CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
BÍ SÔ NI TỲ NẠI DA
QUYỂN 17
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Ba: ĂN TỎI
Phật ở thành Thất-la-phiệt, lúc đó có một trưởng giả sống với nghề trồng tỏi, trong khu vườn của ông còn trồng thêm nhiều loại rau tươi ngon. Lúc đó thế gian mất mùa đói kém, khất thực khó đươc, trưởng giả thấy các Bí-sô ni khất thực phải mang bát không trở về nên nói với các Bí-sô ni: “Trong vườn tỏi của tôi còn có trồng nhiều loại rau, các vị có thể tùy ý hái về dùng”. Các Bí-sô ni nghe rồi liền đến trong vườn hái rau, Thổ-la-Nan-đà khi đến hái rau nhổ luôn cả tỏi, các ni khác hỏi: “Cô nhổ luôn cả tỏi hay sao?”, Thổ-la-Nan-đà nói: “ Rau tức là tỏi, tỏi tức là rau”. Trưởng giả thấy vậy sanh lòng bất nhẫn liền đến đánh rồi đoạt lại rau và tỏi, đuổi ra khỏi vườn với đủ lời chê trách: “Tại sao Bí-sô ni lại ăn tỏi chứ?”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni, thường pháp của chư Phật là đúng thời mới hỏi, không đúng thời thì không hỏi; có lợi mới hỏi, không lợi thì không hỏi để dứt trừ nghi hoặc. Phật hỏi Thổ-la-Nan-đà: “Cô thật đã làm việc không đoan nghiêm này và ăn tỏi phải không?”, đáp: “Thật vậy Thế tôn”, Phật quở trách: “Cô chẳng phải là nữ sa môn, chẳng phải là pháp tịnh hạnh…”, quở trách rồi chế học xứ này cho các Bí-sô ni như sau: Nếu lại có Bí-sô ni ăn tỏi, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-so ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Ba-dật-để-ca là đốt nấu, đọa lạc, nếu phạm tội này bị đọa vào ba cõi ác địa ngục, bàng sanh và ngạ quỷ chịu khổ đốt nấu. Người phạm tội này nếu không ân cần thuyết hối trừ tội thì có thể làm chướng ngại pháp lành đã có nên gọi là Ba-dật-để-ca.
Lúc đó các Bí-sô đều có nghi thỉnh hỏi Phật: “Ni-thổ-la-nan-đà do tham nên bị trưởng giả đánh đuổi ra khỏi vườn, xin Thế tôn nói rõ nhơn
duyên xưa kia”, Phật nói: “Ni-thổ-la-nan-đà không phải chỉ ngày nay do tham nên gặp điều bất lợi mà xưa kia cũng do tham nên gặp tai ương đưa đến chết. Các thầy lắng nghe: Thuở xưa, có một tên trộm chui qua lỗ khoét ở vách tường lẻn vào trong cung trộm lấy được nhiều vàng bạc châu báu gói lại để mang ra ngoài, do làm rớt lại một cái thìa vàng nên chui trở vào để lấy, bị quân canh bắt được giải đến chỗ vua, vua ra lịnh pháp quan đem chặt tay chân. Lúc đó có chư thiên nói bài tụng:
“Không nên nhiều lòng tham,
Tham là điều tội ác,
Người nào nhiều lòng tham,
Vật đã được đều mất.
Như người tìm cái thìa,
Nên gặp các khổ nạn.”
Này các Bí-sô, tên trộm xưa kia chính là Ni-thổ-la-nan-đà, xưa do tham nên gặp khổ nạn, nay cũng như vậy. Cô ni này lại cũng do tham nên luôn gặp điều bất lợi và mất mát, các thầy lắng nghe: Thuở xưa, trong thành Bà-la-nê-tư có một người thợ kim hoàn cưới vợ không bao lâu sau sanh được một con gái, dung mạo đoan chánh, xinh đẹp hơn người ai cũng yêu mến. Khi cô lớn khôn thì người cha qua đời, thọ sanh trong loài ngỗng được làm Nga vương, con gai của ông trở nên nghèo khổ. Người cha Nga vương nhớ lại đời trước, nghĩ đến con gai nay đang nghèo khổ, vì thương yêu con nên Nga vương bay đến đảo châu báu ngậm một hạt ngọc mang về để nơi cửa nhà con gái vào mỗi buổi sáng như thế. Người con gái thu được nhiều châu ngọc liền suy nghĩ là ai đã đem cho châu ngọc, nghĩ rồi liền núp sau cánh cửa rình cho đến một hôm cô thấy con ngỗng bay tới nhả hạt ngọc ở cửa rồi bay đi. Cô gái suy nghĩ: “Trong thân con ngỗng này là kho chưa vật báu, ta làm cách nào bắt được nó để lấy hết kho ngọc báu đó”, nghĩ rồi liền giăng lưới để bắt ngỗng, Nga vương thấy lưới giăng liền suy nghĩ: “Đứa con tội ác này không biết ân tình nen muốn hại ta”, nghĩ rồi liền bay đi luôn không trở lại nữa. Lúc đó chư thiên nói tụng:
“Không nên nhiều lòng tham,
Tham là điều tội ác,
Người nào nhiều lòng tham,
Vật đã được đều mất.
Như người muốn bắt ngỗng
Ngọc báu liền dứt hẳn.”
Này các Bí-sô, người con gái xưa kia chính là Ni-thổ-la-nan-đà,
xưa do tham nên mất hết các ngọc báu, nay cũng do tham nên bị đuổi ra khỏi vườn. Do đây các Bí-sô ni không nên tham nhiều.”
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Bốn: CẠO LÔNG CHỖ KÍN
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà ở chỗ hiển lộ cạo lông nách, các ni thấy hỏi: “Vì sao cô làm như vậy?”, đáp: “Vì lông nách xúc não tôi nên tôi cạo bỏ”, các ni nói: “Đây không phải là việc làm thanh tịnh”, đáp: “Thanh tịnh hay không thì tôi cũng đã cạo rồi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cạo lông chỗ kín, phạm Ba-dật-để-ca. Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Lăm: TẨY TỊNH
KHÔNG ĐƯỢC QUÁ LƯỢNG
Duyên khởi va nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà do tâm dục hừng thạnh nên khi tẩy tịnh đã đưa ngón tay vào trong chỗ kín khởi tưởng thọ lạc, sau đó chỗ kín sưng đau chịu nhiều khổ sở. Thổ-la-Nan-đà bảo đệ tử: “Cô hãy tìm mua giúp tôi các loại hương như hương Chiên đàn… vì tôi có bịnh đau nhức”, nói rồi liền kể việc mình đã làm, các ni nói: “Đây là việc làm không thanh tịnh”, đáp: “Thanh tịnh hay không thì tôi cũng đã làm rồi”. Các ni đem việc nay bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật quở trách rồi nói: “Lỗi này có là do tẩy tịnh, từ nay các ni không được tẩy tịnh”. Thời gian sau Thổ-la-Nan-đà do không tẩy tịnh nên thân thể có mùi hôi khiến người khác không chịu nổi, họ hỏi nguyên do, ni nói là do Phật chế không được tẩy tịnh nên mới như thế. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni và chế học xứ này như sau:
Nếu lai có Bí-sô ni nếu tẩy tịnh chỉ nên dùng hai lóng tay, nếu quá hai lóng tay thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Sáu: DÙNG TAY VỖ CHỖ KÍN
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà do tâm dục hừng thạnh nên dùng tay vỗ chỗ kín khiến bị sưng lên rất đau
đớn, các ni hỏi nguyên do liền kể lại việc mình đã làm, các ni nói: “Đây là việc làm không thanh tịnh”, đáp: “Thanh tịnh hay không thì tôi cũng đã làm rồi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni dùng tay vỗ chỗ kín, phạm Ba-dật-để-ca. Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Bảy: TỰ TAY NẤU THỨC ĂN SỐNG
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó có một người ưa thích cây vườn bảo người đầu bếp: “Tôi muốn đi du ngoạn, sáng mai ông nên đến sớm để nấu thức ăn mang theo”, nói rồi đưa tiền, người đầu bếp bảo những người phụ nấu ăn lo liệu mọi thứ mang đến nhà đó chờ ông đến nau. Họ chuẩn bị mọi thứ xong xuôi nhưng chờ mãi không thấy ông tới, giờ sắp trôi qua nên họ đều lo lắng. Lúc đó Thổ-la-Nan-đà đến nhà đó khất thực, người vợ nói: “Hiện tại tôi đang lo lắng, cũng không có thức ăn cho co”, Thổ-la-Nan-đà hỏi biết nguyên do rồi nói: “Không lẽ bà chỉ biết kim chỉ, không biết nấu ăn hay sao?”, người vợ liền hỏi: “Thánh giả biết nấu ăn sao?”, đáp: “Công xảo gì tôi cũng rành cả”, người vợ nói: “Thánh giả thương xót nấu thức ăn giúp tôi”, liền hỏi: “Tôi nấu giúp bà, bà có cho tôi thức ăn không?”, đáp là cho, lại hỏi: “Có cho luôn người coi phòng của tôi không?”, đáp là cho, liền hỏi: “Bà muốn nấu những món gì?”. Người vơ liền nói các món ăn cần nấu, Thổ-la-Nan-đà đều nấu được cả, nấu xong nhận lấy phần thức ăn cho mình mang về chùa. Một lát sau người đầu bếp mới đến, người nhà nói: “Các món ăn đã nấu xong hết rồi, lại còn nấu rất ngon, người nấu là Nithổ-la-nan-đà”, người đầu bếp nghe rồi liền chê trách: “Tại sao sa môn Thích nữ lại đoạt nghề kiếm sống của người khác, như vậy chẳng phải là nữ sa môn, chẳng phải là nữ tịnh hạnh”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni tự tay nấu thức ăn sống, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên, không phạm là nếu vì tăng già và các đồng phạm hạnh khác, nếu nấu phải nấu trong nhà kín không ai thấy.
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Tám: TẠT NƯỚC THƯỢNG CHÚNG
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó có một trưởng giả
cưới vợ đã lấu mà không có con, về sau thân tộc phân tán, của cải tiêu tan trở nên nghèo khổ, không biết kếu cứu với ai. Ông chống tay vào cằm suy nghĩ: “Nay ta già yếu không thể kiếm sống, ta nên xuất gia mới có chỗ nương nhờ”, nghĩ rồi liền nói với vợ: “Tôi nay muốn xuất gia”, người vợ nói: “Tôi cũng muốn xuất gia”. Người chồng liền dẫn vợ đến chỗ Đại-thế-chủ xin cho vợ được xuất gia rồi đến trong chỗ tăng cầu xin xuất gia. Thời gian sau ông đến chỗ chùa ni thăm người vợ trước kia, cô ni này từ xa trông thấy người chồng trước kia liền ra đón chào mời ngồi rồi đứng một bên, Bí-sô nói diệu pháp rồi ra về, cô ni đem thức ăn ra mời Bí-sô ở lại để cúng dường, cô đứng phía trước một tay cầm bình nước một tay cầm quạt, Bí-sô thấy liền cười, cô ni hỏi vì sao cười, Bí-sô nói: “Khi còn ở nhà đã phục vu tôi, nay cũng như vậy nên tôi cười”. Cô ni nghe rồi nổi giận nói: “Tôi cung cấp vì ruộng phước tại sao lại chê cười”, nói rồi tạt nước trong bình lên người Bí-sô và cầm bình đánh Bí-sô. Các ni đem việc này bạch các Bí-so, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni dùng nước tạt thượng chúng, phạm Ba-dật-để-ca.
Thượng chúng là chỉ cho Bí-sô. Tướng phạm như trên, nếu bị té xỉu tạt nước cho tỉnh lại thì không phạm.
Học Xứ Thứ Bảy Mươi Chín: ĐẠI TIỂU TIỆN
TRÊN CỎ XANH TƯƠI
Duyên khởi và nơi chôn như giới trên, lúc đó ở phía trước chùa ni là một bãi cỏ xanh tươi, con của các Bà-la-môn, trưởng giả thường cùng các bạn trẻ đến đó vui đùa cười giỡn… làm ồn ào não loạn các ni trong chùa. Thổ-la-Nan-đà thấy vậy bèn bảo các ni uống thuốc xổ, đại tiểu tiện trong một cái bồn lớn rồi đem tưới trên bãi cỏ xanh tươi đó. Hôm sau họ lại đến như trước vui đùa cười giỡn bị dính dơ và nghe mùi hôi thối nên nói với nhau: “Sao lại có chất bất tịnh và hôi thối như thế này, ai đã làm việc này?”, Thổ-la-Nan-đà từ xa trông thấy liền cười lớn, mọi người nghe cười liền hỏi: “Tại sao Thánh giả cười, có phải Thánh giả đã làm nhơ nhớp bãi cỏ xanh tươi này không?”, đáp: “Ngoài tôi ra còn ai làm việc ấy”, mọi người nghe rồi đều hết lời chê trach. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni đại tiểu tiện trên cỏ xanh tươi, phạm Ba-dật-
để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên, không phạm là trừ khi bịnh.
Học Xứ Thứ Tám Mươi: ĐỔ ĐỒ BẤT TỊNH NGOÀI TƯỜNG
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà vừa làm Tri sự vừa làm giáo thọ hoặc dạy phúng tụng nên phần nhiều không ngủ, ăn uống lại không tiêu, khi đại tiểu tiện đều đem đổ ra ngoài tường. Vua Thắng-quang có một đại thần tên Cát-tường do tự tiện cỡi voi của vua nên vua nổi giận đuổi đi, khi ông đi ngang qua chùa đúng vào lúc Thổ-la-Nan-đà đang đổ đồ bat tịnh ra ngoài tường trúng phải ông khiến toàn thân nhơ nhớp, ông xấu hổ ra sông tắm rửa. Các ni biết được liền nói với nhau: “Vị đại thần này có thế lực lớn, chúng ta ắt sẽ gặp họa”. Lúc đó ở trong triều có vị đại thần tên là Lộc tử tâu vua lượng thứ cho Cát tường: “Đại thần cất tường là người trung tín, có công với nước, cúi xin nhà vua lượng thứ cho tội đã tự tiện cỡi voi của vua”, nhà vua chuẩn tấu rồi sai sứ đến kêu đại thần Cát tường về triều phụng mệnh, sứ tuân lịnh đến kêu, đại thần nghe hoảng sợ, đang mặc áo ướt vội đến chỗ vua, vua cho phục chức và nói: “Con voi bạch liên hoa ta ban cho khanh tùy ý cỡi”. Đại thần cát tường nghe rồi hết sức vui mừng liền suy nghĩ: “Ta nay được phục chức phải chăng là do vừa rồi ta bị trúng phải chất bất tịnh làm cho nhơ nhớp”, nghĩ rồi liền đi đến chùa ni hỏi: “Hôm nay ai đã đổ đồ bất tịnh trúng phải người tôi?”, Thổ-la-Nan-đà nghe hỏi trong lòng sợ hãi, vào phòng đóng cửa nói vọng ra: “Đó là do một vị ni già không biết xấu hổ, không biết đổ đồ bất tịnh đã làm nhơ nhớp quý nhơn, xin Ngài đừng nổi giận”, đại thần nói: “Tôi không có nổi giận, tôi hỏi để cúng y phục cho vị ấy vì nhờ trúng phải đồ bất tịnh đó mà tôi được phục chức”. Thổ-la-Nan-đà nghe rồi liền bước ra lấy tay đấm ngực nói: “Do tôi thô tháo đã tạo tội này”, đại thần thấy ni bước ra liền dâng cúng y phục. Thời gian sau, Thổ-la-Nan-đà tranh cải với các ni khác liền mắng một cô ni: “Tôi xem cô không bằng phân của tôi”, các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni không xem xét kỹ liền đem đồ bất tịnh đổ ra ngoài tường, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Nhiếp Tụng Thứ Chín:
Một mình có năm giới,
Kề tai nói có bốn,
Nếu ôm lòng sân giận,
Đấm ngực đều không cho.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Mốt: MỘT MÌNH CÙNG NGƯỜI NAM
ĐỨNG Ở CHỖ KHUẤT
Duyên khởi và nơi chốn giống như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà một mình cùng nam tử đứng ở chỗ khuất, các Bà-la-môn trưởng giả… nhìn thấy đều sanh tâm nghi nói với nhau: “Cô ni này chẳng phải là người tịch tĩnh xuất gia nên mới một mình cùng người nam đứng ở chỗ khuất”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni một mình cùng người nam đứng ở chỗ khuất thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Chỗ khuất có năm: Hàng rào, tường vách, màn trướng, rừng rậm và chỗ tối tăm. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Hai: MỘT MÌNH CÙNG BÍ SÔ ĐỨNG Ở
CHỖ KHUẤT
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Bí-sô ni Cấp-đa cùng Bí-sô Ô-đà-di đứng ở chỗ khuất, các Bà-la-môn trưởng giả… thấy đều chê trách: “Cô ni này chẳng phải là người tịch tĩnh xuat gia nên mới cùng Bí-sô đứng ở chỗ khuất ắt là hẹn hò”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni một mình cùng Bí-sô đứng ở chỗ khuất, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho ni Cấp-đa hoặc có ni khác giống như vậy. Bí-sô là chỉ cho Ô-đà-di. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Ba: MỘT MÌNH CÙNG NGƯỜI NAM
ĐỨNG Ở CHỖ HIỂN LO
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà một mình cùng người nam đứng ở chỗ hiển lộ, các Bà-la-môn trưởng giả… thấy đều chê trách: “Cô ni này chẳng phải là người tịch tĩnh xuất gia nên mới một mình cung người nam đứng ở chỗ hiển lộ để hẹn hò”. Các
ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni một mình cùng người nam đứng ở chỗ hiển lộ, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như thế. Chỗ hiển lộ là chỗ không có che ngăn. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Bốn: MỘT MÌNH CÙNG BÍ SÔ
ĐỨNG Ở CHỖ HIỂN LỘ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Bí-sô ni Cấp-đa một mình cùng Bí-sô Ô-đà-di đứng ở chỗ hiển lộ, các Bà-la-môn trưởng giả thấy đều chê trách như trên. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni một mình cùng Bí-sô đứng ở chỗ hiển lộ, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm giống như giới trên, không phạm là Bí-sô có bạn, ni có thị giả bên cạnh.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Lăm: MỘT MÌNH Ở MỘT PHÒNG
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Châu-kế-Nan-đà mặc y đẹp, oai nghi từ tốn, bước đi đoan nghiêm, khi đi khất thực có nam tử bán hương thấy dung nghi của cô sanh tâm đắm nhiễm. Do tâm dục hừng thạnh nên không còn biết xấu hổ đến trước cô ni nói nhỏ: “Thánh giả hãy cùng tôi tư thông”, ni nói: “Tôi là người xuất gia làm sao cùng ong làm việc xấu xa như thế”, nói rồi nổi giận mắng: “Ông là kẻ vô lại, cha của ông không dạy ông hay sao mà nói ra lời thô với tôi như thế. Sao ông không cùng với voi, cọp, sư tử, rắn độc… các loại thú ác độc như the giao hoan?”, nam tử nói: “Thánh giả lẽ nào đối với trượng phu đều nói như thế?”. Châu-kế-Nan-đà tự nghĩ: “Người này không phải người tốt đã xúc não ta, ta sẽ xúc não lại bằng cách hẹn gặp”, nghĩ rồi liền nói: “Hiền thủ, phòng của tôi ở tại ___, ông phải tự biết thời mà đến đó”. Đến trời tối lúc các ni đang phúng tụng ở nơi tháp, nam tử bán hương liền đến trong chùa và lẻn vào phòng của Châu-kế-Nan-đà. Phúng tụng xong Châu-kế-Nan-đà trở về phòng, vừa ngồi trên giường nam tử bán hương liền bước đến nắm tay, cô ni kêu lớn là có trộm, nam tử hoảng hốt chạy ra khỏi phòng nói: “Cô ni này dối trá, đã hẹn tôi đến,
tôi đến rồi lại nói tôi là ke trộm”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni một mình một phòng, phạm Ba-dật-để-ca. Nếu lai có Bí-sô ni là chỉ cho Châu-kế-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Một mình một phòng là không có người thứ hai cùng ngủ trong phòng. Tướng phạm như trên, không phạm là bạn ni qua đời hoặc bị đuổi đi hoặc thôi tu.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Sáu: CÙNG NGƯỜI NAM NÓI NHỎ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà sáng sớm vào thành Thất-la-phiệt khất thực, oai nghi chánh trụ mà lại kề tai người nam thế tục nói nhỏ. Các Bà-la-môn trưởng giả và những người không tín kính nhìn thấy đều chê trách: “Cô ni này không phải là người tịch tĩnh xuất gia, bỏ phẩm thiện của mình kề tai người nam nói nhỏ ắt là cùng hẹn hò”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni kề tai người nam nói nhò, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Bảy CHO NGƯỜI NAM KỀ TAI NÓI NHO
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà vào thành khất thực cho người nam kề tai nói nhỏ khiến người không tín kính chê trách giống như giới trên. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cho người nam kề tai nói nhỏ, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm giống như giới trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Tám: KỀ TAI BÍ SÔ NÓI NHỎ
Duyên khởi và nơi chôn như giới trước, lúc đó ni Cấp-đa cũng như Tho-la-Nan-đà vào thành khất thực kề tai Bí-sô nói nhỏ khiến những người không tín kính chê trách giống như giới trên. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các
Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni kề tai Bí-sô nói nhỏ, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho ni Cấp-đa hoặc có ni khác giống như vậy. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Tám Mươi Chín: CHO BÍ SÔ KỀ TAI NÓI NHỎ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Cấp-đa cũng như trước khi đi khất thực cho Bí-sô kề tai nói nhỏ khiến người không tín kính chê trách giống như giới trên. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cho Bí-sô kề tai nói nhỏ, phạm Ba-dật-để-ca. Giải thích và tướng phạm như giới trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi: ĐẤM NGỰC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó các ni cùng nhau tranh cải nói tội lỗi lẫn nhau rồi ôm lòng sân giận tự đấm ngực kêu đau khổ. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhom họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni vì sân giận tự đấm ngực kêu đau khổ, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là ni trong pháp luật này. Giải thích và tướng phạm như trên.
Nhiếp Tụng Thứ Mười:
Thề thốt, không xem xét.
Giường ngồi, dùng nhựa cây,
Ở bốn nhà bạch y,
Không khán bịnh cùng nằm.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Mốt: THỀ THỐT
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó chúng mười hai Bí-sô ni cùng đến nhà các Bà-la-môn trưởng giả, hoặc nhơn đi khất thực, hoặc nhơn đi thăm bịnh, hoặc vì nói pháp, đến nhà họ rồi, họ thấy các ni đến kính lễ roi bạch: “Các Thánh giả rất khó gặp, chúng tôi có phước mới được Thánh giả tới nhà. Rất mong các Thánh giả thương xót thường đến nhà chúng tôi chớ để chúng tôi trông ngóng”. Các ni nghe thấy
người khác cung kính khen ngợi gọi là Thánh giả nên sanh ngã mạn cống cao, những người tục đó lại nói: “Sợ các Thánh giả đi rồi không trở lại nữa, nếu các vị chắc chắn sẽ đến thì xin hãy thề”, các ni nói: “Nếu chúng toi đi mà không trở lại nữa thì tôi tu tịnh giới sẽ không có quả lợi”, nghe các ni đem phạm hạnh của mình ra thề nên mọi người đều chê trách. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni đem phạm hạnh của mình ra thề, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Hai: KHÔNG XEM XÉT
MÀ GẠN HỎI NGƯỜI KHÁC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó các Bí-sô ni sống trong hòa hợp khiến các Bà-la-môn trưởng giả sanh tín kính, tôn trọng cúng dường tứ sự đầy đủ, họ đưa tịnh tài nói rằng: “Thánh giả hãy nhận tiền thuốc này, khi có bịnh hoạn thì tùy ý dùng”. Chúng mười hai ni thấy rồi sanh tâm tật đố nói với nhau: “Tại sao chúng ta không nhờ người thế tục cung kính cúng dường tứ sự và tịnh tài để dùng cho việc ăn uống”, bàn rồi cùng lập kế để cho các Bà-la-môn trưởng giả cung kính cúng dường cho họ. Đối với những việc không có căn cứ thấy nghe nghi, họ liền nói là có căn cứ thấy nghe nghi để gạn hỏi Bí-sô ni: “Cô ni tên ___ có tội như vậy, cô ni tên ___ phạm tội như vậy”, gạn hỏi quở trách rồi vào ngày trưởng tịnh, tùy ý, họ không cho các ni đó vào trong chúng. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni không xem xét sự việc mà gạn hỏi người khác, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Ba: KHÔNG XEM KỸ GIƯỜNG TÒA
MÀ NGỒI NẰM
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó các Bí-sô ni an cư xong, như Phật đã cho phép chư ni an cư xong được du hành trong nhân gian, nên các ni này du hành đến một thôn xóm, trời sụp tối nên đến nhà của một trưởng giả xin ngủ tạm một đêm, trưởng giả cho nghỉ lại
đêm trong phòng khách. Trong phòng khách này đã có người thế tuc đến xin ở ngủ đêm trước, các ni không xem xét lại do đi đường mõi mệt và sợ nóng nên không ở trong phòng khách nằm ngủ mà ngủ ngoài hiên. Nửa đêm trời bỗng nổi gió mưa, bốn phía tối đen, các ni kinh sợ nên cùng vào trong phòng khách, vì không nhìn thấy nhau nên nằm ngủ cạnh người thế tục, khi thức dậy người ấy nắm tay Bí-sô ni, ni hoảng sợ kêu len: “Kẻ vô lại nào đã nắm tay tôi, vua Thắng-quang cung kính phụng sự các ni đồng như phi hậu, há cho người ngu cưỡng bức hay sao?”… Liền cáo quan, quan xử chặt tay người ấy. Các ni đến thành Thất-la-phiệt kể lại cho các Bí-sô ni, các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni đến chỗ tối tăm không xem xét kỹ giường tòa mà ngồi nằm, phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là ni trong pháp luật này. Ngồi nằm trong học xứ này là ngủ lại đêm. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Bốn: DÙNG NHỰA CÂY LÀM SANH CHI
Duyên khởi và nơi chôn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà đến nhà một trưởng giả khất thực thấy trưởng giả không có ở nhà bèn chúc vợ của trưởng sống lâu không bịnh rồi hỏi: “Hiền thủ, khi chồng cô không có ở nhà cô làm thế nào để được thích ý?”, vợ trưởng giả xấu hổ im lặng không trả lời, ni bỏ đi. Sau đó đến trong cung vua chúc phi Thắng man không bịnh sống lâu rồi hỏi nhỏ: “Khi nhà vua ra đi, vương phi làm thế nào để được thích ý?”, phi nói: “Thánh giả đã xuất gia sao lại hỏi pháp thế tục?”, đáp: “Quý thắng ở chỗ tự tại, nhưng chúng tôi còn trẻ không có người sánh đôi, khó qua ngày mà không ưu sầu”, phi nói: “Nếu nhà vua ra đi, tôi bảo thợ làm cái sanh chi bằng nhựa cây dùng để thích ý”. Thổ-la-Nan-đà nghe rồi liền đến chỗ vợ của người thợ nói rằng: “Cô hãy làm cho tôi một cái sanh chi giống như đã làm cho phu nhân Thắng man”, vợ của người thợ nói: “Thánh giả đã xuất gia sao lại dung cái ấy”, đáp: “Tôi có việc cần dùng”, người vợ kia nói: “Nếu vậy tôi sẽ bảo làm cho cô”, người vợ liền bảo chồng làm cái sanh chi, người chồng nói: “Tôi há không đủ hay sao mà bà còn nhờ cái này”, người vợ nói: “Không phải làm cho tôi mà là làm giùm cho người bạn”, người chồng làm xong đưa cho vợ, người vợ đưa cho ni. Thổ-la-Nan-đà mang về sau khi ăn cơm xong vào trong phòng lấy sanh cho cột vào nơi gót chân rồi đưa vào trong thân đe cảm thọ lạc, sau đó
ngủ quên. Lúc đó chùa bổng phát hỏa, nghe tiếng kêu la, ni liền thức dậy chạy vội ra ngoài quên tháo cái sanh chi ra, mọi người nhìn thấy đều cười chê, trẻ con nhìn thấy nói: “Thánh giả cột cái gì ở gót chân”, Thổ-la-Nan-đà nghe lời này hết sức xấu hổ. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni dùng nhựa cây làm sanh chi, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên. Lúc đó các Bí-sô đều có nghi thỉnh hỏi Phật: “Tại sao Ni-thổ-la-nan-đà lại làm cho mọi người chê cười như thế, xin Phật nói nhân duyên xưa”, Phật nói: “Không phải chỉ ngày nay Ni-thổ-la-nan-đà mới làm cho mọi người chê cười mà trong quá khứ cũng đã như vậy, các thầy lắng nghe: Thuở xưa, có một Bà-la-môn trong một thôn xóm cưới vợ chưa bao lâu thì sanh đươc một trai có mười tám tướng xấu, đến tuổi trưởng thành đồng tử này du học ở phương khác để tìm cầu nghề nghiệp. Ở một thôn khác có một đại Bà-la-môn rất giỏi Tứ minh luận, ông có một con gái nên ông muốn rễ của ong phải là người thông suốt Tứ minh luận. Đồng tử Bà-la-môn kia du hành đến làng này tới chỗ vị đại Bà-la-môn cầu học Tứ minh luận, không bao lâu sau thông suốt Tứ minh nên vị đại Bà-la-môn này quyết định gả con gái cho đồng tử Bà-la-môn này. Thời gian sau đại Bà-la-môn suy nghĩ: rễ của ta tướng mạo xấu xí, nếu để nó ở đây sẽ bị nhiều người cười khinh. Lại thấy đứa con gái của ông hạnh không trinh lương nên ông bảo con rễ: “Nay con hãy dẫn vợ về nhà cha mẹ của con”, đồng tử nghe rồi suy nghĩ: “Vợ ta tánh hạnh không trinh lương, ở trước mặt ta thường cùng người khác cười giỡn, ta nên dẫn về nhá cha mẹ”. Nghĩ rồi liền nói với vợ: “Nàng hãy sửa soạn, sang mai sẽ cùng nàng dạo chơi phương viên”, người vợ đồng ý, sáng hôm sau đồng tử bảo vợ cỡi lừa để trở về nhà cha mẹ của mình, người vợ nghe nói trở về nhà cha mẹ chồng liền suy nghĩ: “Họa đến nơi thân rồi, ở đây tự tại muốn làm gì thì làm, tùy ý cùng nam tử tư thông, nay về nhà kia có cha mẹ tôn thân hộ vệ, không còn tự do nữa”, nghĩ rồi liền cùng chồng cải cọ khóc kể bi ai nói là không muốn đi. Đồng tử nổi giận lấy dây cột troi lại bỏ nằm trên lưng lừa rồi đi tiếp. Sau đó do tâm dục hừng thạnh, đồng tử liền cùng vợ làm việc phi pháp rồi lấy bình nước rót nước để tẩy tịnh, nước chảy thành tiếng khiến con lừa hoảng sợ bỏ chạy, đồng tử đuổi theo không kịp. Con lừa chạy vào trong thôn, mọi người nhìn thấy liền hỏi nguyên do, đồng tử kể lại mọi việc, mọi người nghe rồi đều cười lớn rồi nói tụng:
“Rót nước chảy thành tiếng,
Lừa nghe hoảng sợ chạy,
Người nữ bạc phước này,
Xấu xa khiến người cười.”
Này các Bí-sô, vợ của đồng tử xấu xí đó chính là Thổ-la-Nan-đà, cũng chính Thổ-la-Nan-đà thuở xa xưa về trước cũng đã làm cho mọi người cười náo loạn, các thầy hãy lắng nghe:
Thuở xa xưa, có một Bà-la-môn trong một thôn xóm cưới vợ chưa bao lâu lại muốn dời đến nơi khác ở, người vợ này vốn không trinh lương, nghe chồng sắp dọn đi liền nói với tình nhân: “Chồng tôi muốn dời đến nơi khác, anh hãy đến cùng tôi ngủ đêm nay”, tình nhân nghe rồi tối đó liền đến nhà, không ngờ người chồng đêm đó trở lại kêu mở cửa. Nghe biết tiếng chồng, người vợ hoảng sợ vội giấu tình nhân trong thùng phân bò rồi mới mở cửa. Lúc đó nhà bổng phát hỏa, người chồng vội chuyển của cải ra ngoài, người vợ nói: “Tất cả của quý đều nằm trong thùng phân này, hãy khiêng ra trước”, hai người cùng khiêng ra, không ngờ thùng bị vỡ, tình nhân bò ra, va đầu vào trụ cột bị thương chảy máu, vội vàng bỏ chạy. Mọi người thấy rồi nói tụng:
“Bà vợ trước tư tình,
Giấu tình nhân trong thùng,
Lửa cháy khiêng thùng ra,
Vỡ đầu ai cũng biết”.
Này các Bí-sô, người vợ Bà-la-môn xưa kia chính là Thổ-la-Nan-đà.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Lăm: NÓI PHÁP NHÀ BẠCH Y
KHÔNG DẶN CẤT TỌA CỤ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà thường đến nhà các trưởng giả Bà-la-môn nói pháp, vơ của trưởng giả kính trọng ni nên trải tòa ngồi tốt đẹp để ni ngồi. Lúc Thổ-la-Nan-đà nói pháp, người vợ tuy ngồi nghe nhưng trong lòng lại lo nghĩ việc nhà, sợ ngồi nghe quá lâu nên nửa chừng bỏ ra về. Thổ-la-Nan-đà thay thính giả đã ra về nên cũng bỏ ra về, sau đó có kẻ trộm đến lấy tọa cụ mang đi. Thời gian sau Thổ-la-Nan-đà lại đến nhà trưởng giả, vợ trưởng giả hỏi về tọa cụ, cô đáp: “Hôm đó nói pháp xong không thấy còn ai nên tôi cũng ra về, bỏ tọa cụ ở đó”, người vợ trưởng giả chê trách. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni nói pháp ở nhà bạch y, khi ra đi không dặn lại gia chủ don cất tọa cụ thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Sáu: KHÔNG CHO PHÉP LIỀN NGỒI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà khất thực đến nhà một Bà-la-môn ưa thích sạch sẽ, ở trong phòng khách có một giường tòa sạch được phủ lên một tấm bạch điệp sạch, lại có một người nữ cấm phất trần đuổi ruồi đưng ở đó. Thổ-la-Nan-đà xin thức ăn, người nữ nói: “Nếu tôi đi lấy thức ăn, ruồi sẽ đậu vào làm dơ chỗ ngồi này”, ni nói: “Tôi sẽ đuổi ruồi cho cô”, người nữ liền vào trong nhà lấy thức ăn, Thổ-la-Nan-đà chân dính đat không sạch liền ngồi lên giường tòa đó. Bà-la-môn thấy liền nói: “Chân dính bùn đất tại sao không rửa sạch mà ngồi trên giường đó”, liền đáp: “Ông ngồi được tại sao tôi là người phạm hạnh lại không ngồi được”. Khi Thổ-la-Nan-đà đứng dậy, Bà-la-môn thấy máu dính dơ chỗ ngồi sạch của mình liền đủ lời chê trách: “Cô ni này là người không biết xấu hổ”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni ở nhà bạch y, chủ nhà chưa cho phép liền ngồi trên giường tòa thì phạm Ba-dật-để-ca .
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Bảy: KHÔNG HỎI CHỦ
LIỀN NGỦ LẠI ĐÊM
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó có Bí-sô ni du hành trong nhân gian đến một thôn xóm thì trời tối nên tìm chỗ nghỉ lại đêm. Đến nhà một người thợ dệt, người chồng đi khỏi, người vợ liền cho vào phòng ngủ chung với mình, không ngờ người chồng nửa đêm trở về vào phòng lên giường muốn cùng vợ làm việc phi pháp, vừa đưa tay ôm vợ thì người vợ hét lên còn cô ni thì cười, người chồng hỏi là ai cười, người vợ nói là người xuất gia cười, người chồng nổi giận đuổi ni ra ngoài. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách roi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni ở nhà bạch y không hỏi rõ về người chủ mà liền ở lại ngủ đêm, phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên, không phạm là người nữ đó không chồng là chủ nhà có quyền quyết định.
CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
BÍ SÔ NI TỲ NẠI DA
QUYỂN 18
Học Xứ Thứ Chín Mươi Tám: BIẾT NI Ở NHÀ BẠCH Y TRƯỚC,
MÌNH ĐẾN SAU LẠI BẢO HỌ ĐI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó có nhiều Bí-sô ni du hành trong nhân gian đến một thôn xóm thì trời tối nên tìm chỗ nghỉ lại đêm, có một trưởng giả cho các ni ở lại nghỉ đêm. Thổ-la-Nan-đà đến sau cũng tìm chỗ nghỉ lại đêm, người trong thôn chỉ đến nhà trưởng giả, đến nơi Thổ-la-Nan-đà liền chen vào trước các ni xin chỗ nghỉ, các ni nói: “Chỗ này chật hẹp không thể chứa thêm người được”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Tùy nghi thì được”, các ni nghe rồi liền ngồi xếp chân lại cho Thổ-la-Nan-đà cùng ở. Lúc đó Thổ-la-Nan-đà liền dùng tay chân xô đẩy các ni tới ở trước, các ni này nói: “Tại sao cô lại bức bách nhau như thế”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Nếu không ở được thì tùy ý đi chỗ khác”, các ni này thấy Thổ-la-Nan-đà khỏe mạnh, nếu cùng hơn thua e gặp mạng nạn nên đồng loạt đứng dậy bỏ đi. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm hop các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết Bí-sô ni đến ở trước trong nhà bạch y, mình đến sau lại bảo họ đi thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Chín Mươi Chín: ĐỆ TỬ CÓ BỊNH
KHÔNG CHĂM SÓC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà bịnh, đệ tử thân và đệ tử y chỉ đều chăm sóc hầu hạ cho đến khi lành bịnh. Thời gian sau các đệ tử bịnh, Thổ-la-Nan-đà lại không chăm sóc, bỏ mặc nên ở chỗ người bịnh bừa bãi đồ bất tịnh. Sau khi biết được
người bịnh là đệ tử của Thổ-la-Nan-đà, các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni đối với đệ tử thân và đệ tử y chỉ thấy có bịnh mà không chăm sóc chu đáo thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc có ni khác giống như vậy. Đệ tử thân là người mà mình đã cho thọ cụ giới. Đệ tử y chỉ là người nuơng ở với mình. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm: HAI NI NẰM CHUNG MỘT GIƯỜNG
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó có một ni tên là Ác-ái và Thượng-ái cùng nằm chung một giường như nam và nữ cùng nhau vui đùa. Thời gian sau một cô bỗng có thai, đủ ngày tháng sanh ra một cục thịt không có các căn và tay chân nen các ni đuổi ra khỏi chùa. Các ni đem việc này bạch Phật, Phật nói: “Chưa nên đuổi, hãy xem xét kỹ rồi đuổi. Nên đem cục thịt này để dưới ánh nắng mặt trời giữa trưa, nếu nó bị tiêu hóa thì không phải là thai; nếu nó không tiêu mới thật là thai”. Các ni vâng lời Phật dạy, đem cục thịt đó để dưới ánh nắng mặt trời giữa trưa thì nó tiêu mất. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-so ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni, hai người nằm chung một giường thì phạm Ba-dật-để-ca.
Sau đó có nhiều Bí-sô ni đi du hành gặp trời tối xin nghỉ lại đêm ở nhà một trưởng giả, trưởng giả chỉ cho họ nằm nghỉ chung trên một cái giường lớn, nhưng chỉ có một cô nằm còn các cô khác lại đòi thêm giường khác, trưởng giả nói: “Trong nhà đông người không có giường dư cho các Thánh giả, sao các vị không nằm chung một giường?”, các ni nói là Thế tôn không cho. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật nói: “Nếu được một cái giường lớn thì các ni được nằm chung, nên lấy y ngăn cách, hệ niệm nằm ngủ, không được chạm nhau. Giường nhỏ mà có ngăn cách cũng được nằm ngủ chung.”
Nhiếp Tụng Mười Một:
Hai an cư, khủng bố,
Thiên tự, chưa đủ tuổi,
Nuôi chúng, người có chồng,
Tăng chưa cho vô hạn.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Một: AN CƯ CHƯA TỰ TỨ
MÀ DU HÀNH
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà hạ an cư nơi thành Thất-la-phiệt, chưa làm lễ Tùy ý mà vội du hành trong nhân gian. Các ngoại đạo, Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ đêu chê trách: “Cô ni này không thích xuất gia, mùa mưa các côn trùng đâu đâu cũng có mà lại du hành, đạp chúng tổn hại vô cùng. Loài chim nhỏ khi mùa mưa đến còn ẩn mình trong tổ, sa môn nữ này không có từ bi lại du hành làm tổn thương các loài hàm thức, ai lại khởi tâm cung kính cúng dường nữa chứ”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni, hạ an cư chưa làm lễ Tùy ý mà du hành trong nhân gian thì phạm Ba-dật-để-ca.
Hạ an cư là tiền an cư hay hậu an cư. Chưa làm lễ Tùy ý là chưa tự tứ. Tướng phạm như trên, không phạm là một trong tám nạn xảy đến.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Hai: AN CƯ XONG KHÔNG DU HÀNH
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó các Bí-sô ni an cư xong muốn du hành trong nhân gian, hỏi Thổ-la-Nan-đà có đi không, Thổ-la-Nan-đà noi: “Tôi cần gì phải đi”, các ni nói: “Phật dạy an cư xong nên đi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni, an cư xong mà không rời khỏi chỗ đó để du hành thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Ba: BIẾT CÓ KHỦNG BỐ
MÀ DU HÀNH
Duyên khởi tại thành Vương-xá, lúc đó vua Vị-sanh-oán có oán thù với thành Quảng-nghiêm, muốn dẫn binh thảo phạt nên nhà vua cho đánh trông thông báo cho dân chúng biết: “Ai ở trong ranh giới nước ta mà đến thành Quảng-nghiêm thì sẽ bị chém đầu”. Ở các chỗ hiểm yếu nhà vua đều cho quân canh giữ, nếu bắt được ai trái lịnh thì y pháp xử trị. Lúc đó có nhiều Bí-sô ni từ thành Vương-xá muốn đến thành Quảng -nghiêm, trên đường đi gặp giặc nen hoảng sợ kêu lớn, quân canh giữ
biên phòng nghe tiếng kêu cứu liền chạy đến, giặc thấy quân của nhà vua vội bỏ chạy, quân canh nói: “Các Thánh giả há không nghe nhà vua thông báo ai đi đến thành Quảng-nghiêm sẽ bị chém đầu hay sao, nếu chúng tôi không phòng thủ nơi đây thì các Thánh giả há không bị giặc bắt rồi hay sao?”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu Bí-sô ni biết trong vương quốc có giặc khủng bố mà du hành thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Bốn: BIẾT CÓ CỌP SÓI SƯ TỬ
MÀ DU HÀNH
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó có nhiều Bí-sô ni du hành trên đường hẻo lánh, phần nhiều gặp nguy hiểm về cọp, sói, sư tử nên bị người thế gian chê trách.… Phật chế học xứ này như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết chỗ đó có cọp, sói, sư tử khủng bố mà còn du hành thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Năm: ĐẾN THIÊN TỰ LUẬN NGHỊ
Duyên khởi ở thành Vương-xá, lúc đó Thổ-la-Nan-đà du hành đến trong thiên tự và chỗ ngoại đạo cùng họ luận nghị đến trời tối mới trở về chùa rồi bảo các ni đấm bóp để bớt đau nhức, các ni hỏi nguyên do, Thổ-la-Nan-đà nói: “Tôi đen trong thiên tự và chỗ ngoại đạo cùng họ luận nghị”, các ni nói: “Thánh giả đến trong thiên tự và chỗ ngoại đạo luận nghị với họ như vậy có hợp lý hay không?”, đáp: “Hợp hay không hợp thì tôi cũng đã đến rồi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni đến trong thiên tự luận nghị thì phạm Ba-dật-để-ca.
Thiên tự là chỗ thờ thiên thần. Luận nghị là nạn vấn. Tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Sáu: CHƯA ĐỦ TUỔI MÀ CHO NGƯỜI
XUẤT GIA VÀ THỌ CỤ TÚC GIỚI
Duyên khởi ở thành Thất-la-phiệt, lúc đó có các Bí-sô chưa đủ
mười tuổi hạ mà cho người khác xuất gia và thọ cụ túc giới, các Bí-sô ni cũng vậy cho nên chúng mười hai Bí-sô có môn đồ rất đông. Họ đến chỗ Lục chúng, Lục chúng hỏi: “Các cô có rất đông đồ chúng vây quanh phải không?”, đáp: “Các Thánh giả cho người khác xuất gia và thọ cụ giới được thì chúng tôi cũng được cho”, Lục chúng nói: “Các cô cùng chúng tôi không có khác nhau phải không?”, đáp là không khác. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni chưa đủ mười hai tuổi hạ mà cho người khác xuất gia và thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Cho xuất gia là cho thọ học xứ của cầu tịch. Cho thọ giới cụ túc là Bạch-tứ-yết-ma. Tướng tội như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Bảy: VỘI NUÔI ĐỆ TƯ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thế tôn chế Bí-sô ni đủ mười hai tuổi hạ mới được cho người khác xuất gia và cho thọ giới cụ túc, tuy đủ mười hai tuổi hạ nhưng ngu si không biết phân biệt, cũng không hiểu rõ ràng mà cho người khác xuất gia và cho thọ giới cụ túc tức là tự mình chưa điều phục mà muốn điều phục người khác; tự mình chưa tịch tĩnh mà muốn làm cho người khác tịch tĩnh; tự mình chưa siêu thoát mà muốn làm cho người khác siêu thoát; tự mình chưa cứu được mà muốn cứu người khác… là không có lý đó. Lúc đó có nhiều Bí-sô thật không có đức mà vội độ đệ tử, các ni bạch Phật, Phật nói: “Nếu ni nào có khả năng dạy bao đệ tử thì nên thao tăng già xin, Tăng già sẽ tác pháp yết ma cho nuôi chúng với điều kiện ni này phải đủ mười hai hạ hay hơn mười hai hạ. Vị ni đó kính lễ Tăng rồi đến trước vị Thượng tọa ni quỳ gối chắp tay bạch rằng: Đại đức Tăng già lắng nghe, tôi Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ có thể nuôi dạy đệ tử, nay theo Tăng già ni xin yết ma nuôi chúng. Xin thương xót. (3 lần)
Ni tăng sai một Bí-sô ni tác bạch yết ma như sau:
Đại đức ni Tăng lắng nghe, Bí-sô ni này tên ___ đã đủ mười hai hạ muốn nuôi môn đồ, nay theo Ni tăng xin yết ma nuôi chúng. Nếu Ni tăng đúng thời đến nghe, Ni tăng nên chấp thuận, nay Ni tăng tác yết ma cho Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ được nuôi chúng. Bạch như thế.
Đại đức Ni Tăng lắng nghe, Bí-sô ni này tên ___ đã đủ mười hai hạ muốn nuôi môn đồ, nay theo Ni tăng xin yết ma nuôi chúng. Nay Ni
tăng tác yết ma cho Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ được nuôi chúng. Các cụ thọ nào chấp thuận cho Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ được nuôi môn đồ thì im lặng, ai không chấp thuận thì nói. Ni tăng cho chấp thuận cho Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ được nuôi mon đồ rồi. Ni tăng chấp thuận vì im lặng, việc này xin nhớ giữ như vậy.
Sau đó Thổ-la-Nan-đà chưa được Tăng tác yết ma cho nuôi chúng mà tự tiện cho người xuất gia và cho thọ giới cụ túc. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni, Tăng già chưa tác yết ma cho nuôi chúng mà vội nuôi đệ tử thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Tám: BIẾT NGƯỜI NỮ ĐÃ TỪNG GẢ,
TUỔI CHƯA ĐỦ MƯỜI HAI MÀ CHO XUẤT GIA
Duyên khởi và nới chốn như giới trước, lúc đó có kẻ ngu si sanh tâm ác nên tru diệt dòng họ Thích, nhiều phụ nữ họ Thích không nơi nương tựa, tuy đã xuất gia nhưng trong lòng luôn ưu sầu nhớ nghĩ đến thân thích mà buồn khóc, nhưng sau khi hiểu đạo, nổi ưu sầu cũng nguôi ngoai nên họ cầu xin thọ giới cụ túc, các Bí-sô ni nói: “Các cô đợi đủ hai mươi tuổi mới được thọ giới cụ túc”, các Thích nữ nói: “Đợi đến hai mươi tuổi thì lâu quá”, các ni nói: “Đủ hai mươi tuổi mới có thể phụng sự Ô-ba-đà-da và A-giá-lợi-da”, các Thích nữ nói: “Chúng tôi ở nhà thờ chồng và lo liệu việc nhà còn có thể làm xong, nay xuất gia xin thọ giới há không thể phụng sự Ô-ba-đa-da và A-giá-lợi-da hay sao?”. Các ni bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật nói: “Nếu người nữ đã từng gả, tuổi đủ mười hai hoặc mười tám thì nên cho hai năm Chánh học pháp rồi cho thọ cụ giới. Ni tăng nên bảo vị ấy đến trong Tăng ở trước vị Thượng tọa ni xin như sau: Đại đức ni tăng lắng nghe, con tên là ___ đủ mười tám tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da. Nay con theo Ni tăng xin học sáu pháp và sáu tùy pháp làm Chánh học nữ, cúi xin Ni tăng cho con học sáu pháp và sáu tùy pháp, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da. Xin thương xót (3 lần).
Ni tăng sai một Bí-sô ni tác bạch yết ma như sau:
Đại đức Ni tăng lắng nghe, Cầu-tịch nữ này tên ___ đủ mười tám tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da, nay theo Ni tăng xin học sáu pháp và sáu tùy pháp trong hai năm làm chánh học nữ. Nếu Ni tăng đúng thời đến nghe, Ni tăng nên chấp thuận, nay Ni tăng tác pháp yết ma cho
Cầu-tịch nữ ___ đủ mười tám tuổi trong hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp làm Chánh học nữ, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da. Bạch như vậy.
Đại đức ni tăng lắng nghe, Cầu-tịch nữ này tên __ đủ mười tám tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da, nay theo Ni tăng xin trong hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp làm Chánh học nữ. Nay Ni tăng tác pháp cho Cầu-tịch nữ tên ___ đủ mười tám tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da trong hai năm học sáu pháp và sáu pháp làm chánh học nữ. Nếu các cụ thọ nào chấp thuận cho Cầu-tịch nữ ___ đủ mười tám tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da trong hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp làm Chánh học nữ thì im lặng, ai không chấp thuận thì nói. Ni tăng đã chấp thuận cho Cầu-tịch nữ ___ đã đủ mười tam tuổi, Thánh giả ___ là Ô-ba-đà-da trong hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp làm chánh học nữ xong rồi. Ni tăng chấp thuận vì im lặng, việc nay xin nhớ giữ như vậy.
Kế nên bảo Chánh học nữ: “Từ hôm nay cô nên học sáu pháp:
- Một là không được đi đường một mình.
- Hai là không được lội qua sông một mình,
- Ba là không được xúc chạm thân trượng phu.
- Bốn là không được cùng người nam đồng ngủ đêm .
- Năm là không được làm mai mối.
- Sáu là không được che giấu tội trọng của ni.”
Nhiếp Tụng:
Không đi đường một mình,
Không lội nước một mình,
Không xúc chạm nam tử,
Không cùng nam đồng ngủ,
Không làm việc mai mối,
Không giấu tội trọng ni.
Lại nói: Kể từ hôm nay cô nên học sáu tùy pháp:
- Một là không cất giữ vàng bạc xem như của mình.
- Hai là không được cạo lông chỗ kín.
- Ba là không được đào đất.
- Bốn là không được hoại sanh chủng.
- Năm là không được không thọ mà ăn.
- Sáu là không được ăn thức ăn đã xúc chạm.
Nhiếp Tụng:
Không cất giữ vàng bạc,
Không cạo lông chỗ kín,
Không đào bới đất sống,
Không làm chết cỏ cây,
Không thọ không được ăn,
Đã xúc chạm không được ăn.
Lúc đó Thổ-la-Nan-đà lại cho người nữ đã từng gả chưa đủ mười hai tuổi xuất gia và thọ cụ túc giới. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người nữ đã từng gả chưa đủ mười hai tuổi mà cho xuất gia thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Lẻ Chín: TUỔI ĐỦ MƯỜI HAI KHÔNG
CHO CHÁNH HỌC PHÁP MÀ CHO THỌ CỤ GIỚI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trên, lúc đó Thổ-la-Nan-đà biết người nữ đã từng gả đủ mười hai tuổi cho xuất gia rồi suy nghĩ: “Thế tôn đã cho phép thọ cụ giới”, nghĩ rồi liền cho thọ giới cụ túc mà không cho hai năm Chánh học pháp. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người nữ đã từng gả đủ mười hai tuổi, không cho Chánh học pháp mà cho thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười: VỘI NUÔI NHIỀU CHÚNG
Duyên khởi và nơi chon như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà cho người xuất gia và thọ giới cụ túc nhiều vô hạn, đến nỗi không đặt tên hết được, chẳng hạn như đặt tên là Hộ Phật, Hộ Pháp, Hộ Tăng…, chỉ có tác nghiệp. Khi kêu hoặc kêu “Nay các đệ tử”, hoặc kêu “Này Cầu-tịch nữ”, hoặc kêu “Này Chánh học nữ”, hoặc kêu “Này một tuổi”, cho đến hoặc kêu “Này mười tuổi”. Khi nghe kêu như vậy, đệ tử không biết cô kêu ai, một ni nói với Thổ-la-Nan-đà: “Thánh giả đã có thể cho thọ giới cụ túc, vì sao không đặt tên cho họ, vì sao lại làm náo loạn như thế?”, đáp: “Tôi có nhiều đệ tử làm sao đặt tên cho hết”, ni kia nói: “Há nuôi đệ tử nhiều vô hạn như vậy là tịnh pháp hay sao?”, đáp: “Tịnh hay không tịnh thì tôi cũng đã nuôi rồi”. Các ni bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật, Phật nói: “Bí-sô ni không nên nuôi chúng nhiều vô hạn như vậy”,
Bí-sô nào muốn nuôi chúng vô hạn thì nên theo Tăng xin yết ma nuôi chúng vô hạn, nếu Tăng tác pháp yết ma cho phép thì mới được nuôi. Nếu Tăng xét thấy vị ấy có khả năng và đủ mười hai hạ hoặc hơn thì nên tập Tăng tác pháp cho, vị ấy kính lễ Tăng rồi đến trước vị Thượng tòa quỳ gối chắp tay bạch rằng:
Đại đức Ni tăng lắng nghe, tôi Bí-sô ni tên ___ đã đủ mười hai hạ có thể nuôi chúng. Xin Tăng cho phép tôi tên ___ được nuôi chúng vô hạn, xin thương xót. (3 lần)
Ni tăng sai một Bí-sô ni tác bach yết ma như sau:
Đại đức Ni tăng lắng nghe, Bí-sô ni này tên ___ nay theo Tăng xin phép được nuôi chúng vô hạn. Nếu Ni tăng đúng thời đến nghe, Ni tăng nên chấp thuận, nay Ni tăng tác pháp cho Bí-sô ni tên ___ được nuôi chúng vô hạn. Bạch như vậy.
Đại đức Ni tăng lắng nghe, Bí-sô ni này tên ___ muốn nuôi môn đồ vô hạn, nay theo Tăng xin pháp nuôi chúng vô hạn. Ni tăng nay tác pháp cho Bí-sô ni tên ___ được nuôi chúng vô hạn, các cu thọ nào chấp thuận cho Bí-sô ni tên ___ được nuôi chúng vô hạn thì im lặng, ai không chấp thuận thì nói. Ni tăng đã chấp thuận cho Bí-sô ni tên ___ được nuôi chúng vô hạn rồi vì im lặng, việc này nên nhớ giữ như vậy.
Lúc đó Thổ-la-Nan-đà chưa được Tăng chấp thuận cho nuôi chúng vô hạn mà tự tiện nuôi chúng vô hạn. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni, Tăng chưa tác pháp cho nuôi chúng vô hạn mà vội nuôi nhiều thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nuôi vô hạn là tùy ý muốn nuôi nhiều hay ít. Tăng tác pháp cho là Bạch-nhị-yết-ma. Tướng phạm như trên.
Nhiếp Tụng Mười Hai:
Độ người có thai, không dạy,
Không nhiếp hộ, không mang theo,
Đồng nữ hai giới, tánh ác,
Ưu sầu, sáu pháp hai giới.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Một: CHO NGƯỜI NỮ
CÓ THAI XUẤT GIA
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà độ người nữ có thai xuất gia, thời gian sau người nữ ấy sanh bị các Bà-la-
môn trưởng giả… chê trách: “Sa môn Thích nữ không trong sạch, ở trong một chùa có đủ hai pháp thế tục và tịnh hạnh”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni độ người nữ có thai xuất gia thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Hai: KHÔNG GIÁO GIỚI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà đối với người nữ đến xin không lựa chọn gia tộc liền cho xuất gia và thọ giới cụ túc, cũng không giáo giới, không chỉ dạy cho họ nên họ may y không như pháp, trên dưới không ngay thẳng, không biết phép tắc, muốn đi đâu thì đi. Các ni hỏi ra biết là đệ tử của Thổ-la-Nan-đa liền trách Thổ-la-Nan-đà: “Tại sao cô không giáo giới cho họ biết phép tắc?”, đáp: “Đệ tử của tôi quá nhiều làm sao dạy cho hết được”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm hop các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cho người xuất gia và thọ giới cụ túc mà không giáo giới cho họ thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà hoặc ai khác giống như vậy. Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Ba: KHÔNG NHIẾP HỘ
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà đối với người nữ đến xin đều cho xuất gia và cho thọ cụ giới mà không nhiếp hộ họ để họ mặc tình muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm. Có người ra cửa đứng trông ngóng, có người đứng dưới mái hiên, có người lên trên gác, có người đứng ở cửa sổ nhìn ra. Các ni hỏi ra biết được là đệ tử của Thổ-la-Nan-đà nên trách Thổ-la-Nan-đà: “Cô không nhiếp hộ đệ tử hay sao?”, đáp: “Đệ tử của tôi nhiều quá làm sao nhiếp hộ hết được”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cho người xuất gia và thọ giới cụ túc mà không nhiếp hộ họ thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Bốn: KHÔNG MANG THEO
BÊN MÌNH
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà độ người đã có chồng xuất gia, sau khi xuất gia rồi người đó nói với Thổ-la-Nan-đà: “Thánh giả, chồng tôi nếu biết tôi xuất gia ở đây chắc chắn sẽ ngăn trở tôi, cúi xin Thánh giả đưa tôi đến chỗ khác”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Tại sao cô lại muốn đến chỗ khác, bỏ nhà lìa thế tục tức là đến chỗ khác rồi”. Thời gian sau người chồng tìm đến bắt cởi bỏ pháp phục mặc lại đồ thế tục rồi dẫn về nhà, các Bí-sô ni nhân đi khất thực đến nhà gặp được liền hỏi: “Tại sao cô lại hoàn tục, nếu ở trong phật pháp mỗi mỗi niệm sẽ tăng trưởng phẩm thiện, nay trở về tục lụy chịu biết bao khổ lụy”, người kia nói: “Tôi không được tự do, thân lệ thuộc kẻ khác. Trước kia tôi có xin Thánh giả Thổ-la-Nan-đà đưa tôi đến ở chỗ khác nếu không tôi sẽ bị ngăn trở, nhưng tôi không được Ni-thổ-la-nan-đà hổ trợ, cho nên ngày nay tôi mới đến nỗi này”. Các ni trở về hỏi Thổ-la-Nan-đà: “Tại sao trước kia cô không đưa người phụ nữ đó đến ở chỗ khác để bị chồng ngăn trở đến nỗi như thế?”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Tôi không có việc làm gì khác là cho người có chồng xuất gia đều phải đưa họ đi đến ở chỗ khác hay sao?”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni cho người xuất gia mà không mang theo bên mình thì phạm Ba-dật-để-ca.
Không mang theo bên mình là có nạn sự mà không đưa đến chỗ khác lánh nạn. Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Lăm: ĐỒNG NỮ CHƯA ĐỦ HAI MƯƠI
MÀ CHO THỌ CỤ GIỚI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà cho đồng nữ mười tám tuổi xuất gia, cho hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp, tuổi chưa đủ hai mươi liền cho thọ giới cụ túc. Các ni hỏi: “Như Thế tôn đã dạy đồng nữ mười tám tuổi cho hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp, tuổi phải đủ hai mươi mới cho thọ cụ giới, tại sao cô biết tuổi chưa đủ hai mươi mà lại cho thọ cụ giới, như thế gọi là tịnh hay sao?”, đáp: “Tịnh hay không thì tôi cũng đã cho thọ rồi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế hoc xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết đồng nữ chưa đủ hai mươi mà cho thọ giới
cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Sáu: KHÔNG CHO HỌC SÁU PHÁP
LIỀN CHO THỌ CỤ GIỚI
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà cho đồng nữ đủ hai mươi tuổi xuất gia, tự nghĩ: “Nếu là mười tám tuổi thì mới cho học sáu pháp và sáu tùy pháp, nhưng người này đã đủ hai mươi cần gì phải hai năm học Chánh học pháp nữa”, nghĩ rồi liền cho đồng nữ này thọ giới cụ túc. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết đồng nữ đã đủ hai mươi, không cho hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp, liền cho thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Bảy: ĐỘ NGƯỜI NỮ TÁNH ÁC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà vào thành Thất-la-phiệt khất thực gặp một người nữ tánh tình hung dữ nhiều nóng giận, ưa thích đau tranh đang cùng các người nữ khác gây gổ, đầu tóc dựng ngược lên và hét như tiếng hét của Dã can khiến các người nữ kia đều ngã lăn ra đất. Thổ-la-Nan-đà liền suy nghĩ: “Ta hãy dụ dẫn người nữ này xuất gia để giúp sức cho ta khi ta cùng tranh cải”, nghĩ rồi liền phương tiện độ cho người nữ đó xuất gia. Thời gian sau, Thổ-la-Nan-đà tranh cải với một ni khác, người nữ tánh ác đó đứng một bên làm thinh xem, Thổ-la-Nan-đà giận nói: “Cô không thể sống cùng với tôi được nữa, tôi cho cô xuất gia sao cô không trợ giúp tôi mà đứng một bên làm thinh xem vậy hả?”, ni tánh ác nói: “Thánh giả, tôi không biết nguồn cơn sự việc thì làm sao trợ giúp”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Sau này nếu tôi cùng Đại-thế-chủ tranh cải thì cô hãy mắng là kẻ lén cạo đầu; nếu tôi cùng Liên-hoa-sắc tranh cải thì cô hãy mắng là kẻ bán sắc tự sống ở sáu thành lớn; nếu tôi cùng Pháp dự tranh cải thì cô hãy mắng là kẻ nhờ sứ giả mà được thọ giới cụ túc; nếu tôi cùng Sấu-kiều-đáp-di tranh cải thì cô hãy mắng là kẻ bị người khác đè bắt ăn thịt con. Cô nên dùng những lời này quở mắng họ để trợ giúp cho tôi”. Ni tánh ác nghe lời dặn nên mỗi khi Thổ-la-Nan-đà cùng ni khác tranh cải thì ni này cũng cùng tranh cải với các ni, các ni nói: “Ai lại độ người có tánh
hung dữ ưa tranh cải như thế xuất gia chứ”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người nữ có tánh hung dữ ưa thích đấu tranh mà cho xuất gia và thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Tánh ác là tánh hung dữ ưa thích đấu tranh. Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Tám: ĐỘ NGƯỜI NỮ NHIỀU ƯU SẦU
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà độ người nữ không còn thân tộc, trong lòng ưu sầu xuất gia, xuất gia rồi cứ luôn nhớ nghĩ đến thân tộc, buồn khóc rơi lệ vào đầu đêm cuối đêm. Các ni nghe tiếng khóc của ni kia, vì phải cảnh giác nên tâm tán loạn không the hệ niệm trong định. Các ni khuyên: “Đừng buồn khóc như vậy, đó không phải là pháp của người xuất gia”, ni kia không chịu nghe theo lời khuyên còn nói: “Các cô không biết đến nỗi khổ của người khác, thân tộc không còn lam sao tôi không ưu sầu cho được”. Các ni nói với nhau: “Ai lại độ người nữ nhiều ưu sầu như vậy xuất gia chứ”, một ni đáp là Thổ-la-Nan-đà đã độ. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người nữ có nhiều ưu não mà độ cho xuất gia thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Mười Chín: HỌC PHÁP CHƯA ĐỦ MÀ CHO
THỌ CẬN VIÊN
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà độ người nữ xuất gia cho hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp, học chưa đủ liền cho thọ giới cụ túc. Ni đó nói: “Thánh giả, Chánh học pháp con chưa học xong”, Thổ-la-Nan-đà nói: “Hễ thọ giới cụ túc thì Chánh học pháp tự đủ”, nói rồi liền cho kia thọ giới cụ túc. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người nữ chưa đủ hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp mà liền cho thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Hai Mươi: BIẾT HỌC SÁU PHÁP XONG
MÀ KHÔNG CHO THỌ GIỚI CỤ TÚC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà độ người nữ xuất gia, cho hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp xong, ni đó liền xin được thọ giới cụ túc, Thổ-la-Nan-đà nói: “Cô hãy học lại cho thật thông suốt rồi mới thọ giới cụ túc”. Ni kia im lặng, các ni hỏi vì sao không chịu thọ cụ túc giới liền đáp: “Con đã thưa thỉnh Thánh giả Thổla-Nan-đà nhưng Thánh giả bảo con nên học lại cho thông suốt rồi mới thọ giới cụ túc”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người đã hai năm học xong sáu pháp và sáu tùy pháp mà không cho thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Nhiếp Tụng Mười Ba:
Chưa giải phóng, cho tôi y,
Thu xếp, cho thọ hàng năm,
Gởi dục, nửa tháng, không tăng,
An cư, Tùy ý, trách chúng.
Học Xứ Thứ Một Trăm Hai Mươi Mốt: NGƯỜI CHỒNG CHƯA GIẢI
PHÓNG MÀ ĐỘ XUẤT GIA
Duyên khởi ở thành Thất-la-phiệt, lúc đó Thổ-la-Nan-đà nhân đi khất thực vào một nhà, thấy người vợ bị chồng đánh đang ngồi buồn rầu còn người chồng đã ra ngoài, Thổ-la-Nan-đà nói: “Hiền thủ, chúc bà không bịnh, bà có thức ăn gì cho tôi không?”, đáp: “Thánh giả, hiện tôi đang ưu phiền, không có thức ăn cho Thánh giả”, Thổ-la-Nan-đà hỏi nguyên do, bà vợ kể lại mọi việc, Thổ-la-Nan-đà nói: “Như vậy sao không xuất gia”, bà vợ vui mừng nói: “Đó là điều tôi mong muốn”. Thổ-la-Nan-đà liền dẫn đi và độ cho xuất gia, sau đó người chồng trở về không thấy vợ đâu, ngươi nhà nói: “Vợ ông đã đi xuất gia rồi”, người chồng hỏi là ai độ, người nhà nói là Ni-thổ-la-nan-đà, người chồng nghe rồi nói: “Vợ tôi xuất gia thì ai coi ngó việc nhà đây”. Thời gian sau Thổ-la-Nan-đà khất thực, người chong thấy liền hỏi: “Thánh giả cho vợ tôi xuất gia thì ai coi ngó việc nhà đây?”, nói rồi trong lòng phẩn nộ lấy y quấn vào cổ Thổ-la-Nan-đà kéo đi và nói: “Cô cho vợ tôi xuất gia, vậy cô hãy đến coi ngó việc nhà cho toi”. Các ni đem việc này bạch các Bí-
sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết người vợ chưa được chồng giải phóng mà độ cho xuất gia thì phạm Ba-dật-để-ca.
Người vợ là chỉ cho thê thiếp của người. Chồng chưa giải phóng là chồng chưa chấp thuận. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Hai Mươi Hai: THEO ĐÒI Y
Duyên khởi và nơi chốn như giới trươc, lúc đó Thổ-la-Nan-đà có Chánh học nữ đã hai năm học pháp rồi đến xin Thổ-la-Nan-đà cho thọ giới cụ túc, Thổ-la-Nan-đà nói: “Nếu cho tôi y tôi sẽ cho cô thọ giới cụ túc”, đáp: “Con không có phước lực, được cúng dương rất ít nên không có pháp y cho”. Sau đó các ni hỏi Chánh học nữ tại sao không chịu thọ giới cụ túc, liền đáp: “Con đã có thưa thỉnh Thánh giả Thổ-la-Nan-đà nhưng Thánh giả nói: Cho tôi y, tôi sẽ cho cô thọ giới cụ tuc”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni biết Chánh học nữ mong cầu thọ giới cụ túc mà bảo rằng: Hãy cho tôi y, tôi sẽ cho cô thọ giới cụ túc, Bí-sô này phạm Ba-dật-để-ca.
Giải thích và tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Hai Mươi Ba: BẢO NGƯỜI NỮ
THU XẾP GIA NGHIỆP
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Sấu-kiều-đáp-di vào thành khất thực đến nhà một trưởng giả, người chồng qua đời nên người vợ làm gia chủ, nhà rất giàu có, đông tôi tớ, kẻ hầu người hạ nhưng trong lòng luôn ưu sầu. Gia chủ thấy ni không cung kính cũng không cúng cho thức ăn, ni hỏi vì sao sầu não, gia chủ nói: “Thánh giả, chồng tôi chết, thân tộc không còn, tôi biết làm sao đây. Mũi tên độc phiền não trúng vào tim tôi nên lòng tôi luôn sầu não, tuy có tiền của đông tôi tớ nhưng chồng đã vắng bóng thì của cải này có ích gì”. Sấu-kiều-đáp-di nói: “Như vậy sao không xuất gia?”, gia chủ nói: “Cúi xin Thánh giả cho tôi xuất gia”, đáp: “Nếu bà có thể thu xếp gia nghiệp, từ bo hết lưới giăng của thế tục thì xuất gia không khó”. Gia chủ nghe rồi liền đem của cải đã có cúng thí cho Sa môn, Bà-la-môn và những người nghèo khó, cô nhi quả phụ, sau đó đến chỗ Sấu-kiều-đáp-di xin xuất gia, ni nói: “Nay tôi không thể cho bà xuất gia được, bà hãy đến
chỗ khác cầu xin”, gia chủ suy nghĩ: “Nay gia sản đã hết, cầu xuất gia lại không được”, nghĩ rồi liền đứng ưu sầu, lúc đó có nhiều ni trông thấy liền hỏi nguyên do, bà gia chủ kể lại mọi việc. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni bảo người nữ thế tục rằng: Bà hãy thu xếp gia nghiệp, tôi sẽ cho bà xuất gia. Người nữ này nghe lời thu xếp xong gia nghiệp, Bí-sô ni lại không độ cho xuất gia thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Sấu-kiều-đáp-di hoặc có ni khác giống như vậy. Người nữ thế tục là chỉ cho nữ gia chủ. Tướng phạm như trên.
Học Xứ Thứ Một Trăm Hai Mươi Bốn: MỖI NĂM ĐỀU CHO XUẤT
GIA VÀ THỌ GIỚI CỤ TÚC
Duyên khởi và nơi chốn như giới trước, lúc đó Thổ-la-Nan-đà mỗi năm đều cho người xuất gia và thọ giới cụ túc, đệ tử quá nhiều nên không đặt tên hết, khi muốn kêu hoặc kêu “Này Cầu-tịch nữ”, hoặc kêu “Này Chánh học nữ”… Các ni nghe rồi liền trách Thổ-la-Nan-đà: “Tại sao cô mỗi năm đếu độ cho người xuất gia?”, đáp: “Tôi cùng các oan gia kia độ cho họ xuất gia”, các ni hỏi ai là oan gia, Thổ-la-Nan-đà nói: “Cô chính là oan gia nên đối với tôi sanh lòng bất nhẫn”. Các ni đem việc này bạch các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật do việc này nhóm họp các Bí-sô ni hỏi sự thật, quở trách rồi chế học xứ như sau:
Nếu lại có Bí-sô ni mỗi năm đều cho người xuất gia và thọ giới cụ túc thì phạm Ba-dật-để-ca.
Nếu lại có Bí-sô ni là chỉ cho Thổ-la-Nan-đà và ni khác giống như vậy. Tướng phạm như trên.