Tác giả: Đoàn Trung Còn- Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giả. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 363.
Ý kiến bạn đọc
BỒ TÁT
Lúc ấy, Phật bảo Bồ Tát Di-lặc: (1) “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
Bồ Tát Di-lặc bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con vì vị Thiên vương ở cung trời Đâu-suất cùng quyến thuộc của người mà giảng thuyết công hạnh của địa vị Bất thối chuyển. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Thưa Bồ Tát Di-lặc! Đức Thế Tôn có thọ ký cho nhân giả: Một đời nữa, ngài sẽ đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do đời sống nào mà được sự thọ ký ấy? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu
___________________
(1) Bồ Tát Di-lặc (Sanskrit: Maitreya, Pàli: Metteyya) dịch nghĩa là Từ Thị , cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (, Sanskrit, Pàli: Ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa.
_________________
(1) Khi một vị Bồ Tát giác ngộ viên mãn, thành Phật, gọi là đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Đây là cách phiên âm từ tiếng Phạn anuttarā-saṃyak-saṃbodhi, Hán dịch nghĩa là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mô tả sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật.
Vì vậy, ngài đừng đem pháp ấy mà khuyến dụ chư thiên tử. (1) Thật không có việc phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cũng không có việc thối chuyển.
‘Di-lặc! Ngài nên khiến chư thiên tử ấy lìa bỏ cái ý kiến phân biệt Bồ-đề. Tại sao vậy? Bồ-đề ấy, không thể dùng thân mà được, không thể dùng tâm mà được.
‘Tịch diệt là Bồ-đề, vì dứt hết các tướng. Chẳng quán sát là Bồ-đề, vì lìa khỏi các duyên. Chẳng hành động là Bồ-đề, vì không nhớ tưởng chi cả. Đoạn tuyệt là Bồ-đề, vì bỏ hết các ý kiến. Lìa bỏ là Bồ-đề, vì lìa khỏi các vọng tưởng. Ngăn trở là Bồ-đề, vì ngăn trở các sở nguyện. Chẳng vào là Bồ-đề, vì không có tham trước. Thuận là Bồ-đề, vì thuận theo lẽ như. Trụ là Bồ-đề, vì trụ nơi tánh pháp. Đến là Bồ-đề, vì đến chỗ thực tế. Chẳng hai là Bồ-đề, vì lìa ý và pháp. Bình đẳng là Bồ-đề, vì bình đẳng như hư không. Vô vi là Bồ-đề, vì không có những sự: sinh, trụ, diệt. Biết là Bồ-đề, vì rõ
____________________
(1) Thiên tử (Sanskrit: Devatā), dịch âm là Đề-bà, chỉ những vị thuộc nam giới cư trú ở cõi trời, dưới quyền vị thiên vương hay thiên chủ. Còn những vị thuộc nữ giới gọi là thiên nữ.
“Thế Tôn! Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, hai trăm vị thiên tử được pháp nhẫn Vô sinh. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
Phật bảo Đồng tử Quang Nghiêm: “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.
Quang Nghiêm bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con đi ra ngoài thành lớn Tỳ-da-ly. Bấy giờ, Duy-ma-cật mới vừa đi vào thành. Con liền làm lễ ông ấy và hỏi rằng: ‘Cư sĩ từ đâu lại đây?’
“Cư sĩ đáp: ‘Tôi từ đạo trường lại đây.’
“Cư sĩ đáp rằng: ‘Lòng ngay thẳng là đạo trường, vì không có sự hư dối. Khởi làm là đạo trường, vì có thể biện biệt được sự việc. Lòng sâu vững là đạo trường, vì được tăng thêm công đức. Tâm Bồ-đề là đạo trường, vì không có sự lẫn lộn. Bố thí là đạo trường, vì không mong báo đáp. Trì giới là đạo trường, vì được tròn nguyện. Nhẫn nhục là đạo trường, vì đối với chúng sinh, lòng mình được vô ngại. Tinh tấn là đạo trường, vì chẳng có biếng nhác. Thiền định là đạo trường, vì lòng dạ được điều nhu. Trí huệ là đạo trường, vì hiện rõ các pháp. Từ là đạo trường, vì thương các chúng sinh như nhau. Bi là đạo trường, vì nhẫn chịu các mỏi mệt khổ đau. Hỷ là đạo trường, vì là pháp vui vẻ. Xả là đạo trường, vì dứt lòng thương ghét. Thần thông là đạo trường, vì thành tựu sáu thần thông. Giải thoát là đạo trường, vì buông bỏ được. Phương tiện là đạo trường, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn pháp thâu nhiếp là đạo trường, vì nhiếp phục được chúng sinh. Đa văn là đạo trường, vì theo như điều đã nghe mà thực hành. Điều phục tâm là đạo trường, vì đó là chánh quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo trường, vì buông bỏ pháp hữu vi. Bốn đế là đạo trường, vì chẳng dối gạt thế gian. Duyên
_________________
(1) Vô minh cho đến già, chết (Vô minh nãi chí lão tử): Mười hai nhân duyên (Sanskrit: pratīya-samutpāda, Pāli: paṭicca-samuppāda) hay Thập nhị nhân duyên, nguyên nghĩa là Duyên khởi hay Nhân duyên sinh, nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai yếu tố kết nối nhau, nên thường gọi là Mười hai nhân duyên. Đó là:
1. Vô minh (, Sanskrit: avidyā, Pāli: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu được khổ là tính chất căn bản của đời sống,
2. Vô minh sinh ra Hành (, Sanskrit: saṃskāra, Pāli: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng là thân, khẩu và ý.
3. Hành sinh ra Thức (, Sanskrit: vijñāna, Pāli: viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bào thai mẹ, Thức lựa chọn cha mẹ do Hành tốt hay xấu qui định.
4. Thức sinh ra Danh Sắc (, Sanskrit, Pāli: nāmarūpa), là toàn bộ phần tâm lí và hình thể của bào thai mới, do Ngũ uẩn (Sanskrit: pañcaskandha, Pāli: pañca-khandha) tạo thành.
5. Danh sắc sinh ra Lục căn (, Sanskrit: ṣaḍāyatana, Pāli: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả ăng suy nghĩ là sáu).
6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (, Sanskrit: sparśa, Pāli: phassa).
7. Xúc sinh ra Thọ (, Sanskit, Pāli: Vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài.
8. Thọ sinh ra Ái (, Sanskrit: tṛṣṇā, Pāli: taṇhā), luyến ái xuất phát từ ham muốn.
9. Ái sinh ra Thủ (, Sanskrit, Pāli: upādāna) là điều người ta muốn chiếm hữu cho mình.
10. Thủ sinh ra Hữu (, Sanskrit, Pāli: bhāva), là toàn bộ cái được gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.
11. Hữu sinh ra Sinh (, Sanskrit, Pāli: jāti), một thế giới và con người xuất hiện trong đó.
‘Như vậy đó, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát dùng các ba-la-mật (2) mà giáo hóa chúng sinh, nên biết rằng
__________________
12. Sinh sinh ra Lão tử (, Sanskrit: Pāli: jarāmaraṇa), vì có sinh nên có hoại diệt.
Cần chú ý rằng đây chỉ là trình tự liệt kê. Sự vận hành của mười hai nhân duyên thật ra là một vòng tròn khép kín, không có điểm khởi đầu hoặc điểm kết thúc. Đừng lầm tưởng rằng Vô minh là yếu tố đầu tiên rồi đến hành, thức…Các nhân duyên này theo nhau mà cùng có trong sinh tử, lại cũng theo nhau mà cùng diệt trong quá trình chứng ngộ. Khi sinh, tất cả đều sinh. Khi diệt, tất cả đều diệt.
(1) Các pháp bất cộng: Tức là Thập bát bất cộng pháp.
(2) Các ba-la-mật (Chư ba-la-mật): Tức là Sáu pháp ba-la-mật (Sanskrit: pāramitā), viết đủ là Ba-la-mật-đa, cũng gọi là Lục độ (tiếng hoa), dịch nghĩa là Cứu cánh đáo bỉ ngạn. Đó là cách hạnh thanh tịnh của hàng Bồ Tát, gồm có:
1. Bố thì Ba-la-mật (Sanskrit: dāna-pāramitā).
2. Trì giới Ba-la-mật (Sanskrit: śīla-pāramitā).
3. Nhân nhục Ba-la-mật ( Sanskrit: kṣānti-pāramitā).
“Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, năm trăm vị chư thiên và người ta đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
Phật bảo Bồ Tát Trì Thế: (1) “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
Bồ Tát Trì Thế bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con trụ nơi tĩnh thất. Lúc ấy, ma Ba-tuần hóa hình hệt như Đế-thích, có một muôn hai ngàn thiên nữ theo hầu, có cả tiếng âm nhạc, đàn địch ca xướng, đi lại chỗ con. Ma vương ấy với quyến thuộc đảnh lễ nơi chân con, chắp tay cung kính đứng về một bên. Con tưởng đó là Đế-thích, nên liền nói với vị ấy rằng: ‘Lành thay, Kiều-thi-ca! (2) Tuy ông đáng được hưởng phước, nhưng chẳng nên phóng túng.
_____________________
4. Tinh tấn Ba-la-mật (, Sanskrit: vīrya-pāramitā).
5. Thiền định Ba-la-mật (, Sanskrit: dhyāna-pāramitā).
6. Trí huệ Ba-la-mật (, Sanskrit: prajñā- pāramitā).
(1) Bồ Tát Trì Thế (, Sanskrit: Lokadhāra).
(2) Kiều-thi-ca (Kauśika): tên riêng của đức Đế-thích, vua cõi trời Tam thập Tam thiên hay Đao-lỵ Thiên trong cõi Dục giới.
“Vị ấy liền nói với con rằng: ‘Chánh sĩ! (3) Xin ngài thâu nhận mười hai ngàn thiên nữ này, các nàng có thể lo việc quét tước giặt rửa.’
“Con đáp: ‘Kiều-thi-ca! Tôi là sa-môn Thích tử, ông đừng yêu cầu tôi nhận những thứ không đúng với pháp tu hành. Điều đó là trái với nghi luật của tôi.’
“Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật đến, bảo con rằng: ‘Chẳng phải Đế-thích, đó là ma (4) đến quấy rối ngài đó.’
“Duy-ma-cật liền nói với ma rằng: ‘Các nàng này có thể tặng cho ta. Ta bằng lòng thâu nhận.’
“Ma hoảng sợ, nghĩ rằng: ‘Duy-ma-cật chẳng phải định hại ta đây sao?’ Liền muốn ẩn hình trốn
______________________
(1) Năm dục (Ngũ dục): Năm sự ham muốn, khoái lạc có được do thỏa mãn 5 giác quan, bao gồm: 1. Sắc dục; 2. Thanh dục; 3. Hương dục; 4. Vị dục; 5. Xúc dục.
(2) Kiên pháp: những pháp bền vững mãi mãi. Có ba kiên pháp là: thân, mạng, tài. Người tu hành được: Thân vô cực, mạng vô cùng, tài vô tận. Đó gọi là 3 kiên pháp.
(3) Chánh sĩ: Bậc đại sĩ cầu chánh đạo, chánh quả, tức là danh xưng một vị Bồ Tát.
(4) Ma, phiên âm tiếng Phạn là Māra, là vị vua ở cung trời Tha hóa tự tại, cảnh thứ sáu, cảnh cao nhất trong cõi dục giới, thường gọi là Ma vương.
“Vì khiếp sợ, ma miễn cưỡng mà cho.
“Lúc ấy Duy-ma-cật nói với các nàng rằng: ‘Ma đã đem các cô tặng cho ta. Nay các cô nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’
“Duy-ma-cật liền tùy theo chỗ thích hợp mà thuyết pháp với các nàng, khiến cho tất cả đều phát đạo ý.
“Lại nói rằng: ‘Các cô đã phát đạo ý rồi. Nay có những điều vui theo đúng pháp để cho tự vui lấy, chẳng nên vui với năm dục nữa.’
“Các thiên nữ liền hỏi: ‘Những gì là vui theo đúng pháp?’
“Đáp rằng: ‘Vui thường tin Phật, vui muốn nghe Pháp, vui cúng dường Tăng. Vui lìa năm dục, vui quán năm ấm (2) như bọn oán tặc, vui quán bốn
_________________
(1) Ba-tuần (Sanskrit: Pāpīyan): tên gọi là Ma vương.
(2) Năm ấm (Ngũ ấm) hay Ngũ uẩn (, Sanskrit: pañca-skandha; Pāli: pañca-khandha): Năm món tích tụ, hòa hiệp tạo thành thân tâm, cũng được gọi là năm sự ràng buộc. Chỉ có Phật hay các vị A-la-hán mới không bị chúng trói buộc. Đó là:
______________________
1. Sắc (, Sanskrit, Pāli: rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn).
2. Thọ (, Sanskrit, Pāli: vedanā), tức là cảm giác.
3. Tưởng (, Sanskrit, saṃjñā; Pāli: saññā)
4. Hành (, Sanskrit, saṃskāra; Pāli: saṅkhāra)
5. Thức (, Sanskrit, vijñāna; Pāli: viññāṇa).
(1) Bốn đại (Tứ đại, Sanskrit, Pāli: mahābhūta) là các yếu tố: đất (địa, Sanskrit: pṛthvī), nước (thủy, Sanskrit: āp), lửa (hỏa, sanskrit: tejah), gió (phong, Sanskrit: vāyu). Quan niệm xưa cho đây là bốn yếu tố hợp thành mọi vật thể, tượng trưng cho: độ cứng (đất), chất lỏng (nước), hơi nóng (lửa), và sự vận động (gió). Bốn yếu tố này hợp thành thân thể cũng như vạn vật.
(2) Nội nhập hay Nội lục thập, Lục nhập (, Sanskrit: ṣaḍāyatana, Pāli: saḷāyatana), là sáu căn đối với sáu trần:, kể ra như sau:
1. Hình sắc, đối tượng của mắt.
2. Âm thanh, đối tượng của tai.
3. Mùi hương, đối tượng của mũi.
4. Vị nếm, đối tượng của lưỡi.
5. Cảm xúc, đối tượng của thân.
6. Pháp (các hiện tượng, cũng có thể là một ý nghĩ, một khái niệm…) đối tượng của ý.
“Lúc ấy, ma Ba-tuần bảo các nàng ấy rằng: ‘Ta muốn cùng các cô trở về cung.’
“Các nàng thưa rằng: ‘Ông đã đem chúng tôi mà tặng cho vị cư sĩ này. Có các điều vui theo như pháp, chúng tôi rất vui thích. Chúng tôi chẳng còn muốn trở lại vui thích năm món dục lạc nữa.’
“Ma nói: ‘Cư sĩ! Ông nên buông xả các nàng này. Bồ Tát phải là người thí xả tất cả sở hữu của mình cho kẻ khác.’
“Duy-ma-cật nói: ‘Ta đã buông xả rồi, ông có thể ra đi. Hãy khiến cho tất cả chúng sinh được phát nguyện đầy đủ.’
__________________
(1) Các đạo phẩm, tức là Tam thập thất đạo phẩm (Ba mươi bảy phẩm đạo).
“Duy-ma-cật nói: ‘Này các cô, có một phép tu gọi là Đèn không dứt. Các cô nên học phép tu ấy. Đèn không dứt có nghĩa là, như từ một ngọn đèn, mồi sáng ra trăm ngàn ngọn đèn liên tiếp. Những chỗ tối đều trở nên sáng, mà ánh sáng không hề dứt. Cũng vậy, một vị Bồ Tát mở đạo cho trăm ngàn chúng sinh, khiến cho tất cả đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Mà cái đạo ý ấy cũng không bao giờ dứt. Tùy theo chỗ thuyết pháp, tự mình tăng trưởng tất cả pháp lành. Đó gọi là Đèn không dứt. Các cô tuy ở nơi cung ma, hãy dùng phép tu Đèn không dứt này mà làm cho vô số thiên tử và thiên nữ đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Đó là báo đáp ơn Phật, cũng là làm lợi ích lớn cho tất cả chúng sinh.’
“Lúc ấy, các Thiên nữ lấy đầu và mặt làm lễ sát chân Duy-ma-cật, rồi theo ma vương mà trở về cung. Bỗng nhiên, thảy đều biến mất.
“Thế Tôn! Duy-ma-cật có thần lực tự tại và trí huệ biện tài như vậy đó. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
Phật phán với Thiện Đức, con nhà trưởng giả:
Thiện Đức bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, ở nhà cha con, con có tự mình tổ chức một hội bố thí, cúng dường tất cả sa-môn, bà-la-môn, các thầy ngoại đạo và những kẻ bần cùng, hạ tiện, cô độc, hành khất. Kỳ hạn bố thí đủ bảy ngày. Bấy giờ, Duy-ma-cật đi lại, vào trong hội, bảo con rằng: ‘Chàng con nhà trưởng giả! Nếu là hội bố thí, chẳng nên tổ chức theo như cậu đang làm đây. Nên mở hội thí pháp, cần gì mở hội thí tài như vậy?’
“Con hỏi cư sĩ ấy: ‘Sao gọi là Hội thí pháp?’
“Đáp rằng: ‘Hội thí pháp là không thí cho kẻ trước người sau. Trong một lúc, cúng dường tất cả chúng sinh. Đó gọi là hội thí pháp.’
“Con lại hỏi: ‘Như vậy là thế nào?’ Đáp rằng: ‘Đó là: Nhân vì Bồ-đề, phát khởi lòng từ. Nhân vì cứu độ chúng sinh, phát khởi tâm đại bi. Nhân vì giữ gìn Chánh pháp, phát khởi tâm hỷ. Nhân vì nhiếp thâu trí huệ, thi hành pháp xả. Nhân vì nhiếp phục khan tham, khởi nên pháp bố thí. Nhân vì cải hóa việc phạm giới, khởi nên pháp trì giới. Nhân vì pháp vô ngã, khởi nên pháp nhẫn nhục.
_________________
(1) Sáu niệm (Lục niệm) hay Lục tùy niệm (; Sanskrit: ṣaḍanusmṛtaya), cũng gọi là Lục niệm xứ , là sáu đối tượng mà người tu luôn luôn tâm niệm, nghĩ nhớ đến. Đó là:
1. Phật (Sanskrit: buddha)
2. Pháp (Sanskrit: dharma)
3. Tăng (Sanskrit: saṅgha)
4. Giới (Sanskrit: śīla)
5. Bố thí (Sanskrit: dāna)
6. Thiên (Sanskrit: deva)
(2) Sáu hòa kính (Lục hòa kính) cũng gọi Lục hòa (Sanskrit: śaḍsāramyadharma) là sáu điều hòa đồng, kính ái mà người học Phật phải thực hiện trong cuộc sống chung, nhất là khi sống trong Tăng đoàn. Nhờ thực hiện Lục hòa mà có thể tạo ra nếp sống hòa đồng giữa tất cả các thành viên trong một cộng động. Lục hòa kính bao gồm:
1. Thân hòa đồng trú: củng giữ sự hòa thuận sống chung nhau.
___________________
2. Khẩu hòa vô tranh: cùng nói những lời ôn hòa, không tranh chấp.
3. Ý hòa đồng duyệt: cùng chung ý chí tốt đẹp, vui vẻ.
4. Lợi hòa đồng quân: cùng chia sẻ vật chất với nhau.
5. Giới hòa đồng tu: cùng chuyên giữ giới luật, tu tập.
6. Kiến hòa đồng giải: cùng chia sẻ sự hiểu biết, kiến giải.
Về cách hiểu và vận dụng Lục hòa kính trong cuộc sống hằng ngày, xin đọc thêm ở sách Những tâm tình cô đơn của Nguyên Minh, NXB Tôn giáo.
(1) Cảnh vắng vẻ, tịch tịnh, Hán văn gọi là Không nhàn xứ, tiếng Sanskrit là Araṇya, dịch âm là A-lan-nhã, là nơi vắng không, nhàn tĩnh, xa làng xóm, không có sự tranh cãi.
(2) Trụ địa tu hành (Tu hành địa): Tức Tu hành trụ trong Thập trụ của Bồ tát, gồm: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sinh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.
“Thế Tôn! Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, hai trăm người trong chúng bà-la-môn đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Khi ấy, tâm ý con được trong sạch, con khen là chưa từng có, liền đảnh lễ nơi chân Duy-ma-cật. Rồi con cởi ra xâu chuỗi ngọc, giá trị trăm ngàn mà dâng hiến, nhưng ông ấy chẳng nhận. Con liền nói: ‘Cư sĩ! Xin ông nhận lãnh, rồi muốn cho ai tùy ý.’
“Duy-ma-cật bèn nhận chuỗi ngọc, chia làm hai phần. Ông đem một phần thí cho kẻ ăn xin nghèo hèn nhất trong hội ấy. Còn một phần, ông phụng hiến đức Như Lai Nan Thắng bên cõi nước kia. Tất cả chúng hội khi ấy đều nhìn thấy đức Như Lai Nan Thắng ở cõi nước Quang Minh. Chúng hội lại còn thấy được những hạt ngọc sang bên đức Phật
_____________________
(1) Một tướng duy nhất (nhất tướng): chỉ Thật tướng của chân như.
“Lúc ấy, Duy-ma-cật hiện thần biến như vậy rồi, lại nói rằng: ‘Nếu thí chủ có lòng bình đẳng, thí cho kẻ ăn xin nghèo hèn nhất, cũng như tướng ruộng phước Như Lai, không có chỗ phân biệt, giữ lòng đại bi bình đẳng, chẳng cầu quả báo. Đó mới gọi là hạnh thí pháp đầy đủ.’
“Trong thành, kẻ ăn xin nghèo hèn nhất thấy sức thần ấy và nghe Duy-ma-cật thuyết pháp cũng phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
Cứ như vậy, các vị Bồ Tát lần lượt đối trước Phật nói ra duyên cớ của mình, xưng thuật lời lẽ của Duy-ma-cật. Tất cả đều thưa rằng chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.