằng: “Pháp sự, văn nhiều chữ pháp”. Nay do hai ý định kia truyền lầm: 1/ Nghiệm Sao trước sau chỉ trì tác phạm đều không nói pháp. Giới Sớ mới lập chưa thể nêu trước; 2/ So sánh chỉ trì ở trước cũng nêu sự riêng. Hai môn một thể đâu được trái nhau? Dùng đây để tìm cho nên phải chế rằng: (Hoặc có thể y theo trước, mục ở phạm pháp xưa làm việc ác hiểu là sai) Sợ người mới học khó hiểu lại vì nêu câu. Theo trong chỉ phạm, môn phạm cho tội nhiều là trên, có thể học chín câu lý nên đảo ngược mà nêu, nay chỉ đồng ở trước lại y theo trên mà nêu ra, không thể học chín thì không thông đảo, suy nghĩ rất dễ biết. Ban đầu có thể học chín câu:
Phẩm thượng một câu: - Biết sự biết phạm. Phạm căn bản không nhánh.
 Phẩm     Biết sự, căn bản. Nghi phạm, hai tội Đội- cát- la
trung       Biết sự, căn bản. Không biết phạm, một Ba- dật- đề,
bốn          hai tội Đội- cát- la
câu          Biết sự, Nghi sự, căn bản, hai tội Đội- cát- la
                Biết phạm. Không biết sự, căn bản Ba- dật- đề, Đột- cát- la

 
Phẩm       Nghi sự, căn bản hai tội Đột- cát- la. Nghi phạm hai tội
hạ           Đột- cát- la
bốn         Nghi sự, căn bản hai tội Đột- cát- la. Không biết phạm
câu         một dật- đề, một cát- la
              Không biết sự căn bản một Ba- dật- đề, mội Đột- cát- la. Nghi phạm hai
               Đột- cát- la

              Không biết sự căn bản một Ba- dật- đề, một Đột- cát- la.
             Không biết phạm một Ba- dật- đề một Đột- cát- la.

Phẩm       Biết sự, căn bản, biết phạm
thượng     Biết sự, căn bản. Nghi phạm, hai tội Đột- cát- la
                 Biết sự, căn bản. Không biết phạm,
một Ba- dật- đề
                 một Đột- cát- la.

Phẩm         Nghi sự, khai gốc nhánh. Biết phạm
trung          Nghi sự, khai gốc nhánh. Nghi phạm, hai tội Đột- cát- la
                  Nghi sự, khai gốc nhánh. Không biết phạm
                  một tội Ba- dật- đề,  một tội Đột- cát- la.

Phẩm         Không biết sự, khai gốc nhánh. Biết phạm
hạ               Không biết sự, khai gốc nhánh. Nghi phạm, hai tội Đột- cát- la

                   
/20
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »