Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Bàn Về Tây Du Ký Của Ngô Thừa Ân

Bàn Về Tây Du Ký Của Ngô Thừa Ân

Tác giả: Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 315.

Chương 48: - Hồi 80, 81, 82 và 83 (Trang 247 - 251)

Hồi thứ 80, 81, 82 và 83
Hồi 80:       "Gái trẻ thèm chồng tìm bạn lứa
Ngộ Không giữ chú biết yêu tà"
Hồi 81:       “Chùa Trấn Hải, Ngộ Không biết quái
Rừng Hắc Tùng, đồ đệ tìm thầy"
Hồi 82:       "Gái trẻ gạ trai chay
Nguyên thần giữ đạo lớn"
Hồi 83:       "Hành giả biết được đầu mối
Gái tơ lại về kiếp xưa"
I. Tư tưởng Phật học
- Người tu tập theo giáo lý nhà Phật, khi chưa trừ sạch các lậu hoặc thì các kiết sử vẫn còn, ít nhất là còn năm bay ba thượng phần kiết sử. Kiết sử còn thì vô minh còn. Vô minh còn thì vẫn chưa phân biệt rõ thực, hư. Vì thế, Ðường Tăng trên suốt đường hành trình mãi rơi vào cạm bẫy của ác ma, Sa Tăng và Bát Giới cũng thế. Chỉ có Ngộ Không là thấy rõ chánh, tà; nhưng lại khó thuyết phục Ðường Tăng tin theo. Dù đã kinh qua nhiều thất bại chua xót, Ðường Tăng vẫn đắm mê vào các tướng thiện, tướng từ, tướng
khái niệm, và do vậy rơi vào vọng tưởng bị ác ma chế ngự, Ðường Tăng cần kinh qua nhiều thể nghiệm cái nguy hiễm của chấp thủ mới nghe theo Ngộ Không.
Tại núi Hảm Không, động Vô Ðể Ðường Tăng đang rơi vào mê lầm, rơi vào một mặt chấp ngã khác, cho rằng thực tướng Không tướng như là một tướng khác với các ngã tướng nên Ngô Thừa Ân gọi là rơi vào động Hảm Không. Chấp hữu đã là khổ nạn, mà chấp Không lại là đại khổ nạn, còn nguy hiễm hơn. Rơi vào đó thì khó thấy lối ra, như là rơi vào động Vô Ðể (không đáy) thăm thẳm mịt mù.
Ðây là một biểu hiện của tâm ái gọi là Vô sắc ái hay Vô hữu ái. Ðối trị với vô sắc ái thì chỉ có trí tuệ thiền quán Vô ngã thâm sâu. Ngộ Không chưa vào sâu định nên thật vất vả trong việc đối phó với yêu nữ ỏ động Vô Ðể này.
Nếu với thiền quán Vô ngã thấy được gốc của vô sắc ái là vô minh (thượng phần kiết sử) thì liền nhổ được gốc của nó, như khi Ngộ Không tìm ra manh mối nữ yêu Vô Ðể là con nuôi của Thác Tháp Thiên Vương Lý Tịnh thì liên có ngay giải pháp đối phó, giải ách
nạn cho Ðường Tăng.
- Hình ảnh gái, trai, nam, nữ ân ái ở cảnh nạn này chỉ là biểu tượng cho tướng nhị thủ (năng và sở). Nỗ lực thoát ly động Vô Ðể là nỗ lực đoạn trừ hết thảy ngã tưởng (dù là tưởng về Vô hữu), đoạn trừ tướng nhị thủ ấy. Trừ sạch tướng nhị thủ là trừ sạch chấp thủ, trừ sạch vô minh (gốc của vô sắc ái).
II. Quan niệm về con người
- Giáo dục về nhân ái là giáo dục về tâm nhân ái, hành động nhân ái và ý chí nhân ai, hành động nhân ái và ý chí biểu hiện hành động để cứu giúp tha nhân.
Nói đến hành động nhân ái là nói đến đối tượng đón nhận ái thì chỉ có một mà sự biểu hiện thì qua nhiều hình thái khác nhau tùy theo chủ thể, từng đối tượng, từng hoàn cảnh. Tác giả nêu ra trường hợp điển hình về nữ yêu quái động Vô Ðể đã giả vờ mắc nạn để đánh lừa Ðường Tăng. Vì thiếu trí tuệ xét đoán chính xác đối tượng cần được cứu giúp, Ðường Tăng đã để lại tai họa lớn cho phái đoàn Tây du. Lòng nhân ái cần được phát khởi từ trí tuệ Vô ngã, mà không phải thể
hiện một cách hình thức đầy ước lệ. Ðầy là nội dung nhân ái của nền văn hóa, giáo dục mới luôn đem lại an lạc, hạnh phúc cho đời; đem lại an vui, chánh kiến cho đối tượng đón nhận lòng nhân ái.
III. Quan niệm về xã hội
- Nếp sống văn hóa nhân bản và trí tuệ của một xã hội mới cần tạo cho quần chúng một nếp tư duy về giá trị nhân ái, đạo đức đúng, thực, mà không mang tính chất hình thức ước lệ (về nhân, nghĩa, hiếu, tình... cũng thế) của xã hội phong kiến cũ.
Ðường Tăng thật sự có lòng nhân ái và thật lòng yết Phật thỉnh kinh hay không là do chính lòng của Ðường Tăng, và Ðường Tăng tự biết (căn bản là Ðường Tăng tự biết), mà không phụ thuộc vào câu nói đầy vẻ hình thức của yêu nữ rằng: "gặp người gặp nạn mà không cứu thì làm sao mà đi về Tây Trục thỉnh kinh được". Ðường Tăng đã bỏ trống tâm mình và vướng mắc vào vòng lý luận lý hình thức đầy gian dối của nữ yêu đầu! Ðường Tăng thiếu hẳn chánh niệm tỉnh giác và trí tuệ soi sáng vấn đề giá trị nên bị rơi vào ma nạn. Người của nền văn hóa mới cần phân
biệt rõ sự thật của tâm biểu hiện trong cuộc sống thì khác với ý tưởng trong ngôn ngữ.
- Nếu bạn đọc cảm thấy đau đớn tức tưởi trước thái độ nhân ái của Ðường Tăng đối với yêu nữ thì hẳn bạn đọc cũng cảm thấy đau đớn tức tưởi như vậy đối với nền văn hóa phong kiến với các giá trị ước lệ.
- Sống là sống với cuộc sống, chứ không phải nói về cuộc sống. Nói về cuộc sống là ngôn ngữ, lý luận hay triết lý. Sự sống là triết lý siêu đẳng và là ngôn ngữ siêu đẳng. Nền văn hóa nhân bản và trí tuệ là nói và nghĩ bằng chính cuộc sống!
 
*
*   *
/60
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »