Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu dịch. Năm xuất bản: 2001. Số trang: 757.
Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya) thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) trong Kinh tạng Pali (Phật giáo Nam truyền / Nguyên thủy / Thượng tọa bộ). Đây là bộ đại kinh thứ năm – cũng là bộ kinh có số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú nhất trong hệ thống năm bộ kinh Nikāya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ).
Trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền), không có một bộ tạng tương đương hoàn chỉnh cho Kinh Tiểu Bộ giống như bốn bộ A-hàm. Thay vào đó, các tác phẩm của Tiểu Bộ nằm rải rác trong nhiều bộ loại khác nhau của Hán tạng (như Kinh Tập bộ, Bản Duyên bộ, hay Tạng Luận).
Cấu trúc đặc biệt của Kinh Tiểu Bộ
Mặc dù mang tên là "Tiểu" (nghĩa gốc là nhỏ nhặt, hỗn hợp, nhặt nhạnh), bộ kinh này không hề nhỏ về mặt dung lượng. Chữ "Tiểu" ở đây ám chỉ tập hợp các bài kinh, thể thơ, sự tích mang nhiều phong cách văn học khác nhau mà không thể xếp vào bốn bộ kinh trước.
Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền (đặc biệt là bản kết tập tại Giáo hội Miến Điện), Kinh Tiểu Bộ gồm 15 tập tác phẩm độc lập (một số nơi tính là 18 tập):
1. Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha): Tập hợp các bài kinh ngắn dùng cho người mới xuất gia hoặc tụng niệm hằng ngày.
2. Kinh Pháp Cú (Dhammapada): 423 câu kệ ngôn tinh hoa, là tác phẩm Phật giáo phổ biến nhất thế giới.
3. Phật Tự Thuyết (Udāna): Những lời dạy bộc phát từ tâm đắc của Đức Phật khi chứng kiến các sự kiện đặc biệt.
4. Như Thị Thuyết (Itivuttaka): Các bài kinh ngắn bắt đầu bằng cụm từ "Đây là điều Đức Phật đã nói".
5. Kinh Tập (Sutta Nipāta): Tập hợp các bài kinh cổ xưa nhất viết bằng thể thơ, chứa đựng triết lý nguyên sơ sâu sắc.
6. Thiên Cung Sự Tích (Vimānavatthu): Kể về phước báu và cảnh giới an lạc của các vị chư thiên cõi trời.
7. Ngạ Quỷ Sự Tích (Petavatthu): Kể về quả báo đau khổ của các chúng sinh đọa làm ngạ quỷ do ác nghiệp đời trước.
8. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā): Những bài thơ tự sự, ca ngợi niềm vui giải thoát của các vị Đại Đức tăng.
9. Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā): Những bài thơ chứng ngộ đầy xúc động của các vị Tỳ-kheo-ni.
10. Bản Sanh / Kinh Bổn Sanh (Jātaka): Tập hợp 547 câu chuyện tiền thân, kể về các kiếp tu hành Bồ-tát của Đức Phật Thích Ca (như chuyện xả thân cứu cọp, chuyện thỏ hy sinh...).
11. Nghĩa Thích (Niddesa): Tập tài liệu cổ giải thích ý nghĩa các bài kinh trong Kinh Tập.
12. Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga): Tập luận giải mang tính phân tích phân biện sâu sắc về giáo lý.
13. Thí Dụ (Apadāna): Các câu chuyện tiểu sử bằng thơ về tiền kiếp của Phật và các vị A-la-hán.
14. Phật Chủng Tánh (Buaddhavamsa): Lịch sử và tiền kiếp của 24 vị Đức Phật quá khứ trước Đức Phật Thích Ca.
15. Sở Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka): Các bài thơ kể về cách Đức Phật thực hành mười ba-la-mật trong các tiền kiếp.
(Lưu ý: Một số bài kinh hoặc cuốn kinh riêng lẻ đã xuất hiện trong các câu hỏi trước của bạn như Kinh Hiền Ngu Pali hay Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên đều có mối liên hệ mật thiết hoặc nằm trong hệ thống phân loại mở rộng của bộ Kinh Tiểu Bộ này).
Bản dịch tiếng Việt trọn vẹn và uy tín nhất của bộ Kinh Tiểu Bộ (từ tập 1 đến tập 10) từ tiếng Pali do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu thực hiện, các tập còn lại do các bậc giáo phẩm hệ phái Nam truyền dịch thuật.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ đại kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về Kinh Pháp Cú (tác phẩm nổi tiếng nhất trong bộ này)?
• Hoặc bạn muốn khám phá một câu chuyện tiền thân ý nghĩa trong tập Kinh Bổn Sanh (Jātaka)?
Ngài suy nghĩ 'Mẹ ta muốn ta đến đến chỗ ta giải thoát khỏi phiền não, như vậy đây là dịp cho ta đạt được giải thoát hoàn toàn, không có sầu não buồn phiền'.
Rồi ngài cố gắng triển khai thiền quán, chứng quả A-la-hán. Vì rằng lời khuyên của mẹ giúp ngài tinh tấn hành trì chứng quả, nên ngài nói lại bài kệ ấy.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Malla, trong gia đình hoàng tộc và được đặt tên là Sìha. Khi thấy đức Phật, ngài bị cảm hóa, đảnh lễ và ngồi xuống một bên, bậc Đạo Sư biết được tâm tư của ngài, thuyết pháp cho ngài, ngài khởi lòng tin, xuất gia và lấy một đề tài vào trong rừng để thiền quán. Tâm tư của ngài bị nhiều đối tượng ám ảnh, ngài không thể thiền định, bậc Đạo Sư thấy vậy, liền nói lên với ngài bài kệ như sau:
Nhờ vậy ngài có thể triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Lúc nói lên chánh trí của mình, ngài đọc lại bài kệ trên.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Sàvatthi, con một Bà-la-môn và được đặt tên là Nita. Khi lớn lên, ngài nghĩ: 'Các tu sĩ Thích-ca thật may mắn, được cúng dường đầy đủ các vật cần dùng. Thật là một đời sống thoải mái, đời sống của một Tu sĩ'. Rồi ngài xin xuất gia để được sống thoải mái, không chú ý đến tu tập, ăn no, nói chuyện nhảm nhí, và ban đêm ngủ dài. Bậc Đạo Sư thấy được thiện duyên của ngài đời trước, nên nói lên bài kệ này để giáo giới ngài.
(XC) Sàmidatta (Thera. 13)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con một Bà-la-môn, được đặt tên là Sàmidatta. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài nghe uy lực của đức Phật, và đi đến tinh xá với những cư sĩ để nghe bậc Thế Tôn thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Nhưng vì thiếu kinh nghiệm trong một thời gian, ngài không có nhiệt tâm tu tập, cuối cùng, lại được nghe đức Phật thuyết pháp, ngài trở nên phấn khởi, nhiệt tâm và chứng thực quả A-la-hán.
Về sau, các Tỷ-kheo hỏi ngài: 'Làm sao Hiền giả chứng được pháp Thượng nhân?' Và ngài nói lên hiệu năng của giáo pháp, sự tu chứng pháp và tùy pháp. Ngài tuyên bố chánh trí của ngài trong bài kệ như sau: