Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 2 - Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.

 

Chương 22: Phẩm Thập Địa Thứ Hai Mươi Sáu - Phần 4 (trang 454-478)

thân kiến các thứ phiền não cho chúng sanh, khiến họ ở nơi chánh kiến . 
    Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ,­­ lợi hành , đồng sự thảy đều không rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nhẫn đến không rời Nhứt thiết chủng trí . 
     Bồ Tát này lại nghĩ rằng: trong tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng là vô thượng, nhẫn đến là bực y chỉ của nhứt thiết chủng trí .
     Bồ Tát này nếu siêng tinh tấn thời trong khoảng một niệm được nhập ức số tam muội, được thấy ức số đức Phật, được biết thần lực của ức số đức Phật, hay chấn động ức số thế giới, nhẫn đến hay thị hiện ức số thân Phật, mỗi mỗi thân hiện ức số bồ tát làm quyến thuộc. Nếu do nguyện lực thù thắng thời bồ tát này tự tại thị hiện hơn số trên đây, trong trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng tính đếm mà biết được .
     Kim cang tạng bồ tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng: 
Bồ Tát đã tịnh đệ tam địa . 
Kế quán chúng sanh , thế , pháp giới , 
Không giới , thức giới và tam giới  
Tâm hiểu thấu rõ hay thẳng vào . 
Mới lên diệm địa thêm thế lực
Sanh nhà như lai trọn bất thối 
Với Phật , pháp , tăng tin sâu chắc 
Quán pháp vô thượng và vô sanh 
Quán thế thành hoại , nghiệp có sanh 
Nghiệp có sanh tử , Niết Bàn cõi 
Quán tiền hậu tế cũng quán tận 
Tu hành như vậy sanh nhà Phật . 
Ðược pháp náy rồi sanh lòng từ 
Càng thêm siêng tu tứ niệm xứ 
Thân , thọ , tâm , pháp , nội ngoại quán 
Tham ái thế gian đều trừ dứt . 
Bồ Tát siêng tu tứ chánh cần 
Dứt trừ pháp ác , thêm thiện pháp 
Thần túc , căn , lực đều khéo tu 
Giác phần , chánh đạo cũng tinh tấn . 
Vì độ chúng tu trợ đạo 
Từ bi làm trước , bổn nguyện gìn 
Cầu nhứt thiết trí và Phật độ 
Cũng nhớ thập lực của Như Lai 
Tứ vô uý , thập bát bất cộng , 
Tướng hảo trang nghiêm tiếng thâm mỹ 
Cũng cầu diệu đạo chổ giải thoát 
Và công hạnh tu hành đại phương tiện . 
Thân kiến làm đầu sáu mươi hai
Ngã và ngã sở vô lượng thứ 
Uẩn , xứ , giới thảy những chấp trước 
Trong đệ tử địa lìa tất cả . 
Như Lai quở trách nghiệp phiền não 
Là nhơn khổ hoạn đều dứt trừ , 
Trí giả tu hành nghiệp thanh tịnh 
Vì độ chúng sanh tu tất cả. 
Bồ Tát siêng tu chẳng giải đãi . 
Liền được đầy đủ cả mười tâm 
Chuyên cầu Phật đạo chẳng mỏi nhàm 
Chí mong thọ chức độ muôn loại. 
Kính trọng Tôn Ðức tuân lời dạy 
Biết ơn, dễ bảo không hờn giận 
Bỏ mạn, lìa nịnh, lòng dịu dàng 
Lại thêm siêng năng chẳng thối chuyển. 
Bồ Tát trụ bực Diệm Huệ này 
Tâm Ngài thanh tịnh trọn không mất 
Ngộ giải quyết định, thêm căn lành 
Lưới nghi uế trược đều dứt hết. 
Bực Tứ địa: tối thắng trong người
Cúng dường na do vô lượng Phật. 
Ðược nghe chánh pháp cũng xuất gia 
Không phá hoại được như vàng thiệt. 
Bồ Tát Tứ địa đủ công đức
Dùng trí phương tiện tu đạo hạnh 
Chẳng bị loài ma tâm thối chuyển 
Ví như ma ni không hư hoại. 
Tứ Ðịa thường làm Dạ Thiên Vương 
Tự tại nơi pháp chúng tôn trọng 
Ðộ khắp quần sanh trừ ác kiến 
Chuyên cầu Phật trí tu thiện nghiệp. 
Bồ Tát càng thêm sức tinh tấn 
Ðược chứng tam muội đều số ức 
Nếu dùng nguyện lực tự tại làm 
Quá hơn số ức không đếm được. 
Như vậy Bồ Tát Diệm Huệ Ðịa 
Diệu hạnh thanh tịnh đã thật hành 
Công đức nghĩa trí cùng tương ưng 
Vì chư Phật tử, tôi đã nói. 
Ðại chúng được nghe Diệm Huệ Hạnh 
Tỏ ngộ diệu pháp lòng hoan hỷ 
Rải hoa hư không khen ngợi rằng: 
Lành thay Ðại Sĩ Kim Cang Tạng! 
Tự tại Thiên Vương cùng Thiên chúng 
Nghe pháp hớn hở trụ hư không 
Khắp phóng những mây sáng vi diệu 
Cúng dường Như Lai lòng vui đẹp. 
Chúng Thiên nữ hòa tấu Thiên nhạc
Cũng dùng lời ca khen ngợi Phật, 
Ðều do Bồ Tát sức oai thần 
Trong tiếng đờn ca phát lời này: 
Phật nguyện lâu xa nay mới đầy, 
Phật đạo lâu xa nay mới được, 
Thích Ca Mâu Ni đến Thiên cung 
Ðấng Thiên Nhơn Sư nay mới thấy,
Ðại hải lâu xa nay mới động, 
Phật quang lâu xa nay mới phóng. 
Chúng sanh lâu xa mới an vui, 
Tiếng đại từ bi lâu được nghe, 
Hạnh Ba la mật đều đã đến 
Kiêu mạn tối tăm đều đã trừ 
Cùng tột thanh tịnh như hư không 
Như hoa sen chẳng nhiễm thế pháp. 
Ðấng Ðại Mâu Ni hiện ra đời 
Ví như Tu Di vọi trên biển 
Cúng Phật có thể dứt các khổ 
Cúng dường tất được Như Lai trí, 
Chỗ đây đáng cúng, không gì bằng 
Thế nên hoan hỷ cúng dường Phật. 
Vô lượng Thiên nữ như vậy thảy 
Phát diệu âm thanh ca ngợi Phật 
Tất cả cung kính rất vui mừng 
Chiêm ngưỡng Như Lai, đứng yên lặng. 
Bấy giờ Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt 
Lại thỉnh Ðại Sĩ Kim Cang Tạng 
Hành tướng của Ðệ Ngũ Ðịa kia 
Mong đại Bồ Tát vì tuyên thuyết. 
     Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:
    Thưa Phật tử! Ðại Bồ Tát đệ Tứ Diệm huệ địa công hạnh đã khéo viên mãn muốn vào đệ ngũ Nan Thắng Ðịa, phải dùng mười thứ tâm bình đẳng thanh tịnh. Ðây là mười tâm:
     Tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp quá khứ, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp vị lai, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp hiện tại, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với giới, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với tâm, tâm bình đẳng thanh tịnh dứt trừ kiến nghi hối, tâm bình đẳng thanh tịnh nơi trí  đạo phi  đạo, tâm bình  đẳng thanh tịnh tu hành tri kiến, tâm bình  đẳng thanh tịnh nơi thượng thượng quán sát tất cả pháp Bồ đề phần, tâm bình đẳng thanh tịnh giáo hóa tất cả chúng sanh. 
     Ðại bồ tát dùng mười tâm bình đẳng thanh tịnh này mà được vào bực đệ ngũ nan thắng địa .
    Chư Phật tử! đại bồ tát đã an trụ bưực đệ ngũ địa do khéo tu pháp bồ đề phần, do khéo tịnh thâm tâm , do cầu thêm đạo thượng thắng , do tuỳ thuận chơn như , do nguyện lực chấp trì , do từ mẫn không bỏ tất cả chúng sanh , do chứa nhóm phước trí trợ đạo , do tinh tấn tu tập chẳng nghỉ , do xuất sanh phương tiện thiện xảo, do quán sát chiếu rõ các bực trên , do được như lai hộ niệm , do sức niệm trí chấp trì , mà được tâm bất thối chuyển . 
    Chư Phật tử! Đại Bồ tát này biết như thiệt đây là Khổ Thánh đế, đây thiệt là Khổ Tập Thánh đế, đây là Khổ Diệt thánh đế, đây là Khổ Diệt Đạo Thánh đế.
