Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Tiểu Bộ 6

Kinh Tiểu Bộ 6

Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu dịch. Năm xuất bản: 2002. Số trang: 746.

Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya) thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) trong Kinh tạng Pali (Phật giáo Nam truyền / Nguyên thủy / Thượng tọa bộ). Đây là bộ đại kinh thứ năm – cũng là bộ kinh có số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú nhất trong hệ thống năm bộ kinh Nikāya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ).
Trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền), không có một bộ tạng tương đương hoàn chỉnh cho Kinh Tiểu Bộ giống như bốn bộ A-hàm. Thay vào đó, các tác phẩm của Tiểu Bộ nằm rải rác trong nhiều bộ loại khác nhau của Hán tạng (như Kinh Tập bộ, Bản Duyên bộ, hay Tạng Luận).

Cấu trúc đặc biệt của Kinh Tiểu Bộ

Mặc dù mang tên là "Tiểu" (nghĩa gốc là nhỏ nhặt, hỗn hợp, nhặt nhạnh), bộ kinh này không hề nhỏ về mặt dung lượng. Chữ "Tiểu" ở đây ám chỉ tập hợp các bài kinh, thể thơ, sự tích mang nhiều phong cách văn học khác nhau mà không thể xếp vào bốn bộ kinh trước.
Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền (đặc biệt là bản kết tập tại Giáo hội Miến Điện), Kinh Tiểu Bộ gồm 15 tập tác phẩm độc lập (một số nơi tính là 18 tập):
1. Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha): Tập hợp các bài kinh ngắn dùng cho người mới xuất gia hoặc tụng niệm hằng ngày.
2. Kinh Pháp Cú (Dhammapada): 423 câu kệ ngôn tinh hoa, là tác phẩm Phật giáo phổ biến nhất thế giới.
3. Phật Tự Thuyết (Udāna): Những lời dạy bộc phát từ tâm đắc của Đức Phật khi chứng kiến các sự kiện đặc biệt.
4. Như Thị Thuyết (Itivuttaka): Các bài kinh ngắn bắt đầu bằng cụm từ "Đây là điều Đức Phật đã nói".
5. Kinh Tập (Sutta Nipāta): Tập hợp các bài kinh cổ xưa nhất viết bằng thể thơ, chứa đựng triết lý nguyên sơ sâu sắc.
6. Thiên Cung Sự Tích (Vimānavatthu): Kể về phước báu và cảnh giới an lạc của các vị chư thiên cõi trời.
7. Ngạ Quỷ Sự Tích (Petavatthu): Kể về quả báo đau khổ của các chúng sinh đọa làm ngạ quỷ do ác nghiệp đời trước.
8. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā): Những bài thơ tự sự, ca ngợi niềm vui giải thoát của các vị Đại Đức tăng.
9. Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā): Những bài thơ chứng ngộ đầy xúc động của các vị Tỳ-kheo-ni.
10. Bản Sanh / Kinh Bổn Sanh (Jātaka): Tập hợp 547 câu chuyện tiền thân, kể về các kiếp tu hành Bồ-tát của Đức Phật Thích Ca (như chuyện xả thân cứu cọp, chuyện thỏ hy sinh...).
11. Nghĩa Thích (Niddesa): Tập tài liệu cổ giải thích ý nghĩa các bài kinh trong Kinh Tập.
12. Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga): Tập luận giải mang tính phân tích phân biện sâu sắc về giáo lý.
13. Thí Dụ (Apadāna): Các câu chuyện tiểu sử bằng thơ về tiền kiếp của Phật và các vị A-la-hán.
14. Phật Chủng Tánh (Buaddhavamsa): Lịch sử và tiền kiếp của 24 vị Đức Phật quá khứ trước Đức Phật Thích Ca.
15. Sở Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka): Các bài thơ kể về cách Đức Phật thực hành mười ba-la-mật trong các tiền kiếp.
(Lưu ý: Một số bài kinh hoặc cuốn kinh riêng lẻ đã xuất hiện trong các câu hỏi trước của bạn như Kinh Hiền Ngu Pali hay Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên đều có mối liên hệ mật thiết hoặc nằm trong hệ thống phân loại mở rộng của bộ Kinh Tiểu Bộ này).
Bản dịch tiếng Việt trọn vẹn và uy tín nhất của bộ Kinh Tiểu Bộ (từ tập 1 đến tập 10) từ tiếng Pali do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu thực hiện, các tập còn lại do các bậc giáo phẩm hệ phái Nam truyền dịch thuật.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ đại kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về Kinh Pháp Cú (tác phẩm nổi tiếng nhất trong bộ này)?
• Hoặc bạn muốn khám phá một câu chuyện tiền thân ý nghĩa trong tập Kinh Bổn Sanh (Jātaka)?

Chương 44: Chương IV. Phẩm Bốn Bài Kệ 305. Chuyện Thử Thách Giới Đức (Trang 244 - 248)

Chương IV. Phẩm Bốn Bài Kệ 305. Chuyện Thử Thách Giới Đức (Trang 244 - 248)



305. CHUYỆN THỬ THÁCH GIỚI ĐỨC
(Tiền thân Sìlavìmamasana)
Thật ra chẳng việc nào tội lỗi ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên về sự chê trách tội lỗi.
Các tình tiết sẽ được kể trong số 459. Tiền thân Pànìya, trong Chương Mười một. Sau đây là phần tóm tắt.
Năm trăm Tỷ-kheo sống ở Kỳ Viên, gần đến lúc nửa đêm hôm ấy, đi sâu vào cuộc thảo luận về dục lạc. Bấy giờ bậc Ðạo Sư vẫn luôn luôn trông chừng các Tỷ-kheo suốt sáu thời khắc của đêm ngày, giống như kẻ chột cẩn thận giữ gìn con mắt còn lại của mình, như người cha chăm sóc đứa con một, như con trâu rừng giữ kỹ cái đuôi của nó. Giữa đêm khuya, do thiên nhãn Ngài quan sát khắp Kỳ Viên và chứng kiến việc các Tỷ-kheo bàn thảo kia; tựa như bọn cướp đã tìm thấy lối vào cung điện của một đại vương, Ngài mở cửa Hương phòng, gọi Ànanda và sai ông họp các Tỷ-kheo trong Tinh xá trên con đường lát vàng (tức Kỳ
Viên) và bảo dọn cho Ngài một chỗ ngồi trước Hương phòng. Tôn giả Ànanda làm theo lời dạy rồi báo cho Ngài hay. Bấy giờ, bậc Ðạo Sư ngồi vào chỗ ngồi đã chọn sẵn, bảo các Tỷ-kheo họp lại rồi dạy:
- Này các Tỷ-kheo, các trí giả ngày xưa nghĩ rằng không thể che dấu hành động sai trái và vì vậy họ cố tránh làm điều xấu.
Rồi Ngài kể cho họ một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài được một vị thầy nổi danh thiên hạ trú trong thành phố ấy dạy dỗ. Ngài đứng đầu số năm trăm học trò. Bấy giờ ông thầy ấy có một con gái đã đến tuổi dậy thì, ông ta nghĩ: "Ta sẽ thử đức hạnh của các thanh niên này, ta sẽ gả con gái ta cho kẻ nào có đức hạnh cao nhất".
Một hôm, ông bảo các học trò:
- Này các bạn, ta có một con gái mới lớn, ta muốn kén chồng cho nó, nhưng ta phải có quần áo đẹp và đồ trang sức thích hợp cho nó. Các bạn hãy lấy cắp vài thứ ấy mà đừng cho các bạn khác biết rồi mang đến cho ta. Khi nào không ai trông thấy thì ta sẽ nhận, còn nếu các bạn mang món đồ bị người ta trông thấy thì ta sẽ từ chối.
Các học trò đều đồng ý và nói:
- Tốt lắm.
Thế là từ hôm ấy, họ lấy cắp quần áo, đồ trang sức mà các bạn bè không biết rồi mang đến cho thầy. Ông sắp xếp các thứ mà mỗi người mang đến ở từng nơi riêng biệt. Về phần Bồ-tát, ngài chẳng lấy cắp thứ gì cả.
Thấy thế, ông thầy bảo:
- Còn bạn, bạn ơi, bạn chẳng mang đến gì cho ta ư?
Ngài đáp:
- Thưa thầy, đúng thế.
Thầy hỏi:
- Sao thế bạn?
Ngài trả lời:
- Nếu lấy đồ vật mà không kín đáo thì thầy không nhận. Nhưng con thấy rằng không thể nào che giấu hành động xấu của mình được.
Và để chứng minh chân lý này, ngài đọc hai bài kệ sau đây:
Thật ra chẳng việc nào tội lỗi
Lại kín bưng đối với đời này.
Kẻ ngu tưởng kín đáo thay,
Thần linh cũng đã thấy ngay hết rồi.

Ðiều bí mật chẳng nơi giấu được,
Với tôi đây không nốt cái không.
Ở nơi chẳng có ai cùng
Nhưng tôi có đó, hết luôn không rồi!

Ông thầy rất bằng lòng với lời lẽ ấy, liền bảo:
- Này bạn, nhà ta không thiếu của cải, nhưng ta muốn gả con gái ta cho một người có đức hạnh và ta đã làm như thế để thử các thanh niên ấy. Bây giờ chỉ có bạn là xứng đáng với con gái ta.
Thế rồi ông trang sức cho con gái và đem gả cho Bồ-tát, còn với những người kia ông bảo:
- Hãy lấy lại mọi thứ mà các anh đã mang đến cho ta và đưa về nhà của các anh đi.
*
Sau đó, bậc Ðạo Sư dạy:
- Này các Tỷ-kheo, thế đấy, những người học trò xấu kia vì tính không thật thà đã không lấy được cô thiếu nữ ấy, trong khi chàng trai trẻ khôn ngoan kia, do đức hạnh tốt, đã lấy được nàng làm vợ.
Rồi ngài đọc bài kệ khác:
Cậu Hoang, cậu Khánh, cậu Vui
Lại thêm cậu Dễ, cậu Tồi, cậu Vinh
Thảy mong được vợ cho mình
Lầm đường lạc nẻo mà thành lông bông.

Thấy rõ Pháp từ trong tuổi trẻ,
Luôn chấp trì Chân đế mà thôi.
Do lòng can đảm cao vời,
Bà-la-môn lấy được người vợ kia.
*
Sau khi chấm dứt bài thuyết giảng trang trọng này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và ở các phần kết thúc về Tứ Ðế, năm trăm vị Tỷ-kheo kia đạt được Thánh quả.
Bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất là người thầy, còn chính Ta là chàng trai trẻ tuổi sáng trí kia.
/135
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »