LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 71
LUẬT DI SA TẮC
BỘ HÒA HÊ NGŨ PHẦN
SỐ 1421
( QUYỂN 1 30 )
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
SỐ 1421
LUẬT DI SA TẮC
BỘ HÒA HÊ NGŨ
PHẦN
Hán Dịch: Đời Lưu Tống, Tam tạng Phật Đà Thập
người nước Kế Tân, cùng Trúc Đạo Sinh.
QUYỂN 1
Phần 1: GIỚI PHÁP CỦA TỲ KHEO
Ðoạn 1: NÓI VỀ BỐN PHÁP BA LA DI
Từ
nước Tu-lại-bà, Đức Phật cùng Đại chúng Tỳ-kheo năm trăm vị đến ấp Tỳ-lan-nhã và trú ngụ trong
rừng cây. Ấp này có Bà-la-môn tên Tỳ-lan-nhã. Vua
Ba-tư-nặc phong cho ông ta ấp này nên mang tên
như
thế. Ông ta nghe Đức Phật là giòng họ Thích xuất gia học
đạo, thành bậc Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, thấu suốt hết
mọi tâm niệm của thế gian, khéo giảng nói chánh
pháp đầu, giữa, cuối đều mang đầy đủ ý nghĩa thiện, mùi vị thiện và hình tướng phạm hạnh
thanh bạch, cùng các đệ tử du hóa đến ấp này. Tỳ-lan-nhã rất đỗi vui mừng thốt nên lời: “Lành thay! Ta nguyện xin bái kiến Phật”. Lập
tức, ông ta cùng năm trăm quyến thuộc tiền hô
hậu
ủng đến nơi Phật đang cư ngụ. Từ xa trông thấy Đức Thế Tôn nơi rừng cây với ánh sáng đặc
thù, các căn đều tịch định, ông ta rất hớn hở,
xuống
xe đi bộ về phía Đức Thế Tôn, cung kính hỏi chào rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì ông ta thuyết giảng pháp diệu khiến
ông ta vui mừng vì lợi ích được chỉ bày. Từ tấm lòng hoan hỷ sau khi nghe pháp, ông ta liền bạch Phật:
- Nguyện xin Phật và Tăng chúng nhận lời thỉnh của con đến an cư ba tháng để con được cúng dường.
Đức Phật dạy:
- Đại chúng của Ta thì đông mà lòng tin của ông có khác, cách nhìn của ông có khác, niềm vui nơi tín
ngưỡng của ông có khác, liệu được chăng?
Ông ta bạch Phật:
-
Tuy lòng tin của con có
khác, cách nhìn và niềm vui có khác song đối với số chúng đông đảo của Thế Tôn thì không
can gì!
Được ông thỉnh mời như vậy đến ba lần, Đức Phật mới nhận lời. Từ
nơi chỗ ngồi đứng dậy, ông nhiễu quanh bên phải rồi cúi chào Phật ra về. Sau khi trở về nhà, ông cho chuẩn
bị đầy đủ phẩm vật cúng dường an cư.
Lúc
ấy, ma Ba-tuần nảy sinh ý niệm: “Nay người Bà-la-môn này thỉnh cầu Phật và Tăng chúng về an cư ba
tháng, ta phải gây độc hại làm mê loạn ý nghĩ của hắn”. Ma liền thực hiện ý đồ. Bị ma làm mê hoặc, người Bà-la-môn này
bèn lui vào trong nhà thọ hưởng dục lạc, ra lệnh cho người giữ cửa: “Ta nay muốn được nghỉ ngơi ba tháng trong khuôn viên nhà này, mọi sự việc bên ngoài dù xấu tốt gì cũng đều khỏi phải bẩm báo”. Ông ta hoàn toàn không nhớ đến việc thỉnh Phật và Tăng chúng.
Đã
một thuở, quốc độ này tin theo tà đạo nên khắp cả ấp chưa có một Tinh xá, giảng
đường. Phía Bắc thành có núi, có rừng, có nhiều dòng nước chảy trong lành, Đức Phật cùng đại chúng lấy nơi đây
làm chỗ an cư. Vào thời điểm ấy
gặp lúc mất mùa, khó tìm được nơi khất thực,
chư Tăng chia nhau vào các xóm để khất thực cũng không nhận được thức ăn gì. Cũng vào
thời điểm ấy, ở nước Ba-lợi có người lái buôn
ngựa,
đưa năm trăm con ngựa đi tránh nắng đầu mùa Hạ, thấy nơi ấp này có dòng nước mát và cỏ
tươi nên thu gom ngựa dừng lại nơi đây để cho chúng nghỉ ngơi ăn uống.
Đến
giờ khất thực, các Tỳ-kheo đến chỗ người chủ ngựa đứng im lặng (trong sự trầm mặc).
Người chủ ngựa với tấm lòng thanh tịnh tin Phật,
động lòng nghĩ đến các Tỳ-kheo khất thực không được, bèn từ tốn nói:
- Tôi có loại lúa cho ngựa ăn, nếu quý thầy có thể dùng được thì tôi bớt nửa phần, một thăng xin biếu quý vị, chắc có thể đủ nuôi sống
mà hành đạo.
Các Tỳ-kheo nói:
- Đức Phật chưa cho phép chúng tôi ăn phần lúa của ngựa.
Các
Tỳ-kheo đem sự việc này bạch Phật. Và nhân đó, Đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng rồi bằng nhiều cách, Ngài đề cao, khen ngợi hạnh thiểu dục, tri túc và nói trước các Tỳ-kheo:
- Từ nay về sau cho phép ăn phần lúa của ngựa.
Khi
đó, Tôn giả A-nan nhận phần lúa của Phật rồi nhờ người làm bún cúng dường Đức Thế Tôn. Các chúng
Tỳ-kheo trẻ thì tự giã nấu lấy để ăn.
Trong thời gian ấy, Tôn giả Mục-kiền-liên từ chỗ vắng lặng sinh ý
niệm: “Hiện nay trong quốc độ này việc khất thực khó được, ta nên cùng với các vị có thần
thông đến xứ Uất-đơn-việt lấy thức ăn bằng lúa
gạo
tự nhiên”. Với ý niệm này, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đến nơi Đức Phật đảnh lễ sát chân Ngài rồi đứng sang một bên, kính cẩn thưa:
- Bạch Thế Tôn! Trong con đã phát sinh ý nghĩ: “Hiện
nay, nơi quốc
độ này khất thực khó được, con sẽ cùng với các vị có thần thông đến xứ Uất-đơn-việt để lấy thức ăn bằng lúa gạo tự nhiên.
Đức Phật hỏi lại Tôn giả Mục-liên:
- Riêng các thầy thì được rồi, còn đối với các Tỳ-kheo phàm
phu thì giải quyết sao đây?
Tôn giả Mục-liên
bạch Phật:
- Con sẽ vận dụng thần lực để tiếp giúp cho họ. Đức Phật bảo:
- Đừng, đừng làm như vậy! Thầy tuy có được thần lực nhưng đối với
nhân quả của nghiệp đời trước thì bỏ vào đâu? Lại nữa, đối với phàm phu đời đương lai thì sao?
Tôn
giả Mục-liên ghi nhận lời dạy này của Phật, trong tư thế đứng im lặng sâu lắng.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất từ nơi chỗ vắng lặng, suy nghĩ: “Các Đức Phật trong đời quá khứ, phạm hạnh của
Đức Phật nào không được lâu dài? Phạm hạnh của Đức Phật nào được trụ lâu?
Sau khi suy nghĩ, Tôn giả Xá-lợi-phất bèn từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, sụp lạy dưới chân Ngài rồi đứng lui qua một bên, kính cẩn bạch Phật:
-
Trong
con đã gợi lên ý nghĩ: Các Đức Phật đời quá khứ, Đức Phật nào thì phạm hạnh không dài lâu?
Đức Phật nào thì phạm hạnh trụ lâu?
Bấy giờ, Đức Phật hết lời khen ngợi Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Lành thay! Lành thay! Ý nghĩa của thầy rất sâu xa, câu hỏi
của thầy cũng thật hay. Này
Xá-lợi-phất! Đức Phật Duy Vệ, Đức Phật Thi Khí, Đức Phật Tùy Diếp thì phạm hạnh không lâu dài. Đức
Phật Câu Lâu Tôn, Đức Phật Câu Na
Hàm Mâu Ni, Đức Phật Ca-diếp thì phạm hạnh lâu dài.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do vì nguyên nhân nào mà phạm hạnh của
ba Đức Phật ấy không được dài lâu, phạm hạnh của ba Đức Phật kia lại được bền vững?
Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Ba Đức Phật ấy không vì đệ tử giảng nói rộng chánh pháp,
không kiết giới cũng không nói Ba-la-đề-mộc-xoa nên sau khi Phật và đệ tử vào Niết-bàn, các đệ tử bao gồm nhiều chủng tộc xuất gia,
nên phạm hạnh nhanh chóng chấm dứt. Ví như trên chiếc bàn trải nhiều
loại hoa, đem đặt ở ngả tư đường, gió từ bốn phương thổi đến, hoa tùy theo gió mà bay tứ tản. Tại sao vậy? Vì không có dây buộc giữ nó lại.
Cũng vậy, này Xá-lợi-phất! Ba Đức Phật ấy không vì đệ tử rộng giảng nói chánh
pháp, không kiết giới, không nói Ba-la-đề-mộc-xoa, vì vậy phạm hạnh không
được lâu dài. Lại nữa, này
Xá-lợi-phất! Đức Phật Tùy Diếp cùng một ngàn đệ tử du hành đến rừng Khủng Bố, sở dĩ có tên gọi ấy là vì người
chưa lìa dục mà vào rừng này thì lông trong người đều dựng ngược lên. Ngài
đã vì đệ tử không dùng lời nói mà dùng tâm niệm thuyết pháp: Các
Tỳ-kheo nên nghĩ như thế này, không nên nghĩa như thế kia, nên suy tư như thế này, không
nên suy tư như thế kia, nên đoạn điều này, nên
tu điều này, nên y theo đây mà làm. Các Tỳ-kheo dùng tâm biết rõ như vậy rồi, các lậu liền dứt sạch, ý sáng tỏ đắc đạo quả A-la-hán.
Này
Xá-lợi-phất! Đức Phật Câu Lâu Tôn, Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Đức Phật Ca-diếp vì đệ tử rộng giảng nói chánh pháp
không biết mỏi mệt, như nói Tu Đa La,
Kỳ Dạ, Thọ Ký, Già Đà, Ưu Đà Na, Ni Đà Na, Dục Đa Già Bà, Bổn Sinh, Tỳ Phú La, Vị Tằng Hữu, A Bà Đà Na, Ưu Ba Đề Xá, Kiết giới, nói
Ba-la-đề-mộc-xoa. Sau khi Đức Phật và
đệ tử vào Niết-bàn, các đệ tử tuy nhiều giòng họ xuất gia nhưng phạm hạnh không
sớm bị tiêu diệt. Ví như các loại hoa đã dùng sợi chỉ xâu
kết lại để trên bàn, đem đặt ở ngả tư đường, dù có gió bốn phương thổi đến cũng không bay tứ tản được. Vì sao thế? Chính sợi chỉ xâu đã buộc
giữ nó lại. Cũng như vậy, này Xá-lợi-phất! Ba Đức Phật này vì đệ tử rộng giảng nói các pháp như đã đề cập ở trên, chính vì thế mà phạm
hạnh được bền vững.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Nếu vì lẽ không rộng giảng nói pháp,
không kiết
giới, không nói Ba-la-đề-mộc-xoa mà phạm hạnh không được trụ lâu thì cúi xin Đức Thế Tôn vì các đệ tử rộng giảng nói pháp, kiết giới, nói Ba-la-đề-mộc-xoa, phải chăng chính nay đã đúng lúc?
Đức Phật dạy:
- Thôi đi! Ta tự biết khi nào thì đúng lúc. Này Xá-lợi-phất! Trong chúng thanh tịnh của Ta chưa có và cũng chưa hề xảy ra sự việc gì, kẻ thấp nhất cũng đắc quả Tu-đà-hoàn, đủ chứng minh sự
trong sạch trong chúng của Ta rồi.
Các Đức Phật Như Lai chưa bao giờ kiết giới cho
hàng đệ tử khi các pháp hữu lậu chưa phát sinh. Trong chúng của Ta đây chưa có ai cậy cho mình là đa văn nên không
sinh các lậu hoặc, chưa hề có ai mang tiếng vì lợi dưỡng,
chưa hề có người có nhiều ham muốn,
chưa hề có người hiện thần túc cho trời, người quen biết nên không phát sinh các lậu hoặc.
Bấy giờ đã hết ba tháng an cư, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
- Ông và Ta cùng đến chỗ Tỳ-lan-nhã.
Tôn
giả A-nan vâng lời, y phục tề chỉnh theo hầu Phật. Khi đến cửa ngõ, lúc Bà-la-môn đang thọ hưởng dục lạc, từ trên lầu cao trông thấy Đức Thế Tôn, ông ta liền sực nhớ,
vội vàng xuống lầu lau chỗ ngồi, cung
thỉnh Phật an tọa. Ông ta gieo năm chi thể sát đất, đảnh lễ Phật, hối hận tự trách:
- Con là người ngu si, đã thỉnh Phật an cư mà không cúng dường. Không phải con có lòng tiếc rẻ cũng không phải thiếu phương tiện, chỉ vì con đã quên mất không còn nhớ. Cúi mong Đức Thế Tôn nhận cho con sự sám hối này.
Đức Phật dạy:
- Ông quả là ngu si, thỉnh Phật và Tăng mà không cúng dường, sám
hối là điều hợp lý. Nay Ta và chúng Tăng nhận sự sám hối của Ông.
Đức Phật lại bảo Bà-la-môn.
- Trong Thánh pháp của người biết sám hối thì pháp thiện được tăng trưởng.
Người Bà-la-môn
lại bạch Phật:
- Nguyện xin Phật và Tăng lưu lại đây một tháng để con được cúng dường.
Đức Phật không nhận, lại có lời dạy:
- Ông là người Bà-la-môn lòng tin có khác, nhận thức có khác nhưng ông đã có thể thỉnh được Phật rồi, đó là việc lớn.
Bà-la-môn ba lần thỉnh mời như vậy, Đức Phật đều không nhận lời,
Ngài nói:
- Ta đã an cư nơi đây ba tháng,
nay cần du hóa, không thể ở lại được.
Người Bà-la-môn lại tha thiết bạch Phật:
- Cúi xin Đức Thế Tôn nhận bữa cơm cúng dường tiễn đưa của con vào ngày mai.
Đức Phật im lặng nhận lời.
Ngay trong
đêm đó, Bà-la-môn cho chuẩn
bị đầy đủ các thức ăn thượng vị.
Sáng ngày sau, đến gần thời thọ thực, ông ta trải phu cụ lên tòa ngồi rồi đúng thời thỉnh
Phật quang lâm. Đức Thế Tôn cùng chúng đệ tử
đến đông đủ rồi an tọa nơi các chỗ ngồi. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhã sau khi thiết lễ tác bạch cúng dường, đích thân hầu hạ dâng từng món ăn, lại tận tay đem nước đến. Sau khi ăn
xong, ông ta dâng cúng lên Phật bốn
trương vải Kiếp bối và một đôi dép, còn chúng Tăng hai trương vải Kiếp bối và một đôi dép. Đây gọi là phẩm
vật cúng dường an cư. Các Tỳ-kheo nói:
- Đức Phật chưa cho chúng tôi nhận phẩm vật cúng dường an cư.
Nhân sự việc này, các Tỳ-kheo
thỉnh thị ý kiến Phật.
Đức Phật đã hết
lời đề cao khen ngợi hạnh tri túc, thiểu dục, đề cao giới khen ngợi người trì giới rồi bảo các Tỳ-kheo:
-
Nhân sự cúng dường của
Tỳ-lan-nhã, từ đây về sau cho phép nhận phẩm vật an cư.
Phẩm
vật cúng dường của Tỳ-lan-nhã, đã được phép, các Tỳ-kheo thọ nhận.
Về phía người Bà-la-môn, tâm ông vô cùng hoan hỷ. Ngồi trên chiếc ghế nhỏ đối diện với Đức Phật, ông ta lắng nghe Đức Phật nói kệ tùy hỷ:
Tất cả sự thờ cúng
Thờ lửa là hơn hết
Các học thuyết khác biệt
Tát Bà Đế cao nhất.
Trong tất cả hạng người
Vua
Chuyển Luân hơn hết
Nước trong mọi dòng chảy