    Bồ Tát này khéo biết tục đế, khéo biết đệ nhứt nghĩa đế, khéo biết tướng đế, khéo biết sai biệt đế, khéo biết thành lập đế, khéo biết sự đế, khéo biết sanh đế, khéo biết tận vô sanh đế, k­héo biết nhập đạo trí đế, khéo biết tất cả Bồ tát địa thứ đệ thành tựu đế, nhẫn đến khéo biết Như Lai trí thành tựu đế .
     Bồ Tát này vì tuỳ lòng sở thích của chúng sanh làm cho họ hoan hỷ nên biết tục đế . Vì thông đạt nhứt thiết tướng nên biết đệ nhứt nghĩa đế . Vì tỏ thấu tự tướng cộng tướng của các pháp nên biết tướng đế . Vì rõ phần vị sai biệt của các pháp nên
biết sai biệt đế . Vì khéo phân biệt uẩn xứ giới nên thành lập đế . Vì tỏ ngộ các loài sanh tương tục nên biết sanh đế . Vì tất cả nhiệt não rốt ráo diệt nên biết tận vô sanh trí đế . Vì xuất sanh vô nhị nên biết nhập đạo trí đế . Vì chánh giác ngộ tất cả hành tướng nên biết tất cả bồ tát địa thứ đệ thành tựu đế nhẫn đến biết Như Lai trí thành tựu đế .
      Ðây là dùng sức tín giải trí mà biết chẳng phải dùng sức cứu cánh trí .
     Chư Phật tử! Ðại bồ tát này được các đế trí thời biết như thiệt tất cả pháp hửu vi hư vọng dối trá gạt phỉnh kẻ ngu , vì thế nên đối với tất cả chúng sanh càng tăng thêm quang minh đại bi và đại từ .
     Chư Phật tử! đại bồ tát được trí lực như vậy chẳng bỏ một chúng sanh, thường cầu Phật trí , quán sát như thiệt tất cả hạnh hửu vi về tiến tế và hậu tế: rõ biết từ tiền tế vô minh, ái , hữu mà sanh, do đây sanh tử lưu chuyển. Nơi các nhà ngũ uẩn không thể thoát ra, thêm lớn sự khổ, không ngã, không thọ giả, không gì kẻ dưỡng dục, không gì là kẻ luôn thọ lấy than loài sau, rời ngã và ngã sở.
     Như tiền tế, hậu tế cũng như vậy đều là vô sở
hữu, hư vọng tham trước , dứt hết thời được giải thoát . Hoặc có hoặc không điều biết như thiệt .
     Chư Phật tử! Ðại bồ tát này lại nghĩ rằng: hàng phàm phu này ngu si vô trí thật là đáng thương. Có vô số thân đã mất, nay mất, sẽ mất. Diệt mất như vậy mà chẳng thể đối với thân có quan niệm nhàm lìa, lại thêm lớn cơ quan khổ sở, theo dòng sanh tử chẳng trở lại được. Nơi những nhà ngũ uẩn chẳng cầu thoát khỏi, chẳng biết lo sợ bốn rắn độc lớn, không nhổ  được những mũi tên kiêu mạn kiến chấp, không dập tắt được ngọn lưởi tham, sân, si, không pháp tan được màn vô minh , không làm khô cạn được biển lớn ái dục. Họ chẳng biết cầu đấng đại thánh đạo sư đủ mười trí lực, mà vào trong rừng rậm ma ý. Ở trong biển sanh tử họ bị lượng sóng giác quán cuốn trôi nhận chìm. 
     Chư Phật tử! đại bồ tát này lại nghĩ rằng: những chúng sanh này thọ khổ như vậy, có cùng khốn đốn, không chổ nương, không ai cứu, không đất, không nhà, không mắt, không người dẫn dắt. Họ bị vô minh che loà, màn tối chụp trùm . Nay tôi vì họ mà tu hành những pháp trợ đạo phước trí. Ðơn độc pháp tâm chẳng cầu bè bạn. Ðem công đức này làm cho chúng sanh được rốt ráo
thanh tịnh, nhẫn đến chứng được mười trí kực vô ngại của Như Lai . 
     Chư Phật tử! Ðại bồ tát này dùng trí huệ quán sát thiện căn đã tu như vậy, đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, thương xót tất cả chúng sanh, thành tựu tất cả chúng sanh, thương xót tất cả chúng sanh, thành tựu tất cả chúng sanh, giải thoát tất cả chúng sanh nhiếp thọ tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những khổ não, khiến tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh chứng nhập Niết Bàn.  
     Chư Phật tử! Ðại bồ tát an trụ bực đệ ngũ nan thắng địa: Gọi là “niệm" là vì chẳng quên chánh pháp. Gọi là “trí “là vì hay khéo nói quyết rõ. Gọi là “hữu trí" là vì biết ý thú kinh thứ đệ liên hiệp. Gọi là “Tàm quý" là vì hộ mình hộ người. Gọi là “Kiên cố" vì chẳng bỏ giới hạnh. Gọi là “Giác" vì hay quán sát thị xứ phi xứ. Gọi là “Tuỳ trí" vì chẳng tuỳ nơi khác. Gọi là “Tuỳ huệ" vì khéo biết câu sai biệt đúng nghĩa hay chẳng đúng nghĩa. Gọi là “Thần thông" vì khéo tu thiền định. Gọi là “Phương tiện thiện xảo" vì có thể thực hành theo thế gian. Gọi là “Vô yểm túc “vì khéo chứa phước đức. Gọi là “Bất hưu tức” vì thường cầu trí huệ. Gọi là “Không mệt mỏi” vì chứa đại từ bi.
Gọi là “Siêng tu vì người” vì muốn cho tất cả chúng sanh chứng nhập Niết Bàn. Gọi là “Cần cầu chẳng giải đãi” vì cầu trí lực , vô uý , bất cộng pháp của Như Lai. Gọi là “Mống ý hay làm” vì thành tựu trang nghiêm Phật độ. Gọi là “Siêng tu công hạnh lành” vì hay  đầy  đủ tướng hảo. Gọi là “Thường siêng tu tập” vì cầu trang nghiêm thân , ngữ , ý Như Lai. Gọi là “Rất tôn trọng cung kính phá” vì đúng như lời dạy của tất cả đại bồ tát mà thật hành. Gọi là “Tâm không chướng ngại” vì dùng đại phương tiện thường du hành thế gian. Gọi là “Ngày đêm xa lìa những tâm khác” vì thích giáo hoá chúng sanh .
       Chư Phật tử! lúc đại Bồ Tát siêng tu hành như vậy , dùng Bố thí để giáo hoá chúng sanh , dùng ái ngữ lợi hành và đồng sự để giáo hoá chúng sanh . Thị hiện sắc thân để giáo hoá chúng sanh , diễn thuyết các pháp để giáo hoá chúng sanh . khai thị Bồ Tát hạnh để giáo hoá chúng sanh . Hiển thị lỗi lầm khổ sở của sanh tử để giáo hoá chúng sanh . Khen ngợi trí huệ lợi ích của Như Lai để giáo hoá chúng sanh . Hiện sức đại thần thông để giáo hoá chúng sanh . Hiện sức đại thần thông để giáo hoá chúng sanh . Dùng các môn phương tiện để giáo hoá chúng sanh . Dùng các môn phương tiện để giáo hoá chúng sanh 
      Chư Phật tử! Đại Bồ Tát này có thể siêng năng
 phương tiện như vậy để giáo hoá chúng sanh . lòng luôn tương tục thẳng đến Phật trí . Thiện căn đã tu không hề thối chuyển . Thường siêng tu học những pháp hành thù thắng .
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát này vì lợi ích chúng sanh nên gồm học tập tất cả kỹ nghệ thế gian , thông đạt cả những môn văn tự , toán số , đồ thơ , ấn loát , các sách luận về địa , thuỷ , hoả phong. Lại giỏi phương thuốc trị lành các bịnh: điên cuồng , càn tiêu , quỷ mị , cổ độc . lại giỏi những thứ văn bút , tấn vịnh , ca vũ, kỷ nhạc,diễu cười, đàm luận.Biết rành cách thức kiến thiết thành trì,thôn ấp,nhà cửa,vườn tược, suối ao, cây cỏ, hoa trái, dược thảo.Biết những nơi có mỏ vàng, bạc, châu, ngọc. Giỏi xem biết rành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim hót, địa chấn, chiêm bao tốt xấu, thân tướng sang hèn. Những môn trì giới, nhập thiền định,vô lượng thần thông, tứ vô sắc và tất cả việc thế gian khác, nếu là những sự không làm tổn chúng sanh mà đem lại lợi ích thời đều khai thị cho họ, lần đưa họ đến Phật pháp vô thượng .
     Chư Phật tử! đại Bồ Tát trụ bực Nan thắng địa này , do nguyện lực được thấy nhiều Ðức Phật , nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật đều kính trọng cúng dường, cũng cúng dường tất cả chúng Tăng . Ðem thiện căn này hồi hướng Vô
thượng Bồ đề . nơi Chư Phật cung kính nghe pháp , nghe xong thọ trì tuỳ sức tu hành.Sau đó xuất gia lại nghe Phật pháp được đà la ni làm qua trăm kiếp nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp,những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch .
     Chư Phật tử! ví như chơn kim dùng ngọc xa cừ để dồi bóng thời càng thêm sáng sạch .
     Cũng vậy, Bồ Tát này dùng Phương tiện huệ tư duy quán sát, những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch .
     Chư Phật tử! Bồ Tát trụ bực nan thắng địa dùng tiện trí thành tựu công đức,những thiện căn của bực dưới không thể sánh kịp .
     Chư Phật tử! như mặt trời mặt trăng cung điện quang minh do sức gió chấp trì nên không bị chướng ngăn phá hoại, cũng chẳng phải sức gió khác làm khuynh động được .
     Cũng vậy , những thiện căn của bực Bồ Tát này , do phương tiện trí theo dõi quán sát nên không bị ngăn hoại, cũngchẳng phải thiện căn của tất cả độc giác, thanh văn và thế gian làm khuynh động được .
    Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên
nhiều về thiền ba la mật, với các môn khác thời tuỳ phần tuỳ sức .  
     Chư Phật tử! đây là lược nói về đệ ngũ nan thắng địa Bồ Tát .
     Bồ Tát ở bực này thường làm đâu suất thiên vương .Ðối với chúng sanh đều được tự tại.Dẹp trừ tất cả ngoại đạo tà kiến, có thể làm cho chúng sanh trụ trong thiệt đế .
    Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp,niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhứt thiết chủng trí .
     Bồ Tát này lại nghĩ rằng: tôi sẽ ở trong chúng sanh làm thượng thủ, làm thắng, làm thù thắng, làm diệu, làm vi diệu , làm vô thượng nhẫn đến làm bực y chỉ của nhứt thiết chủng trí .
    Bồ Tát này nếu phát cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được ngàn ức tam muội,thấy ngàn ức Ðức Phật , biết thần lực của ngàn ức Ðức Phật,có thể chấn động ngàn ức thế giới, nhẫn đến thị hiện ngàn ức thân Phật , mỗi mỗi thân hiện ngàn ức Bồ Tát làm quyến thuộc .
    Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại để thị
hiện thời hơn vô số trên đây , nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm được .
      Kim cang tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Bồ Tát tứ địa đã thanh tịnh 
Tư duy tam thế Phật bình đẳng 
Giới,tâm,trừ nghi, đạo phi đạo
Quán sát như vậy vào ngũ địa . 
Niệm xứ làm cung ,căn làm tên . 
Chánh cần làm ngựa , xe: thần túc , 
Giáp sắt ngũ lực phá oán địch , 
Mạnh mẽ bất thối vào ngũ địa , 
Tàm quý y phục, hoa giác phần 
Tịnh giới y phục, hoa giác phần 
Tịnh giới làm hương, thiền hương thoa 
Trí huệ phương tiện diệu trang nghiêm 
Vào rừng tổng trì, vườn tam muội . 
Như ý làm chân,cổ chánh niệm , 
Từ bi làm mắt, răng trí huệ , 
Ðấng sư tử vô ngã rống vang động . 
Phá giặc phiền não vào ngũ địa 
Bồ Tát trụ bực đệ ngũ này 
Chuyển tu thắng thượng đạo thanh tịnh 
Chí cầu Phật pháp chẳng bất thối chuyển 
Gẫm nhớ từ bi không nhàm mõi .
Chứa nhóm phước trí thắng công đức 
Tinh tấn phương tiện quán bực trên 
Phật lực gia hộ đủ niệm huệ 
Rõ biết tứ đế như thiệt . 
Khéo biết thế đế , thắng nghĩa đế 
Tướng đế , sai biệt thành lập đế , 
Sự đế, sanh , tận và đạo đế. 
Nhẫn đến Như Lai vô ngại đế. 
Quán đế như vậy đầu vi diệu 
Chưa được vô ngại thắng giải thoát . 
Do đây hay sanh thắng công đức . 
Cho nên vượt hơn thế trí huệ . 
Ðã quán đế rồi biết hửu vi . 
Thể tánh hư dối không bền chắc 
Ðược phần từ quang của chư Phật   
vì lợi chúng sanh cầu Phật trí . 
Quán pháp hửu vi thuở trước sau 
Vô minh tối tăm , ái ràng buộc 
Lưu chuyển xoắn trong quả khổ 
Không ngã, không nhơn, không thọ mạng . 
Ái thủ làm nhơn thọ khổ sau 
Muốn tìm ngằn mé không thể được , 
Mê vọng trôi chìm không thuở về 
Bọn này đáng thương tôi phải độ .
Nhà: Uẩn, rắn: Cõi, mũi tên: Chấp  
Tâm hoả hừng hực, si tối nặng 
Sông ái cuốn trôi chẳng rảnh xem 
Biển khổ dật dờ không người dắt . 
Rõ biết như vậy siêng tinh tấn 
Chổ làm đều vì độ chúng sanh 
Gọi là người có niệm có huệ 
Nhẫn đến có giác giải phương tiện . 
Tu tập phước trí không nhàm đủ 
Cung kính đa văn chẳng mõi nhàm 
Cõi nước tướng hảo đều trang nghiêm 
Như vậy đều ví chúng sanh cả 
Vì muốn giáo hoá các thế gian 
Giỏi biết thơ số cách ấn loát 
Và cũng biết rành các phương thuốc 
Chửa trị bịnh tật đều được lành . 
Văn từ , ca vũ đều khéo giói 
Nhà cửa,vườn ao đều an ổn . 
Mõ vàng , bạc ngọc đều pháp hiện 
Vô lượng chúng sanh nhờ lợi ích . 
Nhựt, nguyệt, tinh tú và địa chấn 
Nhẫn đến thân tướng cũng quán sát 
Tứ thiền,vô sắc và thần thông 
Vì lợi thế gian đều hiển thị . 
Trí giả trụ bực Nan thắng này 
Cúng vô lượng Phật và nghe pháp 
Như dùng diệu bửu trau chơn kim 
Thiện căn đã có càng sáng sạch . 
Ví như tinh tú ở hư không 
Phong lực chấp trì không tổn động . 
Cũng như hoa sen không dính nước 
Bồ Tát độ đời cũng như vậy . 
Bực này thường làm đâu suất vương 
Hay dẹp ngoại đạo các Phật trí 
Nguyện được thập lực độ tận chúng sanh 
Ngài tu hành đại tinh tấn 
Liền được cúng dường ngàn ức Phật 
Ðắc định, động cõi cũng ngàn ức 
Nếu là nguyện lực lại hơn đây . 
Bồ Tát đệ ngũ nan thắng địa 
Chơn đạo tối thượng trong nhơn gian 
Tôi cùng các môn phương tiện lực 
Vì Chư Phật đã tuyên thuyết . 
* Bồ Tát đã nghe những thắng hạnh 
Lòng rất hoan hỷ rải hoa thơm 
Phóng tịnh quang minh rải bửu châu 
__________________
* Hán bộ quyển thứ 37
Cúng duờng Như Lai khen nói giỏi . 
Trăm ngàn thiên chúng đều vui mừng 
Ðồng ở hư không rải các báu: 
Tràng hoa, chuổi ngọc và tràng phan 
Lọng báu , hương thoa đều cúng Phật . 
Tự tại thiên vương cùng quyến thuộc 
Lòng sanh hoan hỷ trụ hư không 
Rải báu thành mây dùng cúng dường 
Khen rằng Phật tử khéo tuyên thuyết! 
Vô lượng thiên nữ ở hư không 
Ðồng tấu nhạc âm ca ngợi Phật 
Trong tiếng ca nhạc đều nói rằng 
Lời Phật hay trừ bịnh phiền não , 
Pháp tánh bổn tịch không hình tướng 
Dường như hư không chẳng phân biệt 
Ngoài những chấp trước , tuyệt nói phô 
Chơn thiệt bình đẳng thường thanh tịnh . 
Nếu muốn thông đạt các pháp tánh 
Nơi có , nơi không lòng chẳng động 
Vì muốn cứu đời siêng tu hành 
Từ miệng Phật sanh chơn Phật tử . 
Bố thí vẫn không thấy có tướng , 
Vốn đứt điều ác gìn giử tịnh giới , 
Hiểu pháp không hại , thường nhẫn nhịn ,
Biết pháp tánh ly , chuyên tinh tấn , 
Ðã hết phiền não vào thiền định , 
Khéo đạt tánh không,phan biệt pháp 
Ðầy đủ trí lực ,hay cứu rộng 
Diệt trừ điều ác xưng đại sĩ . 
Diệu âm như vậy ngàn vạn thứ 
Khen rồi đứng yên chiêm ngưỡng Phật . 
Giải thoát nguyệt Bồ Tát rằng:
Dùng hành tướng gì vào Lụa địa?
      Kim Cang Tạng Bồ tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ tát rằng:
      Thưa Phật tử! đại Bồ Tát đã đủ đệ ngũ địa muốn vào đệ lục hiện tiền địa phải quán sát mười pháp bình đẳng. Ðây là mười pháp:
      Tất cả pháp vì vô tướng nên bình đẳng vì vô thế nên bình đẳng , vì vô sanh nên bình đẳng,vì vô diệt nên bình đẳng , vì bổn lai thanh tịnh nên bình đẳng , vì không hý luận nên bình đẳng,vì không thủ xã nên bình  đẳng,vì tịch tịnh nên bình  đẳng.Vì như huyễn,như mộng,như bóng, như vang, như trăng trong nước, như tượng trong gương , như dương diệm, như biến hoá nên bình đẳng , vì có không bất nhị nên bình đẳng .
      Bồ Tát quán sát các pháp như vậy , tự tánh thanh tịnh , tuỳ thuận không trái được vào đệ Lục
hiện tiền địa , được minh lợi tuỳ thuận nhẫn, chưa được vô sanh pháp nhẫn .
     Chư Phật tử! đại Bồ Tát này quán như vậy rồi , lại lấy đại làm đầu , đại bi tăng thượng , đại bi đầy đủ , quán thế gian sanh diệt mà nghĩ rằng: Thế gian thọ sanh đều do chấp ngã.Nếu lìa chấp ngã thời không chỗ sanh .
     Lại nghĩ rằng: Phàm phu không trí huệ chấp lấy ngã thường tìm có không , suy xét bất chánh, khởi vọng hạnh, làm đạo tà, nghiệp tội, nghiệp bất động tích tập thêm lớn.Ở trong các nghiệp hành trồng hột giống tâm hửu lậu hữu thú, lại khởi hậu hữu: sanh và lão tử.Chính là: nghiệp làm đồng ruộng, thức làm hột giống, vô minh che rợp, nước ái thấm nhuần, ngã mạn tưới bón, lưới chấp kiến thêm lớn, mọc mầm danh sắc, danh sắc thêm lớn nẩy chồi ngũ căn , các căn đối nhau sanh ra xúc, xúc đối sanh có thọ, sau khi thọ rồi mong cầu sanh có ái , ái tăng thêm sanh ra thủ, thêm lớn thủ sanh ra hữu, đã sanh hữu thời ở trong các loài khởi thân ngũ uẩn gọi là sanh,suy biển gọi là lão,chết mất gọi là tử. Lúc lão tử sanh ra những nhiệt não .Do nhiệt não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập họp lại .Ðây là do duyên mà tập họp chớ không có cái tập họp.Lần lượt mà diệt chớ không có cái diệt .
     Bồ Tát tuỳ thuận quán sát tương duyên khởi như vậy .
     Chư Phật tử! đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng: vì chẳng tỏ ngộ nơi đệ nhứt nghĩa đế nên gọi là vô minh . Nghiệp quả là hành .sơ tâm của hành y chỉ là thức. Bốn uẩn cùng thức sanh chung là danh sắc. Danh sắc tăng trưởng là lục nhập.Căn , cảnh, thức ba thứ hòa hiệp là xúc. Xúc sanh chung mà có thọ. Nhiễn trước nơi thọ là ái. Thêm lớn ái thành ra thủ. Nghiệp hữu lậu do thủ khởi lên là hữu. Từ nghiệp khởi ra uẩn là sanh. Uẩn chín mùi là lão. Uẩn hư hoại là tử.Lúc mê tham luyến trong lòng phiền muộn là sầu. Rơi lệ than thở là thán.Tại năm căn là khổ .Tại ý tưởng là ưu . Ưu khổ càng nhiều là não .
      Như thế thì chỉ có cây khổ làm tăng trưởng , trọn không ngã không ngã sở, không tác giả, không thọ giả .
      Lại nghĩ rằng: nếu có tác giả thời có tác sự .Nếu không tác giả thời không tác sự .Trong đệ nhứt nghĩa đế hoàn toàn bất khả đắc .
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát này lại nghĩ rằng: toàn cả tam giới chỉ có nhứt tâm. Ở đây đức Như Lai phân biệt diễn nói mười hai chi, đều y cứ nhứt tâm mà an lập như vậy .
       Tại sao vậy ? Vì theo sự tham dục cùng tâm sanh chung .Tâm là thức, sự là hành .Mê lầm nơi hành là vô minh .Cùng vô minh và tâm sanh chung là danh sắc .Tăng trưởng danh sắc là lục nhập .Lục nhập ba phần là xúc .Xúc sanh chung là thọ .Thọ không nhàm đủ là ái .Ái nhiếp chẳng bỏ là thủ .Các hữu chi sanh là hữu. Của hữu phát khởi gọi là sanh .Sanh thục là lão .Lão hoại là tử
      Chư Phật tử! trong đây vô minh có hai thứ nghiệp: một là làm cho chúng sanh mê nơi cảnh sở duyên, hai là làm nhơn sanh khởi cho hành .
      Hành cũng có hai thứ nghiệp: một là có thể sanh ra báo vị lai, hai là làm nhơn sanh khởi cho thức .
      Thức cũng có hai thứ nghiệp: một là khiến các hữu nối tiếp,hai là làm nhơn sanh khởi cho danh sắc .
      Danh sắc cũng có hai thứ nghiệp: một là trợ thành lẫn nhau,hai là làm nhơn sanh khởi cho lục nhập.
      Lục nhập cũng có hai thứ nghiệp: một là đều riêng lấy cảnh giới của tự mình, hai là làm nhơn sanh khởi cho xúc .
      Xúc cũng có hai thứ nghiệp: Một là hay xúc cảnh sở duyên. Hai là làm nhơn sanh khởi cho thọ .
     Thọ cũng có hai nghiệp: một là hay lãnh thọ các sự yêu ghét , hai là làm nhơn sanh khởi cho ái .
     Ái cũng có hai nghiệp: một là nhiễm trước sự khả ái, hai là làm nhơn sanh khởi cho thủ .
     Thủ cũng có hai nghiệp: một là làm cho các phiền não nối tiếp, hai là làm nhơn sanh khởi cho hữu .
     Hữu cũng có hai nghiệp: một là hay làm cho sanh trong các loài, hai là làm nhơn sanh khởi cho sanh .
     Sanh cũng có hai nghiệp: một là hay khởi các uẩn, hai là làm nhơn sanh khởi cho lão .
     Lão cũng có hai nghiệp: một là làm cho các căn biến đổi, hai là làm nhơn sanh khởi cho tử .
     Tử cũng có hai thứ nghiệp: một là hay làm hoại cách hành, hai là vì chẳng giác tri nên nối tiếp chẳng dứt .
     Chư Phật tử! trong đây vô minh,duyên hành, nhẫn đến sanh duyên lão tử .Do vô minh làm duyên, nhẫn đến sanh làm duyên làm cho hành nhẫn đến lão tử chẳng dứt , vì nó trợ thành vậy .
      Vô minh diệt thời hành diệt, nhẫn đến sanh diệt thời lão tử diệt .Do vô minh chẳng làm duên nhẫn đến sanh chẳng làm duyên, khiến cho hành nhẫn đến lão tử dứt diệt, vì nó chẳng trợ thành vậy .
       Chư Phật tử! trong đây vô minh ái và thủ chẳng dứt là phiền não đạo . Hành và hữu chẳng dứt là nghiệp đạo .Những phần khác chẳng dứt là khổ đạo. Tiền tế hậu tế phân biệt dứt diệt thời ba đạo dứt diệt . Ba đạo như vậy lìa ngã, lìa ngã sở, chỉ có sanh diệt dường như bó lau .
       Lại vô minh duyên hành là quán quá khứ .Thức nhẫn đến thọ là quán hiện tại. Ái nhẫn đến hữu là quán vị lai .Từ đây về sau xoay vần tiếp nối .Vô minh diệt, hành diệt, đó là quán chờ dứt diệt .
      Lại mười hai hữu chi gọi là tam khổ. Trong đây vô minh, hành đến lục nhập là hành khổ. Xúc, thọ là khổ khổ. Những chi khác là hoại khổ. Vô minh diệt, hành diệt đó là ba khổ dứt .
      Lại vô minh duyên hành là vô minh làm nhơn hay sanh các hành .Các chi khác cũng vậy.
      Vô minh diệt hành diệt đó là do không vô minh thời hành cũng không .Các chi khác cũng không . Các chi khác cũng vậy .
     Lại vô minh duyên hành đó là sanh phược. Vô minh diệt hành diệt đó là diệt hệ phược. Các chi khác cũng vậy .
     Lại vô minh duyên hành đó là tùy thuận vô sở hữu quán .vô minh diệt hành diệt đó là tùy thuận tận diệt quán. Các chi khác cũng vậy .
/31
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây