Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Đại Bát Niết Bàn Tập 1

Kinh Đại Bát Niết Bàn Tập 1

Tác giả: Dịch Giả: HT. Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 685.
Kinh Đại Bát Niết Bàn (hoặc gọi ngắn là Kinh Niết Bàn) là tên gọi chung của hai bộ kinh hoàn toàn khác nhau về dung lượng và tư tưởng. Do đó, bộ kinh này sẽ thuộc về các bộ tạng tùy theo hệ truyền thừa Phật giáo:

1. Trong Nam truyền Phật giáo (Hệ Kinh tạng Pali)

Ở hệ nguyên thủy, kinh có tên là Mahāparinibbāṇa Sutta.
• Thuộc bộ: Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya), là bài kinh số 16.
• Nội dung: Là một bài kinh lịch sử, ghi chép chi tiết về chuyến du hành cuối cùng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ thành Vương Xá đến Sa-la song thọ (thành Câu-thi-na), những lời dặn dò thiết thực cuối cùng cho hàng môn đồ và sự kiện Ngài nhập diệt. Bản dịch tiếng Việt nổi tiếng nhất thuộc về Cố Hòa thượng Thích Minh Châu.

2. Trong Bắc truyền Phật giáo (Hệ Hán tạng Đại thừa)

Ở hệ Đại thừa, kinh có tên chữ Hán là Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).
• Thuộc bộ: Bộ Niết-bàn (là bộ thứ 7 trong 28 bộ loại của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh). Đây cũng được coi là một trong "Năm bộ kinh điển lớn" của Phật giáo Đại thừa.
• Nội dung: Đây là một bộ kinh vô cùng đồ sộ (bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm gồm 40 quyển, bản dịch của ngài Pháp Hiển gồm 36 quyển). Kinh không tập trung vào yếu tố lịch sử mà đi sâu vào giáo lý tối thượng của Đại thừa: khẳng định Pháp thân Như Lai là thường trụ (không mất đi), Niết-bàn có đủ 4 đức tính Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, và khẳng định tất cả chúng sinh đều có bản tính Phật (Phật tính). Bản dịch tiếng Việt phổ biến nhất là của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh.
(Mẹo phân biệt: Ngoài ra, trong hệ kinh tạng Bắc truyền cũng có một bản kinh ngắn tương đương với bài kinh bên Trường Bộ Pali, nằm trong bộ Kinh Trường A-hàm, mang tên là Kinh Du Hành).

Chương 12: X. Phẩm Tứ Đế (Trang 231 - 234)

X. Phẩm Tứ Đế (Trang 231 - 234)
X 
PHẨM TỨ ĐẾ

THỨ MƯỜI 

Nầy Ca-Diếp ! Nói là “ khổ” đó, chẳng gọi là thánh đế. Tại sao vậy? Vì nếu nói “khổ” là khổ thánh-đế, thời tất cả trâu, dê, lừa, ngựa cùng người địa ngục lẽ ra có thánh-đế.
Nầy Ca-Diếp ! Nếu có người nào chẳng biết cảnh giới rất sâu của Như-Lai với pháp thân vi mật thường trụ không biến đổi, cho là thực thân không phải pháp thân, chẳng biết đạo đức oai lực của Như-Lai, đây gọi là “khổ”.
Do vì chẳng biết nên nơi “pháp” thấy là “phi-pháp”, nơi “phi pháp” thấy là “pháp”. Phải biết người nầy ắt phải đọa vào ác thú mãi trôi lăn trong vòng sanh tử, thêm lớn nghiệp hoặc chịu nhiều khổ não.
Nếu có người hay biết Như-Lai thường trụ không có biến đổi, hoặc nghe tiếng nói hai chữ “thường
trụ” một lần phớt qua tai, bèn được sanh lên cõi trời. Về sau, lúc được giải thoát, mới được chứng biết Như-Lai thường trụ không có biến đổi. Khi đã chứng biết bèn tự nói : “ Ngày trước, tôi từng nghe nghĩa thường trụ nầy, nay được giải thoát mới được chứng biết. Đối với bổn tế, vì không rõ biết, nên tôi phải luân hồi sanh tử xoay lăn vô cùng, ngày nay mới bắt đầu đặng chứng biết như thật.”
Nếu người nào biết như vậy, thiệt là tu khổ-đế, được nhiều lợi ích lớn. Nếu người không biết, dầu là siêng tu nhưng không được lợi ích, đây gọi là biết : “khổ”, gọi là “khổ thánh-đế”.
Nếu người nào không tu tập được như vậy, thời gọi là “khổ”, chẳng phải “khổ thánh-đế”.
“ Khổ-tập-đế”là, nơi trong chơn pháp chẳng sanh chơn trí. Thọ lấy vật bất tịnh, tức là nô tỳ, hay nói phi pháp là chánh pháp, dứt diệt chánh pháp chẳng cho còn lâu. Vì nhơn duyên nầy mà không biết được pháp tánh, vì không biết mà luân hồi sanh tử chịu nhiều sự khổ não, chẳng được sanh cõi trời và chánh giải thoát, Nếu có thâm trí chẳng hoại chánh pháp do nhơn duyên nầy được sanh cõi trời và chánh giải thoát.
Nếu có người không biết khổ tập đế, mà nói chánh pháp không có thường trụ. Đây đều là diệt pháp. Vì nhơn duyên nầy nên trong vô lượng kiếp lưu chuyển sanh tử chịu các sự khổ não.
Nếu có thể biết pháp thường trụ chẳng khác, đây gọi là biết “tập”, gọi là “tập thánh-đế”. Nếu người không thể tu tập được như vậy thời gọi là “tập”, chẳng phải “tập thánh-đế”.
Khổ diệt-đế là, nếu có người tu học nhiều pháp không thời là chẳng tốt. Bởi vì sao? Vì dứt tất cả pháp, vì hư hoại chơn pháp tạng Như-lai. Tu học như trên đây gọi là tu pháp không. Người tu khổ diệt-đế thời nghịch lại tất cả pháp tu của ngoại đạo. Nếu nói rằng tu pháp không là diệt-đế đó, thời tất cả ngoại đạo cũng tu pháp không, đáng lẽ họ có diệt-đế, nếu có người tu tập Như-Lai tạng : Vô ngã không-tịch, người nầy nơi vô lượng đời lưu chuyển thọ khổ trong vòng sanh tử. Nếu có người chẳng tu tập như vậy, dầu có phiền não nhưng chóng có thể diệt trừ, vì người nầy biết tạng bí mật Như-Lai.
Nếu có người nói rằng có tạng Như-Lai, dầu chẳng thấy được nhưng nếu có thể diệt trừ tất cả phiền não đây thời đặng chứng nhập. Nếu phát tâm như trên đây, nhơn duyên trong một niệm, có thể đặng tự tại đối với tất cả pháp.
Nếu người nào có thể tu tập Diệt-đế như vậy chính là đệ tử của ta. Bằng không, thời gọi là tu pháp không chẳng phải diệt Thánh-đế vậy.
Đạo Thánh-đế tức là Phật-bảo, Pháp-bảo, Tăng-bảo và chánh giải thoát.
Có hạng chúng sanh điên đảo cho rằng không Phật, không Pháp, không Tăng và không chánh giải thoát, sanh tử lưu chuyển dường như huyễn hoá. Do kiến chấp nầy nên lưu chuyển ba cõi chịu nhiều khổ não.
Nếu người có thể phát tâm thấy rằng Như Lai thường trụ không biến đổi, Pháp, Tăng giải thoát cũng thường trụ như vậy. Nhờ một niệm nầytrong vô lượng đời tùy ý mà đặng quả báo tự tại.
Như ta thuở trước, vì bốn thứ điên đảo, chẳng phải pháp chấp là pháp, nên mắc lấy vô lượng nghiệp quả ác. Ngày nay ta đã diệt hết những kiến chấp như vậy, nên đặng thành Phật vô thượng chánh giác. Đây gọi là đạo Thánh-đế.
Nếu có người cho rằng Tam-bảo là vô thường, đây là lối tu hư vọng chẳng phải đạo Thánh-đế.
Nếu người tu tập Tam-bảo là thường trụ, người nầy là đệ tử của ta, chơn chánh tu tập thấy bốn pháp Thánh-đế. Trên đây gọi là bốn Thánh đế.
Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật rằng : “ Thế-tôn ! Nay tôi mới biết tu tập bốn pháp Thánh-đế rất sâu”.
/25
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »