Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 2 - Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.

 

Chương 21: Phẩm Thập Địa Thứ Hai Mươi Sáu - Phần 3 (trang 429-453)

 thiết trí. Dầu họ muốn giải thoát, nhưng họ chỉ thích hai thừa Thanh Văn và Bích Chi Phật. Tôi phải làm cho họ an trụ nơi Phật pháp quảng đại, nơi trí huệ quảng đại.
     Bồ Tát này hộ trì giới cấm như vậy khéo có thể thêm lớn tâm từ bi.
     Chư Phật tử! Bồ Tát ở bực Ly Cấu Ðịa này, do nguyện lực mà được thấy nhiều Phật. Như là thấy trăm Ðức Phật, ngàn Ðức Phật, trăm ngàn Ðức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật.
     Ở chỗ Chư Phật, Bồ Tát này dùng tâm quảng đại thâm tâm cung kính tôn trọng phụng thờ, cúng dường những thứ y phục, ăn uống, thuốc men, ngọa cụ, tất cả đồ dùng. Và cũng cúng dường tất cả chúng Tăng. Ðem công đức này hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
     Ở chỗ Chư Phật, do tâm tôn trọng, Bồ Tát này lại thọ hành mười đạo pháp lành, tùy chỗ đã thọ nhẫn đến Bồ đề trọn không quên mất.
     Bồ Tát này từ vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp vì đã xa rời tội tham giận phá giới nên hạnh bố thí, trì giới được thanh tịnh toàn vẹn.
     Ví như chơn kim để trong phàn thạch, đúng
theo cách thức luyện xong thời lìa tất cả cấu nhơ càng sáng sạch hơn.
     Bồ Tát trụ bực Ly Cấu Ðịa này cũng như vậy. Trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, vì xa lìa bợn nhơ tham sân phá giới, nên hạnh bố thí, trì giới được thanh tịnh đầy đủ.
     Chư Phật tử! Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên về ái ngữ nhiều. Trong mười môn Ba la mật Bồ Tát này thiên nhiều về trì giới. Với các pháp khác thời tùy phần tùy sức.
     Chư Phật tử! Ðây là lược nói về bực Ly Cấu Ðịa.
     Ðại Bồ Tát trụ bực này, phần nhiều hiện thân làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm Ðại pháp chủ, đầy đủ thất bửu, có sức tự tại, có thể trừ cấu nhiễm tham, sân, phá giới của tất cả chúng sanh. Dùng phương tiện khéo làm cho họ an trụ trong mười nghiệp đạo lành. Làm vị đại thí chủ châu ấp vô tận. Bao nhiêu công hạnh như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm Nhứt thiết chủng trí.
     Bồ Tát nầy lại nghĩ rằng: Nơi tất cả chúng sanh tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là tối thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là chỗ y chỉ của Nhứt thiết chủng trí.
    Bồ Tát này lúc muốn bỏ nhà để ở trong Phật pháp tinh tấn tu hành. Liền có thể rời nhà vợ con, quyến thuộc, ngũ dục. Khi đã xuất gia thời siêng năng tu tập, khoảng một niệm được ngàn tam muội, được thấy ngàn Ðức Phật, biết thần lực của ngàn Ðức Phật, có thể chấn động ngàn thế giới, nhẫn đến có thể thị hiện ngàn thân, mỗi thân thị hiện ngàn Bồ Tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại để thị hiện thời hơn số này, trong trăm ngàn ức na do tha kiếp cũng chẳng đếm biết được.
     Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ rằng:
Chất trực, nhu nhuyến và kham năng 
Ðiều phục, tịch tịnh và thuần thiện 
Ý rộng lớn mau thoát sanh tử 
Do mười tâm vào đệ Nhị địa. 
Ở đây thành tựu giới công đức 
Xa lìa sát sanh chẳng não hại 
Cũng lìa trộm cắp và tà dâm 
Lìa hẳn vọng, ác, ly, ỷ ngữ. 
Chẳng tham của cải thường xót thương 
Chánh đạo, trực tâm không siểm ngụy 
Rời hiểm, bỏ mạn, rất điều nhu 
Y giáo thực hành chẳng phóng dật.
Ðịa ngục, súc sanh chịu khốn khổ 
Ngạ quỷ đói khát miệng tuôn lửa 
Tất cả đều do tội ác gây 
Tôi phải lìa xa trụ thật pháp 
Nhơn gian tùy ý được thọ sanh 
Nhẫn đến thiền định Sắc, Vô sắc 
Thanh Văn, Ðộc Giác đến thành tựu. 
Tư duy như vậy chẳng phóng dật 
Tự gìn tịnh giới dạy người trì 
Lại thấy quần sanh chịu đau khổ 
Lại càng thêm lớn tâm đại bi. 
Phàm phu tà kiến hiểu bất chánh 
Thường giận hay hờn nhiều tranh cãi. 
Tham cầu nhiễm trước không nhàm đủ 
Tôi phải độ họ trừ ba độc 
Ngu si đen tối che trùm lấp 
Vào đường hiểm lớn lưới tà kiến 
Nhà giam sanh tử bị nhốt bắt 
Tôi phải khiến họ dẹp giặc ma. 
Bốn dòng đẩy trôi tâm chìm đắm 
Ba cõi đốt thui vô lượng khổ 
Chấp uẩn làm nhà: ngã ở trong 
Vì muốn độ họ siêng hành đạo.
Dầu muốn giải thoát tâm lại kém 
Bỏ xa vô thượng Phật trí huệ 
Tôi muốn khiến họ trụ Ðại thừa 
Chuyên cần tinh tấn không nhàm đủ. 
Bồ Tát ở đây chứa công đức 
Thấy vô lượng Phật đều cúng dường 
Ức kiếp tu hành thêm sáng sạch 
Như dùng thuốc tốt luyện chơn kim, 
Bồ Tát ở đây hiện Luân Vương 
Ðộ khắp chúng sanh tu thập thiện 
Bao nhiêu pháp lành đều tu tập 
Ðể thành Thập lực cứu thế gian 
Muốn bỏ Vương vị và tài bửu 
Liền lìa nhà tục nương Phật giáo 
Dũng mãnh tinh tấn trong một niệm 
Ðược ngàn tam muội, thấy ngàn Phật. 
Bao nhiêu tất cả sức thần thông 
Bồ Tát Nhị địa đều hiện được 
Nguyện lực đã làm lại hơn đây 
Vô lượng tự tại độ quần sanh. 
Người làm lợi ích khắp thế gian 
Ðã tu Bồ Tát hạnh tối thắng 
Công đức đệ nhị địa như vậy 
Vì các Phật tử đã khai diễn.
Phật tử được nghe công hạnh này 
Cảnh giới Bồ Tát khó nghĩ bàn 
Thảy đều cung kính lòng hoan hỷ 
Rải hoa hư không để cúng dường. 
Khen rằng: lành thay đấng Ðại Sĩ 
Lòng từ thương xót các chúng sanh 
Khéo nói luật nghi của trí giả 
Và hành tướng trong đệ Nhị địa. 
Ðây diệu hạnh của chư Bồ Tát 
Chơn thiệt không lạ không sai biệt. 
Vì muốn lợi ích các quần sanh 
Diễn nói như vậy rất thanh tịnh. 
Tất cả Nhơn, Thiên đến cúng dường 
Mong được nghe giảng đệ Tam địa 
Những trí hạnh cùng pháp tương ưng 
Cảnh giới như vậy mong nói đủ. 
Phật có tất cả pháp: thí, giới, 
Nhẫn nhục, tinh tấn, thiền, trí huệ. 
Cùng với phương tiện đạo từ bi 
Phật hạnh thanh tịnh xin nói hết. 
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát lại thưa: 
Mong Kim Cang Tạng đại Bồ Tát 
Giảng nói tiến vào đệ Tam địa 
Tất cả công đức của bực này.
     Kim Cang Tạng Bồ Tát nói với Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát:
    “Thưa Phật tử! Ðại Bồ Tát đã thanh tịnh đệ Nhị địa muốn vào đệ Tam địa, phải phát khởi mười thâm tâm”.
     Ðây là mười thâm tâm: Tâm thanh tịnh, tâm an trụ, tâm nhàm bỏ, tâm lìa tham, tâm bất thối, tâm kiên cố, tâm minh thạnh, tâm dũng mãnh, tâm rộng, tâm lớn. Bồ Tát do mười tâm này mà được vào đệ Tam địa. 
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát đã an trụ nơi đệ Tam địa quán sát tất cả pháp hữu vi đúng với tướng chơn thật của nó. Chính là: Vô thường, khổ, bất tịnh, chẳng an ổn, bại hoại, chẳng ở lâu, sát na sanh diệt, chẳng phải từ thuở trước sanh, cũng chẳng phải theo thuở sau diệt, và chẳng phải trụ ở hiện tại.
     Bồ Tát lại quan sát những pháp này không được cứu, không chỗ tựa, mà đồng ở với lo, buốn, khổ, não, ràng buộc bởi yêu ghét, sầu thảm càng nhiều không hề dừng, tham, sân, si hẩy hừng chẳng hề dứt, những họa hoạn vấn vít ngày đêm thêm lớn, toàn là như huyễn hóa không thiệt.
     Bồ Tát quan sát thấy như thế rồi, đối với pháp hữu vi càng thêm nhàm lìa mà hướng đến Phật trí
huệ. Thấy Phật trí chẳng thể nghĩ bàn, vô đẳng vô lượng khó được, không tạp, không não, không lo, đến thành trì vô úy không còn lui lại, có thể cứu thoát vô lượng chúng sanh khổ nạn.
     Bồ Tát thấy Phật trí vô lượng lợi ích, thấy tất cả pháp hữu vi vô lượng tội lỗi, thời đối với tất cả chúng sanh phát sanh mười tâm xót thương.
     Ðây là mười tâm xót thương: Thấy chúng sanh cô độc không chỗ tựa nương mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh nghèo cùng khốn thiếu mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh bị lửa tam độc đốt cháy mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh bị lao tù mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh bị rừng rậm phiền não luôn che chướng mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh chẳng khéo quan sát mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh không thích muốn pháp lành mà sanh lòng thương.   Thấy chúng sanh bỏ mất Phật pháp mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh theo dòng sanh tử mà sanh lòng thương. Thấy chúng sanh mất phương tiện giải thoát mà sanh lòng thương.
       Bồ Tát thấy chúng sanh giới vô lượng khổ não như vậy phát đại tinh tấn mà nghĩ rằng: Với tất cả chúng sanh này tôi phải cứu, tôi phải giải thoát, tôi phải thanh tịnh, tôi phải độ, tôi phải đặt họ ở chỗ
 lành, phải làm cho họ ở an, cho họ hoan hỷ, cho họ thấy biết, cho họ điều phục, cho họ tịch diệt.
     Bồ Tát nhàm lìa pháp hữu vi như vậy, lòng thương như vậy. Biết Nhứt thiết chủng trí có lợi ích thù thắng, muốn nương Phật trí để cứu độ chúng sanh.
     Bồ Tát suy nghĩ rằng: Những chúng sanh này đọa trong khổ lớn phiền não, dùng phương tiện gì để có thể cứu tế, cho họ an trụ trong sự vui cứu cánh Niết Bàn? Bồ Tát lại nghĩ rằng: Muốn độ chúng sanh cho họ an trụ nơi Niết Bàn quyết không thể rời trí giải thoát vô ngại. Trí này không rời như thiệt giác ngộ tất cả pháp. Giác ngộ này không rời huệ quang của hạnh vô hành vô sanh. Huệ quang này không rời thiền trí thiện xảo quyết định quán sát. Thiền trí này chẳng rời đa văn hay khéo.
     Bồ Tát suy gẫm như vậy rồi, đối với chánh pháp càng thêm siêng năn tu tập. ngày đêm chỉ mong nghe được pháp, vui nơi pháp, nương với pháp, thuận theo pháp, hiểu nơi pháp, đến pháp, trụ tại pháp và thật hành chánh pháp.
     Bồ Tát cần cầu Phật pháp như vậy, bao nhiêu của báu đều không lẫn tiếc, chẳng thấy có vật khó được đáng trọng. Chỉ ở nơi người hay giảng thuyết Phật pháp thời sanh lòng kính ngưỡng. Vì
thế nên đối với tài vật và thân thể của mình, Bồ Tát đều có thể xả thí để cầu Phật pháp. không có sự cung kính nào mà chẳng làm được, không có sự kiệu mạn nào mà không bỏ được, không có sự phụng thờ nào mà không làm được, không có sự cần khổ nào mà không chịu được.
Nếu được nghe một câu chánh pháp chưa từng nghe, lòng Bồ Tát rất vui mừng hơn là được trân bửu đầy cả cõi Ðại Thiên. Nếu nghe được một kệ chánh pháp chưa từng nghe thời Bồ Tát rất vui mừng hơn là được ngôi Chuyển Luân Vương. Nếu được nghe một kệ chánh pháp có thể thanh tịnh hạnh Bồ Tát, thời xem hơn là được trăm ngàn vô lượng kiếp ở ngôi Ðế Thích Phạm Vương.
     Nếu có người bảo: Tôi có một câu Phật pháp có thể thanh tịnh hạnh Bồ Tát, nếu Ngài có thể vào hầm lửa chịu nổi sự nóng cháy thời tôi sẽ cho Ngài.
     Bấy giờ Bồ Tát tự nghĩ rằng: Tôi do một câu pháp của Phật nói mà được thanh tịnh Bồ Tát hạnh, thời dầu ngọn lửa lớn đầy cõi Ðại Thiên, tôi còn muốn từ trên trời Phạm Thiên nhảy xuống lửa để lấy được câu Phật pháp, huống là hầm lửa nhỏ này mà vào không được. Hiện tại tôi vì Phật pháp đáng lẽ phải lãnh lấy tất cả sự khổ nơi địa ngục,
huống là sự khổ nhỏ mọn nơi nhơn gian.
     Bồ Tát này phát tâm tinh tấn cần cầu Phật pháp như vậy, như chỗ đã được nghe mà suy gẫm tu hành.
    Bồ Tát này khi đã nghe pháp liền nhiếp tâm an trụ nơi chỗ vắng lặng suy nghĩ rằng: Như lời Phật dạy tu hành mới chứng được Phật pháp, chẳng phải chỉ miệng nói mà thanh tịnh được.
     Chư Phật tử! Lúc Bồ Tát này an trụ nơi Phát Quang Ðịa liền xa lìa dục ác, có giác có quán, ly dục sanh hỷ lạc, trụ nơi Sơ thiền. Diệt giác quán, nhứt tâm thanh tịnh không giác quán, định sanh hỷ lạc, trụ nơi đệ Nhị thiền. Lìa hỷ trụ nơi xả, có niệm chánh biết thân thọ lạc Chư Phật đã nói, hay bỏ có niệm, thọ lạc trụ đệ Tam thiền. Dứt lạc, trước trừ sự khổ mừng lo, diệt bất khổ, bất lạc, xả niệm thanh tịnh trụ đệ Tứ thiền. Siêu tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, chẳng nhớ các thứ tưởng, vào hư không vô biên, trụ hư không vô biên xứ. Siêu tất cả hư không vô biên xứ nhập vô biên thức, trụ thức vô biên xứ. Siêu tất cả thức vô biên xứ, nhập vô thiểu sở hữu, trụ vô sở hữu xứ. Siêu tất cả vô sở hửu xứ, trụ phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Ðây chỉ do tùy thuận theo pháp lành, trọn không thích không chấp.
     Chư Phật tử! Bồ Tát này tâm tùy nơi đức từ duy nhứt rộng lớn vô lượng, không oán, không đối, không chướng, không não, đến khắp tất cả chỗ, khắp pháp giới hư không giới, khắp tất cả thế gian. An trụ đức bi, hỷ và xả cũng như vậy.
      Chư Phật tử! Bồ Tát này được vô lượng sức thần thông, có thể chấn động đại địa. Một thân hiện nhiều thân, nhiều thân làm một thân, hoặc ẩn hoặc hiển, núi vách đá các vật chướng đều qua lại vô ngại như hư không. Ở giữa hu không ngồi kiết già bay đi như chim bay. Vào đất như vào nước, đi trên nước như trên đất. Thân phát khói lửa như đám lửa lớn, lại tuôn nước mưa như mây lớn. Mặt trời, mật trăng ở hư không có oai lực lớn mà có thể lấy tay rờ rẫm bưng nắm. Thân thể tự tại cao đến Phạm Thiên.
      Thiên nhĩ của Bồ Tát này thanh tịnh hơn tai người, nghe được cả tiếng trời, người nhẫn đến tiếng muỗi mòng không luận gần hay xa.
      Bồ Tát này dùng tha tâm trí, biết tâm chúng sanh khác đúng như thật. Như chúng sanh có tâm tham thời biết là có tâm tham, lìa tâm tham thời biết là lìa tâm tham, có tâm sân hay tâm si, thời biết là có tâm sân hay tâm si, lìa tâm sân hay lìa tâm si thời biết là lìa tâm sân, lìa tâm si. Nhẫn đến tán
 tâm, định tâm, quảng đại tâm, vô lượng tâm, vô thượng tâm đều biết đúng như thiệt.
      Bồ Tát này nhớ biết vô lượng đời trước sai khác nhau. Như là nhớ biết một đời, hai đời, nhẫn đến vô lượng trăm ngàn đời; kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành hoại. Thuở đó tôi từng ở xứ đó, tên họ đó, dòng họ như vậy, ăn uốngnhư vậy, sống bao lâu khổ vui như vậy. Từ xứ đó chết sanh đến xứ này, hình dạng như vậy, tướng mạo như vậy, tiếng nói như vậy. Quá khứ vô lượng đời sai khác như vậy đều có thể nhớ biết.
      Bồ Tát này Thiên mhãn thanh tịnh hơn mắt người. Thấy các chúng sanh lúc sống lúc chết, sắc tốt sắc xấu, đường lành đường dữ theo nghiệp mà đi. Nếu chúng sanh đó gây tạo nghiệp ác nơi thân, nơi lời, nơi ý tưởng, chế nhạo Hiền Thánh, đầy đủ tà kiến và nghiệp nhơn duyên tà kiến, sau khi chết tất đọa ác đạo, sanh vào địa ngục. Nếu chúng sanh thân tạo nghiệp lành, lời và ý cũng lành, chẳng khinh Hiền Thánh, đầy đủ chánh kiến và nghiệp nhơn duyên chánh kiến, sau khi chết tất sanh thiện đạo trong loài trời, loài người. Thiên nhãn của Bồ Tát đều thấy biết như thiệt.
      Bồ Tát này đối với các Thiền, Tam muội, Tam ma bát đề, có thể nhập, có thể xuất, nhưng chẳng
nương sức thiền định để thọ sanh, mà chỉ theo chỗ có thể viên mãn Bồ đề phần, dùng sức ý nguyện mà thọ sanh trong đó.
     Chư Phật tử! Bồ Tát này trụ bực Phát Quang Ðịa, do nguyện lực mà được thấy nhiều Ðức Phật, được thấy trăm Ðức Phật, ngàn Ðức Phật, trăm ngàn Ðức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật. Ðều dùng quảng đại tâm, thâm tâm để cung kính, tôn trọng, phụng thờ, cúng dường và cũng cúng dường chúng Tăng. Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Ở chỗ Ðức Phật, cung kính nghe pháp nghe xong thọ trì rồi tùy sức mà tu hành.
     Bồ Tát này quán sát tất cả pháp nhơn duyên bất sanh bất diệt mà có kiến phược. Trước dứt trừ tất cả dục phược, sắc phược và hữu phược, cả vo minh phược đều càng yếu mỏng. Vì trong vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng tích tập nên tham, sân, si đều được trừ diệt. Tất cả căn lành càng thêm sáng sạch.
     Chư Phật tử! Ví như chơn kim khéo luyện thời cân chẳng giảm mà càng thêm sáng sạch.
     Cũng vậy, Bồ Tát trự bực Phát Quang Ðịa này, vì chẳng tích tập nên tham, sân, si đều dứt trừ, bao nhiêu thiện căn càng thêm sáng sạch.
      Bồ Tát này về những tâm: nhẫn nhục, nhu hòa, thuận hiệp, vui đẹp, chẳng sân, chẳng động, chẳng trược, không cao hạ, chẳng mong  đền  đáp, lòng báo ân, tâm chẳng dua vạy, chẳng phỉnh dối, không thâm hiểm, càng thêm thanh tịnh.
     Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên nhiều về lợi hành, và thiên nhiều về nhẫn nhục trong mười môn Ba la mật. Với những pháp môn khác tùy phần, tùy sức mà tu tập.
     Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bực Phát Quang Ðịa thứ ba này phần nhiều hiện thân làm Ðao Lợi Thiên Vương, có thể dùng phương tiện làm cho chúng sanh lìa bỏ tham dục. Những công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ Nhứt thiết chủng trí.
     Bồ Tát này lại nghĩ rằng: Nơi tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là người y chỉ của Nhứt thiết chủng trí.
     Bồ Tát này nếu chuyên cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được trăm ngàn tam muội, được thấy trăm ngàn Ðức Phật, biết thần lực của trăm ngàn Ðức Phật, có thể chấn động trăm ngàn thế giới, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn thân Phật, mỗi
mỗi thân Phật hiện trăm ngàn Bồ Tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực thù thắng, Bồ Tát này tự tại thị hiện hơn số trên, trăm kiếp, ngàn kiếp, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp không thể tính đếm biết được.
        Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Thanh tịnh an trụ tâm sáng thạnh 
Tâm nhàm lìa, không tham, không hại
Tâm kiên cố, dũng mãnh, rộng lớn 
Bực trí dùng đây vào Tam Ðịa 
Bồ Tát trụ bực Phát Quang Ðịa 
Quán thấy hữu vi: khổ, vô thường 
Bất tịnh, bại hoại mau tan diệt 
Không bền, không dừng, không qua lại. 
Xem pháp hữu vi như bịnh nặng 
Buộc ràng bởi ưu bi, khổ não 
Lửa mạnh tam độc hằng cháy hực 
Từ vô thủy đến nay chẳng dứt 
Nhàm lìa ba cõi chẳng tham chấp 
Chuyên cầu Phật trí không niệm lạ 
Khó nghĩ khó lường không sánh kịp 
Vô lượng vô biên không bức não 
Thấy Phật trí rồi thương chúng sanh 
Cô độc không chỗ nương cứu hộ 
Ba độc cháy hừng thường thiếu khốn 
Ở ngục ba cõi luôn chịu khổ. 
Phiền não cột trói mê không trí 
Chí nguyện hạ liệt mất pháp bửu 
Tùy thuận sanh tử sợ Niết Bàn 
Tôi phải cứu họ siêng tinh tấn. 
Toan cầu trí huệ lợi chúng sanh 
Nghĩ phương tiện gì khiến giải thoát. 
Chẳng rời Như Lai trí vô ngại 
Kia lại phát khởi huệ vô sanh. 
Nghĩ rằng huệ này do nghe pháp 
Suy nghĩ như vậy tự siêng gắng 
Ngày đêm nghe tu không xen hở 
Chỉ dùng chánh pháp làm tôn trọng. 
Quốc thành, tiền của, các trân bửu 
Vợ con, quyến thuộc và ngôi vua 
Bồ Tát vì pháp tâm cung kính 
Tất cả như vậy đều thí xả 
Ðầu, mắt, tai, mũi, lưỡi và răng 
Tay, chân, xương, tủy, tim, máu, thịt 
Thí xả tất cả chưa là khó 
Chỉ cho nghe pháp là rất khó. 
Dầu có ai đến nói Bồ Tát: 
Nếu nhảy vào được trong hầm lửa 
Tôi sẽ truyền cho Phật pháp bửu 
Nghe nói vào lửa không khiếp sợ. 
Dầu cho lửa đầy cõi Ðại Thiên 
Thân từ trời Phạm mà nhảy vào 
Vì cầu Phật pháp xem không khó 
Huống là nhơn gian những khổ nhỏ. 
Từ sơ phát tâm đến thành Phật 
Tất cả sự khổ ngục A Tỳ 
Vì nghe Phật pháp đều chịu được 
Huống là sự khổ của nhơn gian. 
Nghe Phật pháp rồi Chánh tư duy 
Lại được Tứ thiền, Vô sắc định 
Tứ đẳng, Ngũ thông lần lượt khởi 
Chẳng theo định lực để thọ sanh. 
Bồ Tát ở đây thấy nhiều Phật 
Cúng dường nghe pháp tâm quyết định 
Dứt các tà hoặc càng thanh tịnh 
Như luyện chơn kim chất không giảm. 
Bực này thường làm Thiên Ðế Thích 
Hóa đạo vô lượng chúng cõi Trời 
Khiến bỏ tâm tham ở đạo lành 
Một bề chuyên cầu công Ðức Phật 
Phật tử ở đây siêng tinh tấn
Trăm ngàn tam muội đều đầy đủ 
Thấy trăm ngàn Phật thân oai nghiêm 
Nếu dùng nguyện lực hơn vô lượng 
Lợi ích khắp tất cả chúng sanh 
Công hạnh tối thượng của Bồ Tát 
Phát Quang Ðịa có như vậy thảy 
Tôi y theo nghĩa đã giải thích. 
Phật tử đã nghe hạnh rộng lớn 
pháp thù thắng thâm diệu đáng ưa 
Lòng đều hớn hở rất mừng vui 
Rải khắp hoa thơm cúng dường Phật. 
Lúc Bồ Tát diễn diệu pháp này 
Ðại địa, biển cả đều chấn động 
Tất cả Thiên nữ đều hoan hỷ 
Ðều phát diệu âm đồng ca ngợi 
Tự Tại Thiên Vương rất vui mừng. 
Rải ma ni bửu cúng dường Phật 
Khen rằng: Phật vì ta xuất thế 
Diễn nói công hạnh pháp đệ nhứt. 
Nghĩa của các Ðịa như đã giải 
Trong trăm ngàn kiếp rất khó gặp 
Nay tôi bỗng nhiên mà được nghe 
Diệu pháp thắng hạnh của Bồ Tát. 
________________
* Hán bộ quyển thứ 36
Mong lại diễn nói bực thông huệ 
Ðạo hạnh quyết định của Ðịa sau 
Lợi ích tất cả hành Trời, người 
Ðại chúng hội này đều mong mỏi. 
Dũng mãnh đại tâm Giải Thoát Nguyệt 
Thỉnh Kim Cang Tạng đại Bồ Tát: 
Ðệ tam chuyển vào đệ Tứ địa 
Có hành tướng gì xin tuyên nói. 
     Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:
    Thưa Phật tử! Ðại Bồ Tát từ Ðệ tam Phát Quang Ðịa đã khéo thanh tịnh, muốn vào Ðệ tứ Diệm Huệ Ðịa, phải tu hành mười pháp minh môn. Ðây là mười pháp:
    Quán sát chúng sanh giới, quán sát pháp giới, quán sát thế giới, quán sát hư không giới, quán sát thức giới, quán sát dục giới, quán sát sắc giới, quán sát vô sắc giới, quán sát quảng tâm tín giải giới, quán sát đại tâm tín giải giới, Bồ Tát do mười pháp minh môn này mà được vào đệ tứ Diệm huệ địa.
    Chư Phật tử! Bồ Tát an trụ nơi Diệm Huệ Ðịa này thời vì có thể dùng mười pháp do trí thành thục nên được nội pháp của đệ Tứ địa sanh vào nhà Như Lai.   Ðây là mười pháp do trí thành thục:
     Vì thâm tâm bất thối, vì trong Tam Bảo sanh tịnh tín rốt ráo chẳng hoại, vì quán hành pháp sanh diệt, vì quán các pháp tự tánh vô sanh, vì quán thế gian thành hoại, vì quán nhơn nơi nghiệp mà có sanh, vì quán sanh tử và Niết Bàn, vì quán chúng sanh quốc độ nghiệp, vì quán thời gian trước thời gian sau, vì quán vô sở hữu tận.
     Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bực đệ Tứ địa này quán nội thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian. Quán ngoại thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian. Quán nội ngoại thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.
     Cũng vậy, quán nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ, theo thọ quán. Quán nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm, theo tâm quán. Quán nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp, theo pháp quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.
     Bồ Tát này đối với pháp bất thiện chưa sanh, cì cho nó chẳng sanh mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh đoạn. Với pháp bất thiện đã sanh, vì dứt nó mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh đoạn. Với pháp thiện chưa sanh, vì cho nó sanh mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh hành. Với
pháp thiện đã sanh, vì cho nó còn mãi không mất càng thêm rộng lớn, mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh hành.
     Bồ Tát này tu hành dục định, dứt hành pháp thành tựu thần túc, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả. Tu hành tinh tấn định, tâm định, quán định, dứt hành pháp thành tựu thần túc, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
    Bồ Tát này tu hành tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
    Bồ Tát này tu hành tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
    Bồ Tát này tu hành niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phận, khinh an giác phần, định giác phần, xả giác phần, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
    Bồ Tát này tu hành chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
    Bồ Tát tu hành những công đức như vậy, vì
chẳng bỏ chúng sanh, vì bổn nguyện giữ gìn, vì đại bi làm đầu, vì đại từ thành tựu, vì tư niệm Nhứt thiết chủng trí, vì thành tựu trang nghiêm Phật độ, vì thành tựu đầy đủ lực, vô úy, bất động, tướng hảo, âm thanh của Như Lai, vì cầu đạo thượng thượng thù thắng, vì tùy thuận Phật pháp giải thoát thậm thâm đã nghe, vì tư duy đại trí thiện xảo phương tiện.
       Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bực Diệm Huệ Ðịa này, xuất nhập nơi tất cả chấp trước thân kiến, ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, uẩn, xứ, giới, để tu duy quán sát đối trị, tất cả sự chấp trước đều xa rời.
       Bồ Tát này nếu thấy những nghiệp nào bị Ðức Như Lai quở trách, bị phiền não nhiễm ô thời đều xa lìa. Thấy những nghiệp nào được Ðức Như Lai khen ngợi, thuận đạo Bồ Tát, thời đều tu hành.
     Chư Phật tử! Bồ Tát này tùy phát khởi huệ phương tiện đều tu tập đạo và trợ đạo. Vì vậy mà được tam nhuận trạch, tâm nhu nhuyến, tâm điều thuận, tâm lợi ích an lạc, tâm không tạp nhiệm, tâm cầu pháp thù thắng thượng thượng, tâm cầu trí huệ thù thắng, tâm cứu tất cả thế gian, tâm cung kính bực Tôn Ðức không trái lời dạy bảo, tâm khéo tu hành nơi pháp đã được nghe.
     Bồ Tát này biết ơn, biết báo ơn, rất hòa lành
đồng ở an vui, chất trực dịu dàng, không tạp loạn, không ngã mạn, khéo lãnh lời dạy được lòng của người nói.
     Bồ Tát này thành tựu nhẫn như vậy, thành tựu điều như vậy, thành tựu tịch diệt như vậy, thành tựu nhẫn điều nhu tịch diệt như vậy, lúc tác ý tu tập công hạnh của địa sau, liền được tinh tấn không thôi nghỉ, tinh tấn chẳng tạp nhiễm, tinh tấn chẳng thối chuyển tinh tấn rộng lớn, tinh tấn vô biên, tinh tấn hẩy hừng, tinh tấn vô đẳng đẳng, tinh tấn vô năng hoại, tinh tấn thành thục tất cả chúng sanh, tinh tấn khéo phân biệt là đạo hay phi đạo.
      Bồ Tát này tâm giới thanh tịnh thâm tâm chẳng mất, ngộ giải sáng lanh, thiện căn tăng trưởng, lìa cấu trược thế gian, dứt nghi lầm, đầy đủ minh đoán, đầy đủ hỷ lạc, được chính Ðức Phật hộ niệm nên vô lượng chí nguyện đều được thành tựu.
      Chư Phật tử! Bồ Tát ở bực đệ tứ Phát Quang Ðịa này do nguyện lực nên được thấy nhiều Ðức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật, đều kính trọng, phụng thờ, cúng dường và cũng cúng dường tất cả chúng Tăng. Ðem thiện căn này đều hồi hướng Vô thượng Chánh giác. Ở chỗ Chư Phật cung kính nghe pháp, nghe xong thọ
 trì tu hành toàn vẹn. Rồi lại ở trong pháp của Ðức Phật đó xuất gia tu hành. Rồi lại tu tập thâm tâm tín giải, trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, cho các căn lành càng thêm sáng sạch.
      Chư Phật tử! Ví như thợ kim hoàn luyện chơn kim làm thành đồ trang sức, những kim khí khác không thể sánh kịp.
      Cũng vậy, đại Bồ tát trụ bực đệ Tứ địa này có bao nhiêu thiện căn, những thiện căn của các bực dưới không thể sánh kịp.
      Như ma ni bửu thanh tịnh hay phóng quang minh, những châu báu khác không thể sánh kịp, gió mưa không làm hư được.
      Cũng vậy, Ðại bồ tát trụ bực đệ tứ địa này, các bồ tát bực dưới không thể sánh kịp,các ma phiền não đều không thể pháp hoại .
     Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên nhiều về đồng sự,trong mười môn ba la mật thiên nhiều về tinh tấn. Với các pháp môn khác thời tuỳ phần tuỳ sức mà tu tập .
     Chư Phật tử! đây là lược nói về bồ tát đệ tứ Diệm huệ địa .
      Bồ Tát trụ bực này phần nhiều làm Dạ Ma Thiên vương.Dùng thiện phương tiện hay trừ
/31
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây