Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Tiểu Bộ 4

Kinh Tiểu Bộ 4

Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu dịch. Năm xuất bản: 2001. Số trang: 723.

Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya) thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) trong Kinh tạng Pali (Phật giáo Nam truyền / Nguyên thủy / Thượng tọa bộ). Đây là bộ đại kinh thứ năm – cũng là bộ kinh có số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú nhất trong hệ thống năm bộ kinh Nikāya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ).
Trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền), không có một bộ tạng tương đương hoàn chỉnh cho Kinh Tiểu Bộ giống như bốn bộ A-hàm. Thay vào đó, các tác phẩm của Tiểu Bộ nằm rải rác trong nhiều bộ loại khác nhau của Hán tạng (như Kinh Tập bộ, Bản Duyên bộ, hay Tạng Luận).

Cấu trúc đặc biệt của Kinh Tiểu Bộ

Mặc dù mang tên là "Tiểu" (nghĩa gốc là nhỏ nhặt, hỗn hợp, nhặt nhạnh), bộ kinh này không hề nhỏ về mặt dung lượng. Chữ "Tiểu" ở đây ám chỉ tập hợp các bài kinh, thể thơ, sự tích mang nhiều phong cách văn học khác nhau mà không thể xếp vào bốn bộ kinh trước.
Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền (đặc biệt là bản kết tập tại Giáo hội Miến Điện), Kinh Tiểu Bộ gồm 15 tập tác phẩm độc lập (một số nơi tính là 18 tập):
1. Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha): Tập hợp các bài kinh ngắn dùng cho người mới xuất gia hoặc tụng niệm hằng ngày.
2. Kinh Pháp Cú (Dhammapada): 423 câu kệ ngôn tinh hoa, là tác phẩm Phật giáo phổ biến nhất thế giới.
3. Phật Tự Thuyết (Udāna): Những lời dạy bộc phát từ tâm đắc của Đức Phật khi chứng kiến các sự kiện đặc biệt.
4. Như Thị Thuyết (Itivuttaka): Các bài kinh ngắn bắt đầu bằng cụm từ "Đây là điều Đức Phật đã nói".
5. Kinh Tập (Sutta Nipāta): Tập hợp các bài kinh cổ xưa nhất viết bằng thể thơ, chứa đựng triết lý nguyên sơ sâu sắc.
6. Thiên Cung Sự Tích (Vimānavatthu): Kể về phước báu và cảnh giới an lạc của các vị chư thiên cõi trời.
7. Ngạ Quỷ Sự Tích (Petavatthu): Kể về quả báo đau khổ của các chúng sinh đọa làm ngạ quỷ do ác nghiệp đời trước.
8. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā): Những bài thơ tự sự, ca ngợi niềm vui giải thoát của các vị Đại Đức tăng.
9. Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā): Những bài thơ chứng ngộ đầy xúc động của các vị Tỳ-kheo-ni.
10. Bản Sanh / Kinh Bổn Sanh (Jātaka): Tập hợp 547 câu chuyện tiền thân, kể về các kiếp tu hành Bồ-tát của Đức Phật Thích Ca (như chuyện xả thân cứu cọp, chuyện thỏ hy sinh...).
11. Nghĩa Thích (Niddesa): Tập tài liệu cổ giải thích ý nghĩa các bài kinh trong Kinh Tập.
12. Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga): Tập luận giải mang tính phân tích phân biện sâu sắc về giáo lý.
13. Thí Dụ (Apadāna): Các câu chuyện tiểu sử bằng thơ về tiền kiếp của Phật và các vị A-la-hán.
14. Phật Chủng Tánh (Buaddhavamsa): Lịch sử và tiền kiếp của 24 vị Đức Phật quá khứ trước Đức Phật Thích Ca.
15. Sở Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka): Các bài thơ kể về cách Đức Phật thực hành mười ba-la-mật trong các tiền kiếp.
(Lưu ý: Một số bài kinh hoặc cuốn kinh riêng lẻ đã xuất hiện trong các câu hỏi trước của bạn như Kinh Hiền Ngu Pali hay Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên đều có mối liên hệ mật thiết hoặc nằm trong hệ thống phân loại mở rộng của bộ Kinh Tiểu Bộ này).
Bản dịch tiếng Việt trọn vẹn và uy tín nhất của bộ Kinh Tiểu Bộ (từ tập 1 đến tập 10) từ tiếng Pali do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu thực hiện, các tập còn lại do các bậc giáo phẩm hệ phái Nam truyền dịch thuật.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ đại kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về Kinh Pháp Cú (tác phẩm nổi tiếng nhất trong bộ này)?
• Hoặc bạn muốn khám phá một câu chuyện tiền thân ý nghĩa trong tập Kinh Bổn Sanh (Jātaka)?

Chương 116: Chương I. Phẩm Hamsa 115. Chuyện Người Giáo Giới (Trang 695 - 699)

Chương I. Phẩm Hamsa 115. Chuyện Người Giáo Giới (Trang 695 - 699)
Trưởng lão chứng được quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, "Nghĩ nhiều" và "Nghĩ  ít" là hai Tỷ-Kheo Trưởng lão này, còn Nghĩ vừa là Ta vậy.

Trưởng lão chứng được quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, "Nghĩ nhiều" và "Nghĩ  ít" là hai Tỷ-Kheo Trưởng lão này, còn Nghĩ vừa là Ta vậy.
Nàng khuyên răn các Tỷ-kheo-ni như vậy. Nghe nàng nói, không một Tỷ-kheo-ni nào dám quay đầu ngó về địa phương ấy.
Một hôm, trên đường khất thực tại đấy, khi đi vội vào một ngôi nhà, nàng bị một con cừu hung dữ húc, làm nàng gãy xương. Người ta chạy đến, cột hai khúc xương gãy làm một, đặt Tỷ-kheo-ni ấy nằm trên chiếc cáng, khiêng nàng đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni. Các Tỷ-kheo-ni nhạo cười nàng và nói:
- Tỷ-kheo-ni này khuyên các Tỳ-kheo-ni khác đừng đi, nhưng tự mình đi đến địa phương ấy, do vậy bị gãy xương.
Việc làm của Tỷ-kheo-ni này không bao lâu được chúng Tỷ-kheo biết. Một hôm, tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo nói về hạnh phi công đức của Tỷ-kheo-ni ấy:
- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo-ni ấy khuyên răn các người khác, còn tự mình đi đến tại chỗ ấy, nên bị con cừu hung dữ húc cho đến gãy xương.
Bậc Ðạo Sư đến, hỏi các Tỷ-kheo đang thảo luận vấn đề gì, khi biết vấn đề ấy, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay, mà xưa kia, nàng cũng đã lên tiếng khuyên răn, nhưng tự mình lại
không làm theo lời răn, cho nên nàng thọ khổ lâu dài.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con chim, lớn lên, trở thành con chim chúa, có hàng trăm con chim vây quanh, và trú ở Tuyết Sơn. Khi Bồ-tát sống tại đấy, có một con chim cái hung dữ đi theo một con đường lớn để tìm đồ ăn. Con chim cái này lấy được lúa, đậu, hột giống... từ các cỗ xe rơi xuống. Nó suy nghĩ: "Nay ta phải làm thế nào để các con chim khác đừng đến chỗ này". Nghĩ vậy, nó khuyên răn đàn chim như sau:
- Con đường lớn đầy nguy hiểm, có voi, có ngựa, có cỗ xe do các con bò hung dữ kéo và các vật nguy hiểm khác qua lại. Không thể nào cất cánh bay lên mau được. Chớ nên đi trên đường ấy.
Vì lời khuyên ấy, đàn chim gọi nó là "Con chim cái khuyên răn". Một hôm, đang tìm mồi trên con đường lớn, nghe tiếng cỗ xe chạy mau, con chim cái ấy quay cổ lại nhìn, nghĩ rằng xe còn xa, nên vẫn đi. Nhưng cỗ xe ấy đến gần nó mau như gió. Trong khi nó không thể bay lên được, bánh xe cán phải nó, và xe vẫn chạy vùn vụt.
Khi họp đàn chim, chim chúa không thấy nó, bèn hỏi:
- Con chim cái khuyên răn sao không có mặt? Hãy đi tìm nó.
Các con chim đi tìm, thấy nó bị cán đứt đôi, và về báo tin cho chim chúa biết, chim chúa nói:
- Chim cái ấy ngăn chặn các con chim khác, còn tự mình lại đi tại đấy nên bị cán đứt đôi.
Rồi chim chúa đọc bài kệ:
Ai khuyên răn kẻ khác,
Tự mình chạy theo tham,
Bị gãy cánh nằm xuống,
Bánh xe giết đời chim.

Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, con chim cái khuyên răn là Tỷ-kheo-ni khuyên răn, còn chim chúa là Ta vậy.
/122
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »