Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tập Yếu Tập 2

Tập Yếu Tập 2

Tác giả: Tỳ Khưu INDACANDA. Dịch giả: Tỳ Khưu INDACANDA. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 374.

Chương 13: Sưu Tập Về Các Bài Kệ - Phần Hai (Trang 290 - 323)

SƯU TẬP VỀ CÁC BÀI KỆ - PHẦN HAI:1
 
1. Bao nhiêu tội đã được làm do thân? Bao nhiêu đã được làm do khẩu?  Bao nhiêu tội của vị đang che giấu? Bao nhiêu là do duyên xúc chạm?
2. - Sáu loại tội do thân. Sáu đã được làm do khẩu.2 Ba tội của vị đang  che giấu.3 Năm là do duyên xúc chạm.4
3. Vào lúc rạng đông bao nhiêu tội? Bao nhiêu là đến lần thứ ba? Ở đây  bao nhiêu tội liên quan đến tám việc? Sự tổng hợp về tất cả là với bao nhiêu?
_______________

1 Các câu trả lời ở Chánh Tạng chỉ được ghi ngắn gọn nên cần phải xem lời giải thích của ngài Buddhaghosa. Nguồn trích dẫn cho các lời giải thích của Ngài được cung cấp một phần do I. B. Horner, dịch giả bản Anh ngữ, còn một phần là sự đóng góp của người dịch.
2 Tội vi phạm do thân: là tội sanh lên với nguồn sanh tội thứ tư là do thân và do ý, không do khẩu. Tội vi phạm do khẩu: là tội sanh lên với nguồn sanh tội thứ năm là sanh lên do khẩu và do ý, không do thân (Sđd.). Xem chi tiết ở Parivāra - Tập Yếu tập 1, TTPV 08, trang 331.
3 Ba loại tội của vị đang che giấu: là tội pārājika thứ nhì đến vị tỳ khưu ni che giấu tội lỗi (của tỳ khưu ni khác), tội pācittiya 64 đến vị tỳ khưu che giấu tội xấu xa (của tỳ khưu khác), và tội dukkaṭa đến vị che giấu tội xấu xa của bản thân (VinA. vii, 1380).
4  Năm tội do duyên xúc chạm: là tội pārājika thứ nhất của tỳ khưu ni, về phần của tỳ khưu là tội saṅghādisesa thứ nhì do việc xúc chạm thân thể, tội thullaccaya do việc thân chạm vào vật được gắn liền với thân, tội dukkaṭa do vật được ném ra chạm vào vật được gắn liền với thân, và tội pācittiya 52 do việc thọt lét bằng ngón tay (VinA. vii, 1380-1382).


4. - Vào lúc rạng đông ba loại tội.1 Hai tội đến lần thứ ba.2 Ở đây có  một loại liên quan đến tám việc.3 Sự tổng hợp về tất cả là với một điều.4
5. Đối với Luật, có bao nhiêu căn nguyên đã được quy định bởi đức  Phật? Tội nghiêm trọng ở Luật đã được nói đến là bao nhiêu? Sự che giấu  về tội phạm xấu xa có bao nhiêu?
6. - Đối với Luật, có hai căn nguyên 5 đã được quy định bởi đức Phật. Luật. Hai loại tội nghiêm trọng ở Luật đã được nói đến.6 Hai sự che giấu  về tội phạm xấu xa.7
_____________
1 Rạng đông ba loại tội: là các tội nissaggiya pācittiya do cất giữ các loại vật dụng vượt quá 1 đêm, 6 đêm, 7 ngày, 10 ngày, 1 tháng, tội saṅghādisesa 3 cho tỳ khưu ni cư ngụ riêng rẽ qua đêm, và tội dukkaṭa do che giấu tội (VinA. vii, 1381).
2  Hai tội đến lần thứ ba: là loại tội vi phạm do việc không dứt bỏ khi được nhắc nhở đến lần thứ ba áp dụng cho hai hạng tỳ khưu và tỳ khưu ni nên được tính là hai (Sđd.).
3 Một loại liên quan đến tám việc: là tội pārājika thứ tư đến vị tỳ khưu ni làm đầy đủ tám sự việc (Sđd.).
4  Sự tổng hợp về tất cả là với một điều: Phần mở đầu của việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha có đoạn: 'yassa siyā āpatti, so āvikareyya' nghĩa là 'nếu vị nào có phạm tội, vị ấy nên bày tỏ' (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 1, TTPV 04, chương II, trang 251). Với một lời đọc tụng này là sự tổng hợp về tất cả các điều học và toàn bộ giới bổn Pātimokkha (VinA. vii, 1381).
5  Đối với Luật, có hai căn nguyên: là thân và khẩu (Sđd.).
6 Hai loại tội nghiêm trọng: là tội pārājika và tội saṅghādisesa (Sđd.).
7 Tội phạm xấu xa có hai sự che giấu: Vị tỳ khưu ni che giấu tội pārājika của vị tỳ khưu ni khác thì phạm tội pārājika thứ nhì, vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa của vị tỳ khưu khác thì phạm tội pācittiya 64 (Sđd.).
7. Bao nhiêu tội ở trong làng? Bao nhiêu do duyên vượt sông? Bao nhiêu  tội thullaccaya về các loại thịt? Bao nhiêu tội dukkaṭa về các loại thịt?
8. - Bốn loại tội trong làng.1 Bốn loại do duyên vượt sông.2 Tội  thullaccaya về một loại thịt. Tội dukkaṭa về chín loại thịt.3
9. Ban đêm, bao nhiêu tội có liên quan đến khẩu? Ban ngày bao nhiêu  tội có liên quan đến khẩu? Trong khi cho có bao nhiêu loại tội? Bao nhiêu trong khi thọ nhận?
10. - Ban đêm, có hai tội liên quan đến khẩu.4  Ban ngày có hai tội liên quan đến khẩu.1 Trong khi cho có ba tội.2 Và bốn tội về việc thọ nhận.3
______________________
1 Bốn loại tội trong làng: Tỳ khưu hẹn với tỳ khưu ni hoặc với người nữ đi đường xa phạm dukkaṭa, khi bước vào vùng phụ cận của ngôi làng khác thì phạm tội pācittiya (xem điều học pācittiya 27, 67), vị tỳ khưu ni đi vào làng một mình có liên quan đến hai tội là tội thullaccaya và tội saṅghādisesa (xem điều học saṅghādisesa 3 của tỳ khưu ni).
2 Bốn loại tội do duyên vượt sông: Tỳ khưu hẹn với tỳ khưu ni đi chung thuyền phạm dukkaṭa (điều pācittiya 28), rồi lên chung thuyền thì phạm tội pācittiya, vị tỳ khưu ni vượt sang sông một mình có liên quan đến hai tội là thullaccaya và tội saṅghādisesa (điều saṅghādisesa 3 của tỳ khưu ni).
3 Tội liên quan đến mười loại thịt: Tội thullaccaya đến vị thọ dụng thịt người, tội dukkaṭa đối với vị thọ dụng chín loại thịt không được phép còn lại (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương VI, trang 39-43).
4  Ban đêm, có hai tội liên quan đến khẩu: Vị tỳ khưu ni đứng chuyện trò với người nam trong bóng tối không đèn trong khoảng cách của tầm tay thì phạm tội pācittiya 11, trường hợp ở ngoài tầm tay thì phạm tội dukkaṭa (VinA. vii, 1381-1382).
11. Có bao nhiêu tội đưa đến việc sám hối? Bao nhiêu tội đã làm có sự  sửa chữa được? Ở đây, bao nhiêu tội không có sự sửa chữa đã được nói lên  bởi đức Phật, vị thân quyến mặt trời?
12. - Có năm loại tội đưa đến việc sám hối.4 Sáu loại tội đã làm có sự  sửa chữa được.5 Ở đây, một loại tội không có sự sửa chữa đã được nói lên bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời.
13. Bao nhiêu loại tội nặng của Luật đã được nói đến có liên quan đến  thân và khẩu? Bao nhiêu tội lúc sái thời có vị của lúa gạo? Bao nhiêu sự
thỏa thuận với sự thông báo đến lần thứ tư?
14. - Có hai loại tội nặng của Luật đã được nói đến có liên quan đến thân và khẩu. Một tội lúc sái thời có vị
_____________________
1 Ban ngày có hai tội liên quan đến khẩu: Vào ban ngày vị tỳ khưu ni đứng chuyện trò với người nam ở chỗ được che khuất trong khoảng cách của tầm tay thì phạm tội pācittiya 12, ngoài tầm tay phạm tội dukkaṭa (Sđd. 1382).
2  Trong khi cho có ba tội: Vị tỳ khưu cho thuốc độc và đã hại chết người thì phạm tội pārājika, hại chết dạ-xoa và phi nhân thì phạm tội thullaccaya, hại chết thú vật thì phạm tội pācittiya (xem điều học pārājika thứ ba của tỳ khưu), hoặc cho y đến tỳ khưu ni thì phạm tội pācittiya 25 (Sđd.).
3 Bốn tội về việc thọ nhận: Vị tỳ khưu chạm vào tay và tóc của người nữ phạm tội saṅghādisesa thứ nhì, đưa dương vật vào miệng có sự đụng chạm phạm tội pārājika thứ nhất, thọ lãnh y từ tay của vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến phạm tội nissaggiya pācittiya 5, vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng thọ nhận vật thực từ tay của người nam nhiễm dục vọng (nhưng chưa thọ dụng) phạm tội thullaccaya (xem tội saṅghādisesa 5 của tỳ khưu ni).
4 Năm loại tội đưa đến việc sám hối: là các loại tội nhẹ (Sđd.).
5  Sáu loại tội có sự sửa chữa: là các tội còn lại sau khi trừ ra tội pārājika là loại tội không có sự sửa chữa (Sđd.).


 
của lúa gạo.1 Một sự thỏa thuận với  (hành sự) có lời đề nghị đến lần thứ tư.2
15. Tội pārājika liên quan đến thân là bao nhiêu? Có bao nhiêu nền tảng của việc đồng cộng trú? Sự đứt đêm là của bao nhiêu hạng? Về việc hai
lóng tay, đã được quy định là bao nhiêu? 
16. - Tội pārājika liên quan đến thân có hai điều.3 Và có hai nền tảng  của việc đồng cộng trú.4 Và sự đứt đêm là của hai hạng. 5 Về việc hai lóng  tay, có hai điều đã được quy định.6
17. Sau khi đánh chính mình bao nhiêu tội? Hội chúng bị chia rẽ bởi bao  nhiêu cách? Ở đây có bao nhiêu tội vi phạm ngay tức thời? Bao nhiêu do  nguyên nhân của lời đề nghị?
_______________________

1 Một tội lúc sái thời có vị của lúa gạo: Là cháo chua có bỏ muối vào lúc sái thời (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương VI, trang 25).
2 Một sự thỏa thuận với hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư: là hành sự chỉ định vị tỳ khưu làm vị giáo giới tỳ khưu ni (xem điều học pācittiya 21 của tỳ khưu).
3 Tội pārājika liên quan đến thân có hai: là tội pārājika về việc đôi lứa của tỳ khưu và tội pārājika về việc xúc chạm thân thể của tỳ khưu ni (VinA. vii, 1382).
4  Hai nền tảng của việc đồng cộng trú: Tự bản thân thực hiện việc không đồng cộng trú cho bản thân, hoặc là hội chúng hợp nhất phạt án treo vị ấy (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương X, trang 335).
5  Sự đứt đêm là của hai hạng: là vị thực hành hành phạt parivāsa và vị thực hành hành phạt mānatta (VinA. vii, 1382).
6  Về việc hai lóng tay có hai điều: là tội pācittiya 5 về việc tỳ khưu ni làm sạch sẽ bằng nước sâu quá hai lóng tay và tội dukkaṭa về việc tỳ khưu để tóc dài (Sđd.).


 
18. - Sau khi đánh chính mình hai tội.1  Hội chúng bị chia rẽ bởi hai  cách.2  Ở đây có hai loại tội vi phạm ngay tức thời.3  Hai loại do nguyên nhân của lời đề nghị.
19. Trong việc giết hại mạng sống bao nhiêu tội? Vì lời nói có bao nhiêu tội pārājika? Do việc nói lời (thô tục) bao nhiêu tội được nói đến? Hoặc do
việc mai mối là bao nhiêu?
20. - Trong việc giết hại mạng sống ba tội. Vì lời nói vi phạm ba tội pārājika.4 Do việc nói lời (thô tục) ba tội được đề cập đến. Hoặc do việc  mai mối là ba tội.5
21. Có bao nhiêu hạng người không được tu bậc trên? Các hành sự có  bao nhiêu phần tổng hợp lại? Bao nhiêu kẻ bị trục xuất được nói đến? Một tuyên ngôn cho bao nhiêu người?
22. - Có ba hạng người không được tu bậc trên. Các hành sự có ba phần  tổng hợp lại.1 Ba kẻ bị trục xuất được nói đến.2 Một tuyên ngôn cho ba người.3 
________________________
1 Sau khi đánh chính mình hai tội: Vị tỳ khưu ni tự đánh đấm chính mình rồi khóc lóc phạm tội pācittiya 20, tự đánh đấm chính mình mà không khóc phạm tội dukkaṭa (Sđd.).
2 Hội chúng bị chia rẽ bởi hai cách: là chia rẽ bằng cách thực hiện hành sự hoặc là bằng cách phân phát thẻ biểu quyết (Sđd.).
3 Hai loại tội vi phạm ngay tức thời: là được phân theo tỳ khưu và tỳ khưu ni (Sđd. 1383).
4  Vì lời nói vi phạm ba tội pārājika: nói đến tội pārājika 2, 3, 4 của tỳ khưu ni là: che giấu tội, xu hướng theo vị bị phạt án treo, và liên quan tám sự việc. Tuy nhiên, Chú Giải Kurundī nói đến việc trộm cắp có sự bàn bạc, giết người, và khoe pháp thượng nhân (Sđd.).
5 Do lời nói ba tội được đề cập: Do việc nói lời thô tục, vị tỳ khưu có thể vi phạm ba tội là tội saṅghādisesa, thullaccaya, và tội dukkaṭa; xem điều học saṅghādisesa 3 của tỳ khưu. Cũng với ba tội trên ở điều học saṅghādisesa 5 của tỳ khưu về việc làm mai mối (Sđd.).

 
23. Về việc lấy vật không được cho có bao nhiêu tội? Bao nhiêu do duyên  việc đôi lứa? Bao nhiêu tội trong khi chặt đứt? Bao nhiêu do duyên đã
quăng bỏ?
24. Về việc lấy vật không được cho có ba tội. Bốn do duyên việc đôi lứa. Ba tội trong khi chặt đứt. Năm do duyên đã quăng bỏ.4
25. Ở phần giáo giới tỳ khưu ni có các tội dukkaṭa và pācittiya? Nơi đây có bao nhiêu nhóm chín được nói đến? Và với y của bao nhiêu hạng?
26. Ở phần giáo giới tỳ khưu ni có các tội dukkaṭa và pācittiya. Nơi đây có bốn nhóm chín được nói đến.5  Và với y của hai hạng.
27. Và đối với các tỳ khưu ni bao nhiêu tội pāṭidesanīya được nói đến? Có bao nhiêu tội dukkaṭa
___________________

1 Các hành sự có ba phần gộp chung lại: là việc tiến hành tuyên ngôn hành sự gồm ba phần: phần đầu với lời đề nghị, phần giữa với phần thông báo, và phần cuối là câu kết luận (Sđd.).
2 Ba kẻ bị trục xuất được nói đến: là tỳ khưu ni Mettiyā (xem phần duyên khởi ở điều học saṅghādisesa 8 của tỳ khưu), kẻ vô căn được xuất gia ở nơi các tỳ khưu rồi đã làm điều nhơ nhớp (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 1, TTPV 04, chương I, trang 213), và sa di Kantaka được nói đến ở điều học pācittiya 70 của tỳ khưu (VinA. vii, 1384).
3  Một tuyên ngôn cho ba người: là có thể tiến hành tuyên ngôn tu lên bậc trên cho hai hoặc ba vị một lượt (Sđd.).
4  Năm do duyên đã quăng bỏ: Do việc đổ bỏ thuốc độc và đã hại chết người, hoặc dạ-xoa, hoặc loài thú phạm tội pārājika, hoặc tội thullaccaya, hoặc tội pācittiya (xem điều pārājika thứ ba của tỳ khưu), làm xuất ra tinh dịch liên quan tội saṅghādisesa thứ nhất, và việc đổ bỏ chất thải do tiêu tiểu lên cỏ xanh phạm tội dukkaṭa ở phần sekhiya (Sđd.).
5 Bốn nhóm chín được nói đến: là hai nhóm chín về hành sự sai pháp và đúng pháp ở điều học pācittiya 21 của tỳ khưu (Sđd.).


 
với tội pācittiya vì thóc lúa chưa xay trong lúc  đang thọ thực?
28. Và đối với các tỳ khưu ni có tám tội pāṭidesanīya đã bị vi phạm được nói đến. Tội dukkaṭa với tội pācittiya đã bị vi phạm vì thóc lúa chưa  xay trong lúc đang thọ thực.1
29. Đối với vị đang đi có bao nhiêu tội? Hoặc ngay cả đối với vị đang đứng có bao nhiêu? Đối với vị đã ngồi xuống có bao nhiêu tội? Ngay cả đối với vị đã nằm xuống có bao nhiêu?
30. Đối với vị đang đi có bốn loại tội. Hoặc ngay cả đối với vị đang đứng cũng có bấy nhiêu. Đối với vị đã ngồi xuống có bốn loại tội. Ngay cả đối với vị đã nằm xuống cũng có bấy nhiêu.
31. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có thể vi phạm bao nhiêu tội pācittiya đồng một lượt không trước không sau?
32. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có thể vi phạm năm tội pācittiya đồng một lượt không trước không sau.2
_______________________
1 Các vị thọ thực thóc lúa chưa xay đã vi phạm hai loại tội dukkaṭa và pācittiya được đề cập đến ở điều học pācittiya 7 của tỳ khưu ni (Sđd.).
2 Vi phạm năm tội pācittiya đồng một lượt: Vị tỳ khưu sau khi thọ lãnh năm loại dược phẩm rồi trộn chung vào trong vật chứa khác nhau hoặc trong cùng một vật chứa rồi để quá bảy ngày. Vị ấy phạm năm tội nissaggiya pācittiya khác sự vật đồng một lúc, không thể phân biệt tội nào trước tội nào sau (Sđd. 1385).
33. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có thể vi phạm bao nhiêu tội  pācittiya đồng một lượt không trước không sau?
34. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có thể vi phạm chín tội pācittiya  đồng một lượt không trước không sau.1
35. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có bao nhiêu tội pācittiya? Có thể sám hối tội với bao nhiêu lời nói, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời?
36. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có năm tội pācittiya. Có thể sám hối tội chỉ với một lời nói, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời.
37. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có bao nhiêu tội pācittiya? Có thể sám hối tội với bao nhiêu lời nói, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời?
38. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có chín tội pācittiya. Có thể sám hối tội chỉ với một lời nói, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời.
39. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có bao nhiêu tội pācittiya? Và sau khi báo điều gì thì có thể sám hối tội, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời?
40. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có năm tội pācittiya. Sau khi báo sự việc thì có thể sám hối tội, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời.
_________________________
1 Vi phạm chín tội pācittiya đồng một lượt: Vị tỳ khưu không bị bệnh sau khi yêu cầu chín loại vật thực hảo hạng trộn chung lại với nhau rồi thọ thực phạm chín tội pācittiya 39 (Sđd.).
41. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có bao nhiêu tội pācittiya? Và sau  khi báo điều gì thì có thể sám hối tội, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời?
42. Tất cả các sự việc đều khác nhau, có chín tội pācittiya. Sau khi báo sự việc thì có thể sám hối tội, đã được đề cập đến bởi vị thân quyến của mặt trời.
43. Bao nhiêu loại tội vi phạm cho đến lần thứ ba? Bao nhiêu do duyên phát biểu? Bao nhiêu loại tội trong khi nhai? Bao nhiêu do duyên vật thực?  44. Ba loại tội vi phạm cho đến lần thứ ba.1 Sáu loại do duyên phát biểu.2 Ba loại tội trong khi nhai.3 Năm tội do duyên vật thực.1
_______________________
1 Ba loại tội vi phạm cho đến lần thứ ba: là ba loại tội được thành lập khi đã được hội chúng nhắc nhở đến lần thứ ba gồm có: tội pārājika 3 cho vị tỳ khưu ni xu hướng theo tỳ khưu tà kiến, tội saṅghādisesa 11 đến vị tỳ khưu ủng hộ việc chia rẽ hội chúng, tội pācittiya 68 đến vị tỳ khưu không dứt bỏ tà kiến (Sđd.).
2 Sáu loại tội vi phạm do duyên phát biểu: nói về sáu trường hợp hư hỏng vì nguyên nhân nuôi mạng đã được đề cập trước đây ở trang 97: Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng, tội pārājika. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị thực hành việc mai mối, tội saṅghādisesa. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị nói rằng: 'Vị (tỳ khưu) nào sống trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,' tội thullaccaya. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị tỳ khưu yêu cầu vật thực hảo hạng vì lợi ích của bản thân rồi thọ thực, tội pācittiya. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị tỳ khưu ni yêu cầu vật thực hảo hạng vì lợi ích của bản thân rồi thọ thực, tội pāṭidesanīya. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị không bị bệnh yêu cầu xúp hoặc cơm vì lợi ích của bản thân rồi thọ thực, tội dukkaṭa (Sđd. 1385-1386).
3 Ba loại tội trong khi nhai: trong trường hợp nhai thịt người thì phạm tội thullaccaya, nhai chín loại thịt không được phép còn lại
45. Tất cả các điều học cho đến lần thứ ba đưa đến bao nhiêu trường hợp tội? Và là tội của chính bao nhiêu hạng người? Và do sự tranh tụng của bao nhiêu hạng người? 
46. Tất cả các điều học cho đến lần thứ ba đưa đến năm trường hợp tội.2 Và là tội của chính năm hạng người.3 Và do sự tranh tụng của năm hạng.
47. Công việc xét xử (tội) là của bao nhiêu hạng người? Và việc giải quyết là của bao nhiêu hạng người? Sự không vi phạm tội của chính bao nhiêu hạng người? Vị chói sáng với bao nhiêu trường hợp? 
48. Công việc xét xử (tội) là của năm hạng người. Và việc giải quyết là của năm hạng. Sự không vi phạm tội của chính năm hạng. Vị chói sáng với ba trường hợp.4
49. Bao nhiêu về ban đêm có liên quan đến thân? Bao nhiêu về ban ngày có liên quan đến thân? Đối với vị
______________________
phạm tội dukkaṭa, tỳ khưu ni nhai tỏi phạm tội pācittiya (Sđd. 1386).

1  Năm tội do duyên vật thực: ba loại tội trên thêm vào tội saṅghādisesa đến vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng tự tay thọ nhận vật thực từ tay của người nam nhiễm dục vọng rồi thọ thực, và tội pāṭidesanīya đến vị tỳ khưu ni yêu cầu vật thực hảo hạng rồi thọ dụng; tổng cộng là năm loại tội (Sđd.).
2 Các điều học cho đến lần thứ ba đưa đến năm trưởng hợp tội: là tội dukkaṭa, tội thullaccaya, tội pārājika được nói đến ở điều pārājika 3 của tỳ khưu ni về việc xu hướng theo vị tỳ khưu bị án treo, thêm vào tội saṅghādisesa 10 về chia rẽ hội chúng và tội pācittiya 68 về việc không chịu dứt bỏ tà kiến ác của tỳ khưu (Sđd.).
3 Tội của chính năm hạng người: tức là năm hạng người đồng đạo gồm có tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, và sa di ni (Sđd.).
4 Vị chói sáng với ba trường hợp: là nói đến ba nơi là ở giữa hội chúng, ở nhóm, và trong sự hiện diện của cá nhân (Sđd. 1387).

 
đang nhìn chăm chú có bao nhiêu tội? Bao nhiêu do duyên đồ ăn khất thực? 
50. Hai loại về ban đêm có liên quan đến thân. Hai loại về ban ngày có liên quan đến thân.1  Đối với vị đang nhìn chăm chú có một tội.2 Một tội do
duyên đồ ăn khất thực.3
51. Trong khi thấy được bao nhiêu điều lợi ích rồi sám hối vì niềm tin kẻ khác? Các vị bị phạt án treo đã được nói đến bao nhiêu loại? Bao nhiêu sự  thực hành đúng đắn? 
52. Trong khi thấy được tám điều lợi ích rồi sám hối vì niềm tin kẻ khác.4 Các vị bị phạt án treo đã được nói đến ba loại.5 Bốn mươi ba việc
ấy là các sự thực hành đúng đắn.1
_____________________
1 Hai loại tội về ban đêm có liên quan đến thân và hai loại về ban ngày có liên quan đến thân: xem cước chú [n] và [o] của trang 275.
2 Đối với vị đang nhìn chăm chú có một tội: vị tỳ khưu ni nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh phạm tội dukkaṭa (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương X, trang 509).
3  Một tội do duyên đồ ăn khất thực: là nhìn vào mặt nữ thí chủ trong khi thọ lãnh vật thực phạm tội dukkaṭa (Sđd., chương VIII, trang 357).
4 Trong khi thấy được tám điều lợi ích rồi sám hối vì niềm tin kẻ khác: Về điều này, ngài Buddhaghosa giải thích là ở Kosambakakkhandhakaṃ (VinA. vii, 1387). Tuy nhiên, ở chương Kosambī có đề cập đến tám điều nhưng không xác định rõ là tám điều lợi ích (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương X, các trang 331-333).
5  Các vị bị phạt án treo đã được nói đến ba loại: là ba loại hành phạt án treo trong việc không nhìn nhận tội, trong việc không sửa chữa
53. Nói dối trong bao nhiêu trường hợp? Bao nhiêu được gọi là 'tối đa'? Bao nhiêu tội pāṭidesanīya? Và do sự thú tội là của bao nhiêu? 
54. Nói dối trong năm trường hợp.2 Mười bốn được gọi là 'tối đa.'3 Mười hai tội pāṭidesanīya.4 Và do sự thú tội là của bốn hạng.5
55. Nói dối bao nhiêu chi phần? Bao nhiêu việc của lễ Uposatha? Bao nhiêu yếu tố của vị sứ giả? Bao nhiêu sở hành của ngoại đạo? 
56. Nói dối tám chi phần. Tám việc của lễ Uposatha. Tám yếu tố của vị sứ giả. 6 Tám lối hành xử của ngoại đạo.1
_______________________
lỗi, và trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 1, TTPV 06, chương I, các trang 87, 109, 129).
1  Bốn mươi ba sự thực hành đúng đắn: là bốn mươi ba phận sự của vị tỳ khưu thực thi hành sự án treo (Sđd., chương I, trang 99).
2 Nói dối trong năm trường hợp: là nói dối có thể đưa đến việc vi phạm năm tội là pārājika, saṅghādisesa, thullaccaya, pācittiya và dukkaṭa (VinA. vii, 1387).
3  Mười bốn được gọi là 'tối đa': là các điều học có từ 'paramaṃ' như là dasāhaparamaṃ, māsaparamaṃ, santaruttaraparamaṃ, v.v... tổng cộng trong hai bộ giới bổn có tất cả là 14 điều học (Sđd.).
4  Mười hai tội pāṭidesanīya: nghĩa là thuộc về tỳ khưu có bốn điều học pāṭidesanīya, còn tỳ khưu ni có tám (Sđd.).
5  Sự thú tội là của bốn hạng: là sự sám hối của những người do Devadatta sai đi đến giết đức Thế Tôn (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương VII, trang 281), của người đàn bà đã quyến rũ ngài Anuruddha ở phần duyên khởi của điều pācittiya 7, của Vaḍḍha Licchavi bị hành phạt úp ngược bình bát (Sđd., chương V, trang 63), và việc sám hối của các vị tỳ khưu đến đại đức Kassapagotta ở làng Vāsabha (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương IX, trang 245).
6  Tám yếu tố của vị sứ giả: xem chú thích 4 ở của trang 75.
57. Việc tu lên bậc trên có bao nhiêu lời đọc? Nên đứng dậy đối với bao nhiêu hạng người? Nên nhường chỗ ngồi cho bao nhiêu hạng người? Vị giáo giới tỳ khưu ni với bao nhiêu (yếu tố)? 
58. Việc tu lên bậc trên có tám lời đọc.2 Nên đứng dậy đối với tám hạng người. Nên nhường chỗ ngồi cho tám hạng người.3 Vị giáo giới tỳ khưu ni  với tám (yếu tố).4
59. Dự tính chia rẽ là của bao nhiêu vị? Tội thullaccaya dành cho bao nhiêu vị? Và không phạm tội đối với cả thảy bao nhiêu vị? Có phải tất cả có
chung một sự việc? 
60. Sự chia rẽ là của một vị. Tội thullaccaya dành cho bốn vị. Và không  phạm tội đối với cả thảy bốn vị. Tất cả có chung một sự việc.5
61. Bao nhiêu sự việc gây nóng giận? Hội chúng bị chia rẽ bởi số lượng bao nhiêu? Ở đây bao nhiêu vị
________________
1 Tám lối hành xử của ngoại đạo: Mahāvagga - Đại Phẩm tập 1, TTPV 04, chương I, trang 175).
2 Việc tu lên bậc trên có tám lời đọc: là việc tu lên bậc trên của tỳ khưu ni ở hai hội chúng (VinA. vii, 1388).
3 Nên đứng dậy đối với tám hạng người, nên nhường chỗ ngồi cho tám
hạng người: Hai điều này áp dụng cho tỳ khưu ni ở trong nhà ăn (Sđd.).
4 Vị giáo giới tỳ khưu ni với tám yếu tố: là nên chỉ định vị tỳ khưu có tám chi phần làm vị giáo giới tỳ khưu ni (Sđd.). Xem chi tiết ở điều học pācittiya 21 của tỳ khưu.
5 Câu kệ này có liên quan đến việc chia rẽ hội chúng: là nói đến trường hợp chia rẽ hội chúng có liên quan đến chín vị: Một vị là vị phân phát thẻ như trường hợp của Devadatta, bốn vị phạm trọng tội là các vị xu hướng theo như là vị Kokālika, v.v..., bốn vị nói đúng Pháp thì vô tội, việc chia rẽ hội chúng là một sự việc có liên quan đến tất cả (Sđd.).


 
phạm tội tức thời? Bao nhiêu do tác động của lời đề nghị? 
62. Chín sự việc gây nóng giận. Hội chúng bị chia rẽ bởi chín vị tỳ khưu. Ở đây có chín vị phạm tội tức thời. Chín việc do tác động của lời đề nghị.
63. Bao nhiêu hạng người không nên được đảnh lễ, chắp tay và với hành động thích hợp? Tội dukkaṭa là của bao nhiêu người? Cất giữ y bao nhiêu ngày? 
64. Mười hạng người không nên được đảnh lễ, chắp tay và với hành động thích hợp.1 Tội dukkaṭa đối với mười hạng người.2 Cất giữ y mười ngày. 
65. Ở đây y nên dâng đến bao nhiêu vị đã trải qua mùa mưa? Nên dâng trong sự hiện diện của bao nhiêu vị? Không nên dâng đến bao nhiêu vị? 
66. Ở đây y nên dâng đến năm vị đã trải qua mùa mưa.3 Nên dâng trong sự hiện diện đối với bảy vị.4 Không nên dâng đến mười sáu vị.1
____________________
1 Mười hạng người không nên được đảnh lễ: được đề cập ở Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương VI, trang 179.
2 Tội dukkaṭa đối với mười hạng người: là tội dukkaṭa đối với vị thực hiện các hành động chắp tay, đảnh lễ, v.v... đối với mười hạng người trên (VinA. vii, 1388).
3 Ở đây y nên dâng đến năm vị đã trải qua mùa mưa: là nên dâng trong sự hiện diện của năm vị đã trải qua mùa (an cư) mưa là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, và sa di ni (Sđd.).
4  Nên dâng trong sự hiện diện đối với bảy vị: là nên dâng đến vị nhận giùm thích hợp đối với trường hợp bảy vị là vị đi xa, vị bị điên, vị có
67. Sau khi che giấu bao nhiêu trăm tội trong thời gian một trăm đêm,  vị hành parivāsa có thể được tự do sau khi ngụ được bao nhiêu đêm? 
68. Sau khi che giấu một ngàn tội trong thời gian một trăm đêm, vị hành parivāsa có thể được tự do sau khi ngụ được mười đêm.2
69. Bao nhiêu sự hư hỏng của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Trong sự việc về Luật ở Campā, tất cả các việc sai pháp là bao nhiêu? 
70. Mười hai sự hư hỏng của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời.3 Trong sự việc về Luật ở Campā toàn bộ tất cả các việc đã làm đều sai pháp.
71. Bao nhiêu sự thành tựu của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Trong sự
______________________
tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, và ba vị bị ba loại án treo (Sđd.).

1  Không nên dâng đến mười sáu vị: là mười sáu vị được đề cập ở Chương Y Phục (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương VIII, trang 227) bắt đầu là kẻ vô căn, v.v... (VinA. vii, 1388).
2 Sau khi che giấu một ngàn tội trong thời gian một trăm đêm, vị hành parivāsa có thể được tự do sau khi ngụ được mười đêm: Trong trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa nhưng mỗi một tội chỉ che giấu mười ngày nên chỉ chịu hành phạt parivāsa là mười ngày đêm (Sđd. 1389).
3 Mười hai sự hư hỏng của hành sự: Bốn loại hành sự (hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư) được thực hành sai trái theo ba cách (sai Pháp theo phe nhóm, sai Pháp có sự hợp nhất, đúng Pháp theo phe nhóm), tổng cộng lại là mười hai (Sđd.).


 
việc về Luật ở Campā tất cả các việc đúng pháp là bao nhiêu? 
72. Bốn sự thành tựu của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật,1 vị thân quyến của mặt trời. Trong sự việc về Luật ở Campā tất cả các việc đã làm đều đúng pháp.
73. Có bao nhiêu loại hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Trong sự việc về Luật ở Campā, các việc đúng pháp,
sai pháp là bao nhiêu? 
74. Có sáu loại hành sự2 đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Trong sự việc về Luật ở Campā, nơi ấy một việc đã làm đúng pháp, năm việc sai pháp đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời.
75. Có bao nhiêu hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Trong sự việc về Luật ở Campā các việc đúng pháp, sai pháp là bao nhiêu? 
76. Bốn hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Trong sự việc về Luật ở Campā, nơi ấy một việc đã làm đúng pháp, ba việc sai pháp đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời.
______________________
1 Bốn sự thành tựu của hành sự: là bốn loại hành sự trên được thực hành đúng Pháp có sự hợp nhất (Sđd.).
2  Sáu loại hành sự là: Hành sự phe nhóm sai Pháp, hành sự hợp nhất sai Pháp, hành sự phe nhóm có vẻ ngoài đúng Pháp, hành sự hợp nhất có vẻ ngoài đúng Pháp, hành sự phe nhóm đúng Pháp, hành sự hợp nhất đúng Pháp (Sđd.).
77. Các nhóm tội vi phạm đã được giảng bởi đấng Chiến Thắng vô biên như thế ấy, bậc thấy được sự thoát ly, ở đây bao nhiêu tội được làm lắng dịu không với các sự dàn xếp? Hỡi vị rành rẽ về phân tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy trả lời. 
78. Các nhóm tội vi phạm đã được giảng bởi đấng Chiến Thắng vô biên như thế ấy, bậc thấy được sự thoát ly, ở đây một tội được lắng dịu không với các sự dàn xếp?1 Hỡi vị rành rẽ về phân tích, tôi trả lời ngài điều này.
79. Bao nhiêu kẻ chịu khổ đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật. 
80. Một trăm bốn mươi bốn kẻ chịu khổ địa ngục tồn tại tròn một kiếp, là các vị chia rẽ hội chúng, đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời.2 Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
81. Bao nhiêu vị không phải chịu khổ đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
___________________

1 Ở đây một tội được lắng dịu không có các sự dàn xếp: là nhóm tội pārājika (Sđd. 1390).
2  Một trăm bốn mươi bốn kẻ chịu khổ địa ngục: là những trường hợp của vị tỳ khưu với mười tám cách tuyên bố sai trái phân theo tám tình huống (Sđd. 1390). Xem tám tình huống ở Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương VII, các trang 325-331.

 
82. Mười tám vị không phải chịu khổ, đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
83. Có bao nhiêu nhóm tám đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân  quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
84. Có mười tám nhóm tám đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
85. Có bao nhiêu hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
86. Có mười sáu hành sự1 đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
87. Bao nhiêu sự hư hỏng của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
88. Mười hai sự hư hỏng của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
89. Bao nhiêu sự thành tựu của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật,vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
___________________
1 Xem phần 'nên biết về mười sáu hành sự ' ở trang 153 (ND).
90. Bốn sự thành tựu của hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
91. Có bao nhiêu hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
92. Có sáu hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
93. Có bao nhiêu hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
94. Có bốn hành sự đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
95. Bao nhiêu tội pārājika đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
96. Tám tội pārājika đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
97. Bao nhiêu tội saṅghādisesa đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.


 
98. Hai mươi ba tội saṅghādisesa đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
99. Bao nhiêu tội aniyata đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
100. Hai tội aniyata đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
101. Bao nhiêu tội nissaggiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
102. Bốn mươi hai tội nissaggiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
103. Bao nhiêu tội pācittiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
104. Một trăm tám mươi tám tội pācittiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
105. Bao nhiêu tội pāṭidesanīya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
106. Mười hai tội pāṭidesanīya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
107. Bao nhiêu điều sekhiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời? Chúng tôi lắng nghe các luận điểm của ngài, là vị đang giải thích về Luật.
108. Bảy mươi lăm điều sekhiya đã được nói đến bởi đức Phật, vị thân quyến của mặt trời. Hãy lắng nghe các luận điểm của tôi, là vị đang giải thích về Luật.
109. Khi nào còn được hỏi khéo léo bởi ngài thì sẽ còn được giải đáp rõ ràng bởi tôi. Do việc hỏi và đáp không có gì không rõ.
 
Dứt Sưu Tập về Các Bài Kệ (Phần Hai).
 
--ooOoo--
CÁC BÀI KỆ LÀM XUẤT MỒ HÔI: 1
 
1. Vị không đồng cộng trú với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni, không đạt được một việc thọ hưởng chung nào đó ở nơi vị ấy, sao không bị phạm tội do việc không xa lìa? 2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
2. Không nên phân tán, không được phân chia, năm vật đã được nói đến bởi vị Đại Ẩn Sĩ. Sao không phạm tội trong lúc phân chia và trong lúc thọ dụng?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
3. Tôi không đề cập đến mười hạng cá nhân, hạng thứ mười một cũng cần phải tách ra?4 Tại sao lại phạm
__________________

1 Trong chương này, các câu trả lời được ghi lại theo lời giải thích ở Aṭṭhakathā và Ṭīkā. Các phần trích dẫn nhờ vào công lao của dịch giả I. B. Horner. Tuy nhiên, có một số câu hỏi vẫn còn chưa xác định được ý nghĩa (ND).
2 Câu kệ 1: có liên quan đến đứa bé trai được người mẹ là tỳ khưu ni mang thai rồi sanh ra và nuôi dưỡng ở ni viện (Sđd., chương X, trang 533). 'Không đồng cộng trú' là không có sự cộng trú chung về các việc như là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, v.v... 'Không đạt được một việc thọ hưởng chung nào đó ở nơi vị ấy' nghĩa là không đạt được sự thọ hưởng chung không được phép (với các tỳ khưu ni), tuy nhiên lại được phép làm với chính người mẹ ruột, và 'không bị phạm tội do việc không xa rời' nghĩa là không phạm tội trong việc ngụ chung nhà (VinA. vii, 1391).
3 Câu kệ 2: Năm trọng vật thuộc về hội chúng không được phân tán và không được phân chia (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương VI, các trang 203-209). Trường hợp không phạm tội đề cập đến vị tỳ khưu ni là người mẹ của đứa bé trai do việc cô ta phải nuôi dưỡng đứa bé trai cho đến khi đứa bé trai ấy đạt được sự hiểu biết (VinA. vii, 1391).
4 Câu kệ 3: Đề cập đến mười hạng người không nên đảnh lễ: vị tu lên bực trên sau, vị chưa tu lên bậc trên, vị thâm niên hơn thuộc nhóm khác nói sai Pháp, phụ nữ, người vô căn, vị bị hành phạt parivāsa, vị


tội khi đảnh lễ vị lớn?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
4. Vị không bị án treo, và cũng không phải là vị hành parivāsa, không bị chia rẽ hội chúng, và cũng không thay đổi phe nhóm, là vị tồn tại trên nền tảng, cùng chung đồng cộng trú, vì sao lại có sự riêng biệt về việc học tập?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
5. Vị đi đến Pháp tốt đẹp, có liên hệ mục đích, trong khi đang được hỏi, không sống, không phải đã chết, không phải đã Niết Bàn, chư Phật nói về
nhân vật ấy thế nào?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
6. Tôi không đề cập đến phần trên của xương đòn, bỏ qua phần dưới rốn, do duyên việc đôi lứa vì sao lại phạm tội pārājika?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
______________________
xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị xứng đáng hành phạt mānatta, vị thực hành hành phạt mānatta, vị chưa được giải tội (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương VI, trang 179). Hạng thứ mười một là vị tỳ khưu lõa thể (VinA. vii, 1391).
1 Tại sao lại phạm tội khi đảnh lễ vị lớn?: Ngài Buddhaghosa không giải thích câu này. Có thể là nói đến vị thâm niên nói sai pháp ở mười hạng người không nên đảnh lễ (ND).
2  Câu kệ 4: Nói đến vị tỳ khưu trước đây làm nghề thợ cạo (Mahāvagga - Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương VI, trang 103). Do vị này không được
phép thực hành việc cạo tóc, còn các vị khác vẫn được; vì thế có sự riêng biệt về việc học tập (VinA. vii, 1391).
3 Câu kệ 5: Câu hỏi này nói đến hình tượng đức Phật (Sđd.).
4  Câu kệ 6: là thực hiện việc đôi lứa qua đường miệng với hạng phi nhân không có đầu, các con mắt và miệng thì ở trên ngực (Sđd.).

 
7. Vị tỳ khưu tự yêu cầu rồi xây dựng cốc liêu, nền đất chưa được xác định, vượt quá kích thước, ở chỗ có sự nguy hiểm, không khoảng trống trải, không phạm tội?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
8. Vị tỳ khưu tự yêu cầu rồi xây dựng cốc liêu, nền đất được xác định, theo kích thước, không có sự nguy hiểm, có khoảng trống trải, lại phạm tội?2  Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
9. Vị không làm hành động gì có liên quan đến thân và cũng không nói về những người khác bằng lời nói lại vi phạm tội nặng có nền tảng bị cắt rời?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
10. Người tốt không làm điều gì ác có liên quan đến thân, khẩu, luôn cả ý, vì sao vị ấy lại bị trục xuất, còn bị trục xuất hoàn toàn?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
11. Không chuyện trò với bất cứ người nào bằng lời, và không nói câu nào với những người khác lại có thể
____________________
Hạng này thấy được đề cập ở câu chuyện dẫn giải 51 của điều pārājika thứ tư.
1  Câu kệ 7: Vị tỳ khưu tự yêu cầu rồi thực hiện cốc liêu lợp bằng cỏ thì không phạm tội (Sđd.).
2  Câu kệ 8: Vị làm cốc liêu toàn bằng đất sét (Sđd.); việc này đức Phật không cho phép. Xem câu chuyện của đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm ở phần duyên khởi của điều pārājika 2.
3 Câu kệ 9: Vị tỳ khưu ni che giấu tội pārājika của vị tỳ khưu ni khác phạm tội pārājika (Sđd.).
4 Câu kệ 10: Đề cập đến mười một hạng người không thể tu lên bậc trên như người vô căn, kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), v.v... (Sđd.). Xem chi tiết ở Mahāvagga - Đại Phẩm tập 1, TTPV 04, chương I, các trang 213-221. TTVN tập 04, từ trang 163.

 
phạm tội liên quan đến khẩu, không liên quan đến thân?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
12. Các điều học được đức Phật vị cao quý ca ngợi, có bốn điều saṅghādisesa, có thể phạm tất cả chỉ do một hành động?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
13. Cả hai (vị ni) đã được tu lên bậc trên từ một hội chúng, vị thọ nhận y từ tay của cả hai, các tội vi phạm có thể khác nhau?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
14. Bốn người sau khi hẹn hò trước đã lấy trộm trọng vật, ba vị phạm pārājika, còn một vị không phạm pārājika?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
___________________
1 Câu kệ 11: Liên quan đến phần mở đầu của giới bổn Pātimokkha có đoạn: '... vị tỳ khưu nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đã có thì vị ấy cố tình nói dối...' (VinA. vii, 1391). Xem chi tiết ở Mahāvagga - Đại Phẩm tập 1, TTPV 04, chương II, trang 251.
2 Câu kệ 12: Liên quan đến bốn việc làm của vị tỳ khưu ni ở điều saṅghādisesa 3: Vào rạng sáng, vị tỳ khưu ni rời khỏi nhóm sang sông đi vào làng, khi đã sang ngày mới vị ni ấy phạm bốn tội saṅghādisesa là đi vào làng một mình, đi sang bờ sông bên kia một mình, trong đêm trú ngụ riêng một mình, một mình tách rời ra khỏi nhóm (VinA. vii, 1392).
3 Câu kệ 13: Vị tỳ khưu ni thọ nhận y từ tay vị tỳ khưu ni chỉ được tu ở hội chúng tỳ khưu phạm pācittiya (các vị tỳ khưu ni này gồm có 500 vị tỳ khưu ni dòng Sakya được tu lên bậc trên sau bà Mahāpajāpati Gotamī), từ tay vị tỳ khưu ni chỉ được tu ở hội chúng tỳ khưu ni phạm dukkaṭa (Sđd.).
4 Câu kệ 14: Vị thầy dạy học và ba học trò đã trộm vật giá trị sáu māsaka. Vị thầy tự tay lấy trộm 3 māsaka, còn 3 māsaka kia là do sự ra lệnh, nên tội vi phạm là thullaccaya; còn mỗi người học trò
15. Người nữ ở bên trong, và vị tỳ khưu là ở bên ngoài, không có lỗ hỗng ở ngôi nhà, vì sao lại vi phạm tội pārājika do duyên việc đôi lứa?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
16. Dầu ăn, mật ong, và cả đường, bơ lỏng, sau khi tự mình thọ lãnh rồi để riêng, khi bảy ngày chưa trải qua đối với vị thọ dụng khi có duyên cớ lại có tội?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
17. Tội nissaggiya, tội pācittiya thuần túy là cùng một lần cho vị đang vi phạm?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
18. Hai mươi vị tỳ khưu tụ hội làm hành sự tưởng rằng có hợp nhất, có vị tỳ khưu đứng xa mười hai do-tuần làm hỏng hành sự ấy vì lý do phe nhóm?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
19. Và với vị đã nói lên bằng lời, dầu chỉ truyền đạt giữa khoảng cách của bước chân, có thể vi phạm cùng một lượt sáu mươi bốn tội, tất cả đều là tội nặng có sự
________________________
trộm một māsaka, nhưng liên quan đến việc ra lệnh là 5 māsaka nên đã phạm tội pārājika. Chi tiết được đề cập ở điều pārājika thứ nhì về trộm cắp (Sđd.).
1 Câu kệ 15: Đây là câu hỏi về vật bao bọc được làm bằng vải, được đề cập có liên quan đến việc đã được che phủ lại (Sđd.).
2 Câu kệ 16: Câu kệ này được đề cập có liên quan đến việc biến đổi hiện tướng (Sđd.).
3 Câu kệ 17: Đối với vật đã được khằng định là dâng cho hội chúng, vị thuyết phục dâng cho bản thân mình và dâng cho vị khác nữa nên phạm luôn cả hai tội là tội nissaggiya và tội pācittiya thuần túy (Sđd.).
4 Câu kệ 18: Liên quan đến gāmasīmā ở các thành phố rộng 12 do-tuần như thành Bārāṇasī, v.v... (Sđd.).


 
sửa chữa được?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
20. Vị đã quấn vào với y nội, đã trùm lên y saṅghāṭi hai lớp, tất cả các y ấy là phạm tội nissaggiya?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
21. Không có lời đề nghị, cũng không có tuyên ngôn hành sự, và đấng Chiến Thắng đã không nói: 'Hãy đến, này tỳ khưu, ' vị ấy cũng chẳng có sự đi đến nương tựa (Tam Quy), mà đã được tu lên bậc trên, và sự tu lên bậc trên là bền vững cho vị ấy?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
22. Giết người nữ không phải là mẹ, và (giết) người nam không phải là cha, kẻ ngu giết người không phải là vị Thánh, và do điều ấy phạm vào nghiệp vô gián?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
_______________________
1 Câu kệ 19: Liên quan đến việc làm mai mối. Bởi vì lời nói của vị ấy đem lại sự trả lời của sáu mươi bốn người nữ (VinA. iii, 558-559).
2 Câu kệ 20: Liên quan đến việc bảo vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt y cũ. Trường hợp vị tỳ khưu đang mặc ba y và bị phân chim quạ hoặc bị lấm bùn nên bảo vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến dùng nước rửa sạch. Các y ấy bị phạm vào nissaggiya vì đã được mặc ở trên thân của vị tỳ khưu (VinA. vii, 1392).
3  Câu kệ 21: Nói đến sự tu lên bậc trên của bà Mahāpajāpati Gotamī (Sđd. 1392-1393). Bà đã trở thành tỳ khưu ni do chấp nhận tám Trọng Pháp (Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương X, trang 473).
4  Câu kệ 22: Có liên quan đến việc biến đổi hiện tướng: Người cha biến đổi thành đàn bà (giết người nữ không phải là mẹ) và người mẹ biến đổi thành đàn ông (giết người nam không phải là cha); giết người không phải là vị Thánh (người nữ hay người nam ấy không
23. Và giết người nữ là mẹ, và giết người nam là cha, sau khi giết cả cha lẫn mẹ, do điều ấy lại không phạm nghiệp vô gián?1  Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
24. Sau khi không cáo tội, sau khi không nhắc nhở, rồi thực hiện hành sự đến vị không hiện diện. Hành sự đã được thực hiện, đã được thực hiện hoàn hảo mà vị tiến hành và hội chúng là không phạm tội?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
25. Sau khi đã cáo tội, sau khi đã nhắc nhở, rồi thực hiện hành sự đến vị đang hiện diện, và hành sự đã được thực hiện lại trở thành chưa được thực hiện, vị tiến hành và hội chúng là phạm tội?3  Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
26. Vị chặt đứt phạm tội, vị chặt đứt không phạm tội, vị che đậy phạm tội, vị che đậy không phạm tội?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
27. Trong khi nói sự thật lại tội nặng, và đối với vị nói lời dối trá là tội nhẹ, trong khi nói lời dối trá là tội
____________________
phải là bậc Thánh), nên giết chết một trong hai người thì phạm vào tội vô gián (VinA. vii, 1393).
1 Câu kệ 23: Trường hợp cha và mẹ là loài thú nên sau khi giết họ cũng không phạm vào tội vô gián (Sđd.).
2 Câu kệ 24: Nói đến việc vị ni tu lên bậc trên thông qua người đại diện (Sđd.) Xem câu chuyện của kỹ nữ Aḍḍhakāsī ở Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương X, các trang 527-531.
3 Câu kệ 25: Nói đến việc tu lên bậc trên của các hạng người: vô căn, v.v...(VinA. vii, 1393)
4  Câu kệ 26: Vị chặt đứt cây gỗ theo lối trộm cắp phạm tội pārājika, vị chặt đứt dây leo, cỏ phạm tội pācittiya, vị cắt đứt dương vật phạm tội thullaccaya. Vị cắt tóc và móng tay không phạm tội. Vị che đậy tội vị khác phạm tội, vị che đậy mái nhà không phạm tội (Sđd.).


 
nặng, và đối với vị nói sự thật lại tội nhẹ?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
28. Vật đã được chú nguyện để dùng riêng, đã được nhuộm bằng thuốc nhuộm, là vật đã được làm thành đúng phép, đối với vị sử dụng lại có tội?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
29. Khi mặt trời đã lặn, vị tỳ khưu nhai các miếng thịt, không phải là vị bị điên, và cũng không có tâm bị rối loạn, vị ấy cũng không bị thọ khổ hành hạ, tuy nhiên vị ấy không có tội, và điều ấy đã được đức Thiện Thệ giảng giải.3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
30. Không có tâm nhiễm dục, hơn nữa không có ý trộm cắp, và vị ấy cũng đã không nghĩ đến việc giết hại người khác, đối với vị trao thẻ thì bị cắt đứt, đối với vị nhận lấy (thẻ) thì tội thullaccaya?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
31. Và cũng không phải là chỗ ở rừng được xác định có nguy hiểm, cũng không có sự đồng ý đã được hội chúng ban cho, và Kaṭhina của vị ấy đã không được thành tựu ở ngay chỗ ấy, (vị ấy) sau khi xa lìa y rồi đi
______________________
1 Câu kệ 27: Nói sự thật đề cập đến các bộ phận kín của người nữ vi phạm tội nặng, nói dối cố tình vi phạm tội nhẹ. Nói dối về pháp thượng nhân không thực chứng vi phạm tội nặng, nói sự thật về pháp thượng nhân có thực chứng vi phạm tội nhẹ (Sđd.).
2 Câu kệ 28: Liên quan đến việc sử dụng y đã bị phạm vào nissaggiya mà chưa được sám hối (Sđd.).
3 Câu kệ 29: Vị có tật nhai lại như trâu bò (Sđd.). Xem câu chuyện về vị tỳ khưu nọ có tật nhai lại thức ăn ở Cullavagga - Tiểu Phẩm tập 2, TTPV 07, chương V, trang 83).
4 Câu kệ 30: Vị tỳ khưu xu hướng theo kẻ chia rẽ hội chúng và nhận lấy thẻ thì phạm vào tội thullaccaya (VinA. vii, 1393).

 
nửa do- tuần, khi rạng đông đã đến ở ngay tại nơi ấy, vẫn không phạm tội.1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
32. Có liên quan đến thân, không liên quan đến khẩu, tất cả có sự việc khác biệt, có thể vi phạm chung một lượt không trước không sau?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
33. Có liên quan đến khẩu, không liên quan đến thân, tất cả có sự việc khác biệt, có thể vi phạm chung một lượt không trước không sau?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
34. Không thực hiện việc đôi lứa ấy nơi ba hạng người nữ, nơi ba hạng người nam, và nơi ba hạng không phải Thánh hay là kẻ vô căn, và không hành việc đôi lứa ở người lưỡng căn, sao lại bị cắt đứt do duyên việc đôi lứa?4 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
35. Vị xin y cho mẹ, và không phải là y được dành riêng dâng đến hội chúng, do điều ấy vị ấy phạm tội, và không tội (nếu xin) ở thân quyến?5 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
___________________
1 Câu kệ 31: đề cập đến chỗ trú ngụ là cội cây của một gia đình tương tợ như loại cây đa to lớn có thể đến một hoặc hai do tuần (Sđd.).
2 Câu kệ 32: Liên quan đến việc nắm ngón tay hoặc tóc của nhiều người nữ cùng một lúc (Sđd.).
3 Câu kệ 33: Liên quan đến việc nói lời thô tục đến nhiều người nữ, ví dụ:
'Tất cả các cô đều là người bị dị căn ...'
4 Câu kệ 34: Liên quan đến điều pārājika của tỳ khưu ni có liên quan đến tám sự việc (Sđd. 1394).
5 Câu kệ 35: Liên quan đến vị xin y choàng tắm mưa ngoài thời hạn cho phép (Sđd.).
36. Bị giận dữ lại hài lòng, bị giận dữ là đáng chê bai. Vậy điều ấy có tên là gì khiến nổi giận lại nên cười, ?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
37. Được hoan hỷ rồi hài lòng, hoan hỷ là đáng chê bai. vậy điều ấy có tên là gì khiến hoan hỷ lại đáng chê bai? Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
38. Vị phạm chung một lượt tội saṅghādisesa, tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, và tội dukkaṭa?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
39. Cả hai đều tròn đủ hai mươi tuổi, cả hai có chung vị thầy tế độ, chung thầy giáo thọ, chung tuyên ngôn hành sự, một vị được tu lên bậc trên, một vị không được tu lên bậc trên?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
40. Chưa làm thành được phép, cũng chưa được nhuộm với thuốc nhuộm, được quấn vào với y ấy rồi có thể đi theo ý thích, không tội cho vị ấy,4 và điều ấy đã được đức Thiện Thệ giảng giải. Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
____________________
1 Câu kệ 36 & 37: Hai câu kệ này liên quan đến ba sự thực hành của du sĩ ngoại đạo (Xem thêm chi tiết ở Sđd.).
2 Câu kệ 38: Vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng sau khi tự tay thọ lãnh vật thực từ tay người nam nhiễm dục vọng, trộn lẫn với thịt người, tỏi, thức ăn hảo hạng, và các loại thịt không được phép rồi nuốt vào thì phạm chung một lượt năm tội đã được đề cập (Sđd.).
3 Câu kệ 39: Nói đến vị sa di không được thành tựu việc tu lên bậc trên là vị có thần thông ngồi hổng lên khỏi mặt đất dầu chỉ là khoảng cách của sợi tóc (Sđd.).
4  Câu kệ 40: Liên quan đến vị tỳ khưu có y bị cướp đoạt (Sđd.).
41. Không cho, không thọ nhận, việc thọ nhận vì thế không được biết đến. Và do duyên thọ dụng vật ấy vi phạm tội nặng không phải nhẹ?1 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
42. Không cho, không thọ nhận, việc thọ nhận vì thế không được biết đến. Và do duyên thọ dụng vật ấy vi phạm tội nhẹ không nặng?2 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
43. Vi phạm tội nặng còn dư sót rồi che giấu bởi vì không tôn trọng, tỳ  khưu ni không phạm và không đưa đến tội?3 Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
 
Dứt Các Bài Kệ Làm Xuất Mồ Hôi.
 
*****
____________________
1 Câu kệ 41: Liên quan đến điều saṅghādisesa 6 về vị tỳ khưu ni xúi giục vị tỳ khưu ni khác thọ nhận vật thực từ tay người đàn ông nhiễm dục vọng. Bản thân vị ni xúi giục 'không cho, không thọ nhận,' và 'việc thọ nhận vì thế không được biết đến' vì vị thọ nhận là vị tỳ khưu ni khác. Khi vị này thọ dụng thì vị ni xúi giục phạm tội saṅghādisesa (Sđd. 1394-1395).
2  Câu kệ 42: Liên quan đến việc phạm tội dukkaṭa của vị tỳ khưu ni trên trong việc xúi giục vị tỳ khưu ni khác thọ nhận nước và tăm xỉa răng từ tay người nam nhiễm dục vọng (Sđd. 1395).
3 Câu kệ 43: Vị tỳ khưu ni vi phạm saṅghādisesa dầu có che giấu hay không che giấu không phạm thêm tội mới và chỉ phải chịu hành phạt mānatta nửa tháng (Sđd.).
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
 
1. Sự không đồng cộng trú, không được phân tán, mười (hạng), và vị không bị án treo, vị đi đến với Pháp, phần trên của xương đòn, sau đó hai điều tự mình yêu cầu.
2. Và không liên quan đến thân, tội nặng, liên quan đến thân, được khéo giảng, trong khi không nói, và điều học, cả hai, và bốn vị.
3. Người nữ, và dầu ăn, tội nissaggiya, và các vị tỳ khưu, với khoảng cách bước dài, và đã quấn y, và không điều quy định, không giết mẹ cha.
4. Sau khi không cáo tội, sau khi đã cáo tội, trong khi chặt đứt, và luôn cả sự thật, và đã được chú nguyện, khi mặt trời đã lặn, không có tâm nhiễm dục, và không phải chỗ ở rừng.
5. Liên quan đến thân và liên quan đến khẩu, ba người nữ, và luôn cả người mẹ, giận dữ, hài lòng, được hoan hỷ, tội saṅghādisesa, và cả hai.
6. Chưa làm thành được phép, vị không cho, vị không cho, vị phạm tội  nặng, những bài kệ làm xuất mồ hôi, là những câu hỏi, đã được giải rõ nhờ các bậc trí.


--ooOoo--
/21
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »