Tác giả: Đoàn Trung Còn- Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giả. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 363.
Ý kiến bạn đọc
PHƯƠNG TIỆN
Lúc ấy, trong thành lớn Tỳ-da-ly có một vị trưởng giả tên là Duy-ma-cật. Ấy là người đã từng cúng dường vô lượng các đức Phật, trồng sâu căn lành; được đức nhẫn vô sinh, biện tài vô ngại, du hí thần thông, nắm được các phép tổng trì, đạt được pháp vô sở úy; (1) hàng phục chúng ma, vỗ về những kẻ oán hờn; đã vào được pháp môn sâu xa vi diệu, giỏi về phép trí huệ, (2) thông đạt phương tiện; thành tựu nguyện lớn, biết rõ chỗ xu hướng trong tâm của mỗi chúng sinh, phân biệt được những căn tánh lanh lợi hoặc chậm lụt. Đối
_____________________
(1) Vô sở úy: không gì có thể làm cho sợ sệt. Vì đã chứng được pháp này có thể an nhiên vững vàng đối với tất cả các pháp không hề sinh tâm sợ sệt. Có 4 pháp vô sở úy của Phật và 4 pháp vơ sở úy của hàng Bồ Tát. Ở đây chỉ các pháp vô sở úy của hàng Bồ Tát, đó là:
1. Tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy.
2. Tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy
3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy.
4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy.
(2) Tức là Trí độ (Sanskrit: prajñāparamitā), dịch âm là Bát-nhã ba-la-mật-đa, viết đủ là trí huệ độ, là hạnh thứ sáu trong sáu hạnh của Bồ Tát (Lục Ba-la-mật).
Vì muốn cứu độ chúng nhân nên ngài dùng phương tiện khéo cư ngụ tại thành Tỳ-da-ly. Dùng tài sản nhiều không kể xiết, ngài nhiếp phục những kẻ nghèo; dùng giới luật thanh tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ phạm giới cấm; dùng nhẫn nhục nhu hòa, (1) ngài nhiếp phục những kẻ hay nóng giận; dùng sức tinh tấn mạnh mẽ, ngài nhiếp phục những kẻ lười nhác, giải đãi; dùng nhất tâm thiền tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ tâm ý tán loạn; dùng trí huệ chắc quyết, ngài nhiếp phục những kẻ vô trí.
Tuy là cư sĩ, (2) nhưng ngài kính giữ luật hạnh thanh tịnh của bậc sa-môn. Tuy ở tại nhà, nhưng ngài chẳng vướng vào ba cõi. Thị hiện có vợ con,
_____________________
(1) Nhẫn điều hạnh (Sanskrit: sauratya-kṣānti): hạnh nhẫn nhục nhu hòa.
(2) Nguyên văn dùng bạch y (áo trắng), chỉ người đệ tử Phật tu tại gia, tức là cư sĩ, phân biệt với hàng xuất gia mặc áo vàng hay áo hoại sắc.
Thấy ai ngài cũng kính nhường, lấy sự cúng dường làm trọng. Nắm giữ Chánh pháp, ngài nhiếp phục được kẻ lớn người nhỏ. Trong mọi cuộc cộng tác làm ăn, mặc dầu thu được những món lợi thế tục, nhưng ngài không lấy đó làm vui. Dạo chơi nơi ngả tư đường, ngài thường giúp ích cho chúng sinh. Dự vào việc chính trị, ngài cứu hộ tất cả nhân dân. Vào nơi giảng luận, ngài đem Đại thừa mà dắt dẫn người nghe. Vào chốn học đường, ngài khuyến dụ và khai hóa trẻ em. Vào chốn lầu xanh, ngài chỉ rõ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào các quán rượu, ngài lập chí hướng thiện cho những người ở đó.
Nếu ở tại nhóm trưởng giả, (2) ngài được tôn trọng,
________________________
(1) Phạm hạnh (Sanskrit: Brahmacarya, Pāli: Brahmacariya) hay Tịnh hạnh, là hạnh tu trong sạch, ý nói xa lìa sự dâm dục.
(2) Trưởng giả, thủ-đà-la, sát-lỵ và bà-la-môn là bốn giai cấp ở Ấn độ, theo thứ tự dưới đây:
Nếu ở tại cảnh Phạm thiên, ngài được các vị Phạm thiên tôn trọng, liền giáo hóa các vị này về
_________________
a) Bà-la-môn (Sanskrit: brāhmana): hàng tu sĩ, các bậc thầy giữ việc cúng tế.
b) Sát-lỵ hay sát-đế-lỵ (Sanskrit: kṣatriya): hàng vua chúa, quan tướng.
c) Trưởng giả, hay phệ-xá (Sanskrit: vaiśya), hàng thương nhân giàu có
d) Thủ-đà-la (Sanskrit: sudra), những người làm ruộng, làm các nghề bình thường
(1) Ngã mạn: tự cao, kiêu căng, luôn tự cho mình là tài giỏi hoặc cao quý hơn kẻ khác.
(2) Nội quan: các vị quan cao niên có nhiều đức độ được tuyển vào trong nội cung của vua để dạy dỗ, cai quản các cung nữ, khác với nội quan ở Trung Hoa là các thái giám.
Trưởng giả Duy-ma-cật dùng vô số các phương tiện như vậy mà giúp ích cho chúng sinh. Người cũng dùng phương tiện hiện ra thân mình có bệnh. Vì người đang bệnh, nên các hàng quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn cùng các vương tử quan thuộc, vô số ngàn người đều đến thăm hỏi bệnh người.
Với những người đến thăm ấy, Duy-ma-cật nhân việc thân có bệnh mà thuyết pháp rộng rãi với họ:
“Các nhân giả! Thân này là không thường tồn, không có sức mạnh, không bền chắc. Nó là vật mau hư hoại, không thể tin vào nó được. Nó là khổ, là não, các bệnh đều tụ tập vào nó.
“Các nhân giả! Như cái thân này đây, bậc minh trí không nương cậy vào nó được. Thân này như bọt đọng mà người ta không thể sờ nắm. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài. Thân này như nháng lửa, nó do sự khát khao ái dục mà sinh ra. Thân này như cây chuối, bên trong chẳng bền chắc
“Thân này không chủ, cũng như đất. Thân này không phải ta, cũng như lửa. Thân này không sống lâu, cũng như gió. Thân này không phải người, cũng như nước. Thân này chẳng thật, nó lấy bốn đại: đất, nước, lửa, gió làm nhà. Thân này là trống không, nó lìa ta và vật của ta. Thân này không biết chi hết; nó như cỏ, cây, gạch, sỏi. Thân này không làm gì hết, nó bị sức gió chuyển dời. Thân này là bất tịnh, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa. Thân này là hư ngụy, dẫu nó có tạm dùng những việc tắm, rửa, ăn mặc, nhưng rồi nó cũng mòn dứt mà thôi! Thân này là tai hại, mang lấy một trăm lẻ một bệnh não. (1) Thân này như gò đất, giếng nước, nó
_________________
(1) Một trăm lẻ một bệnh não (bá nhất bệnh não): thân người ta hợp bởi bốn đại (tứ đại): đất, nước, lửa, gió (địa, thủy, hỏa, phong). Nếu một trong bốn đại gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 101 bệnh não. Nếu cả bốn đại đều gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 404 bệnh não. Đây đều là những cách nói tượng trưng để biểu thị là có rất nhiều bệnh não.
“Các nhân giả! Thân này đáng lo, đáng chán, mà nên ưa thích thân Phật. Tại sao vậy? Thân Phật tức là Pháp thân, do vô lượng cúng dường trí huệ mà sinh ra; do các pháp: giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến mà sinh ra; do những đức từ, bi, hỷ, xả mà sinh ra; do các ba-la-mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ mà sinh ra; do phương tiện mà sinh ra; do sáu thần thông (2) mà sinh ra; do ba minh(3) mà sinh ra; do ba
__________________
(1) Các ấm, nhập, giới bao gồm:
a) Ấm: gồm năm ấm (ngũ ấm hay ngũ uẩn) là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
b) Nhập: có mười hai nhập là sáu căn nhập với sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý), sáu trần là: hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc chạm, các pháp (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
c) Giới: gồm mười tám giới, sáu căn bên trong, sáu trần bên ngoài, sáu thức ở giữa. Như nhãn căn, sắc trần và nhãn thức cùng hợp lại sinh ra sự thất biết…
(2) Sáu thông (Lục thông hay Lục thần thông, Sanskrit: ṣaḍabhijñāḥ) là sáu phép thần thông tự tại của Phật. Đó là:
1. Thần cảnh thông, cũng còn gọi là Thân thông, Thân như ý thông, Thần túc thông .
_______________
2. Thiên nhãn thông: có thể nhìn thấy toàn bộ tuyến trình lưu chuyển của chúng sinh qua 6 cõi luân hồi.
3. Thiên nhĩ thông: có thể nghe được toàn thể những tiếng khổ vui mà chúng sinh trải qua trong sáu cõi luân hồi.
4. Tha tâm thông: năng lực nhận biết tâm niệm của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi.
5. Túc mạng thông: còn gọi là Túc trú thông: năng lực nhận biết mọi sự vật xảy ra trong vô lượng kiếp trước mà chúng sinh đã trải qua, cũng như biết trước được toàn bộ thọ mạng của chúng sinh trong 6 cõi luân hồi.
6. Lậu tận thông: năng lực chuyển hóa toàn bộ phiền não trong ba cõi, nên không còn gọi là đối tượng của sinh diệt trong ba cõi nữa.
Trong các phép thần thông kể trên, phép thứ 2, thứ 5 và thứ 6 cũng chính là Tam minh
(3) Ba minh (Tam minh, Sanskrit: tisrovidyā): Ba trí sáng suốt của bậc giác ngộ, cũng chính là ba năng lực thần thông được kể trong Lục thông. Ba trí sáng suốt ấy là:
1. Thiên nhãn minh ( tiếng hoa, Sanskrit: divyācakṣurjñāna-sākṣatkriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, biết được việc sinh tử của mình và của người khác trong đời vị lai. Cũng gọi là Sinh tử trí chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Thiên nhãn thông.
2. Túc mệnh minh (tiếng hoa, Sanskrit: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú minh (tiếng hoa), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, biết được việc sinh tử của mình và của người khác trong những đời đã qua. Cũng gọi là Tục trụ trí.
_____________________
Chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Túc mạng thông.
3. Lậu tận minh (tiếng hoa; Sanskrit: āśravakṣayajñānasākṣatkriyā-vidyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới, biết được khổ tướng trong hiện tại, dứt trừ được mọi phiền não. Cũng gọi là Lậu tận trí chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Lậu tận thông.
(3) Tứ vô sở úy (tiếng hoa) (bốn đức chẳng sợ) (Sanskrit: catur-vaiśaradya; Pāli: catuvesārajja), cũng gọi là Tứ vô úy (tiếng hoa). Có 4 vô sở úy của Phật và 4 vô sở úy của các vị Bồ Tát.
a) Bốn đức vô úy của Phật là:
1. Nhất thiết trí vô sở úy
2. Lậu tận vô sở úy.
3. Thuyết chướng đạo vô sở úy.
4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy.
b) Bốn đức vô úy của các vị Bồ tát:
1. Tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy
2. Tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy.
3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy.
4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy.
Trưởng giả Duy-ma-cật thuyết pháp như vậy với những người thăm bệnh, khiến cho vô số ngàn người đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.