Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Một Số Vấn Đề Giới Luật

Một Số Vấn Đề Giới Luật

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 287.

Chương 16: 13. Phương Pháp Diệt Tránh (Trang 139 - 150)

13. PHƯƠNG PHÁP DIỆT TRÁNH
Sinh mệnh của Phật giáo chính là Giới luật còn yếu tính của Tăng già là thanh tịnh và hòa hợp. Do vậy, một khi tăng chúng có sự tranh chấp đưa đến bất hòa thì tăng phải vận dụng bảy phương pháp Diệt Tránh để xử lý, hầu duy trì một đời sống thanh tịnh và thánh thiện trong nội bộ Tăng đoàn
I. NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY RA TRANH CÃI :
Trong hàng ngủ những người xuất gia đôi khi phát sinh những sự xung đột đưa đến bất hòa thường là do cá nhân tranh chấp với cá nhân, cá nhân tranh chấp với tập thể, tập thể tranh chấp với tập thể. Căn nguyên của mọi sự tranh chấp là do tố giác về vấn đề pháp giới, phá kiến, phá oai nghi. Nguyên nhân phát sinh của sự rắc rối ấy tuy rất phức tạp nhưng tựu trung có thể bao gồm trong bốn nguyên nhân chính sau đây: 1/ngôn tránh; 2/mích tránh; 3/phạm tránh; 4/sự tránh.
1/Ngôn tránh: khi Tỳ-kheo tranh luận với Tỳ-kheo liên quan đến 18 vấn đề như : việc đó đúng pháp hay phi pháp, đúng luật hay phi luật, do Phật chế hay không do Phật chế v…v.. rồi gây nên xung đột bất hòa giữa đôi bên đó gọi là ngôn tránh.
2 /Mích tránh: nếu Tỳ-kheo này cử tội Tỳ-kheo khác về 3 phương diện pháp giới, pháp kiến, pháp oai nghi, dựa trên ba yếu tố thấy, nghe và nghi rồi gây ra tranh cãi thì gọi là Mích tránh.
3/ Phạm tránh: sự tranh cãi về vấn đề phạm tội. Tội ở đây chỉ cho sự vi phạm về các học xứ của Tỳ-kheo liên quan đến năm Thiên, bảy Tụ.
4/ Sự tránh: sự tranh cãi xảy ra từ những việc làm hằng ngày của chúng Tăng như Thọ giới, Tụng giới, An cư, Tự tứ..v..v.. trong những việc làm này, nếu tăng thực hiện không đúng pháp thì sẽ gây ra tranh cãi. Đó gọi là Sự tránh.
II NHỮNG PHƯƠNG PHÁP DẬP TẮT TRANH CÃI
Mỗi khi trong Tăng chúng có sự xích mích gây ra tình trạng bất hòa giữa người này với người khác, hay giữa chúng tăng với chúng tăng, thì tăng sẽ áp dụng một trong hai phương pháp sau đây để giải quyết: 1. Hiện tiền Tì-ni; 2.Ưu niệm Tì-ni; 3. Bất si Tì-ni; 4. Tự ngôn trị Tì-ni; 5. Tội xứ sở Tì-ni; 6. Đa nhân ngữ Tì-ni; 7. Như thảo phú địa Tì-ni.
1. HIỆN TIỀN TÌ-NI
Khi Phật an trú tại nước Xá-vệ, bấy giờ, tôn giả Ca-lưu-đà-di ra sông tắm với nhóm 6 Tỳ-kheo; tắm xong, thầy lên bờ, mặc nhầm y phục của các vị ấy rồi ra về. Sau đó, nhóm 6 Tỳ-kheo lên bờ, thấy y phục của mình bị Ca-lưu-đà-di lấy mặc bèn làm Yết-ma kết tội Ca-lưu-đà-di lấy trộm. Ca-lưu liền đem việc này trình lên đức Phật. Do thế,
Phật dạy các Tỳ-kheo: “Không nên làm Yết-ma kết tội một người khi họ vắng mặt, mà phải làm Yết-ma với sự hiện diện của họ. Từ nay trở đi, Ta chế định pháp Hiện tiền Tì-ni để dập tắc sự tranh cãi.”
Đó là nguyên ủy của pháp Hiện tiền Tì-ni. Pháp này gồm 5 yếu tố: 1/ Pháp Hiện tiền; 2/ Tì-ni Hiện tiền; 3/ Nhân Hiện tiền; 4/ Tăng Hiện tiền; 5/ Giới Hiện tiền.
1/ Pháp Hiện tiền: Pháp ở đây chỉ cho giáo pháp, tức những lời Phật dạy được ghi lại trong kinh điển. Khi muốn giải quyết một sự tranh chấp nào đó đương nhiên phải dùng những lời Phật dạy làm cơ sở, nên gọi là Pháp hiện tiền.
2/ Tì-ni Hiện tiền: Tì-ni hay Luật, tức là những điều kiện do Phật quy định. Khi giải quyết một sự việc xảy ra giữa các Tỳ-kheo phải căn cứ trên những quy định của Phật. Đó gọi là Tì-ni Hiện tiền.
3/ Nhân Hiện tiền: Khi giải quyết một sự tranh chấp cần phải có sự hiện diện của hai bên nguyên cáo và  bị cáo; đó gọi là Nhân hiện tiền.
4/ Tăng Hiện tiền: Khi Tăng tập hợp làm Yết-ma, các Tỳ-kheo phải than dự đông đủ, ai có duyên sự chính đáng không thể đến tham  dự được phải gởi dục hợp lệ. Đồng thời Tăng làm việc trong tinh thần đoàn kết và hòa hợp. Đó gọi là Tăng hiện tiền.
5/ Giới Hiện tiền: Sự tranh chấp ấy phải được giải quyết trong phạm vi cương giới mà Tăng đã làm Yết-ma qui định. Đó gọi là Giới hiện tiền.
Nếu việc rắc rối xảy ra giữa cá nhân với cá nhân thì chỉ cần vận dụng 3 yếu tố đầu là Pháp hiện tiền, Tì-ni hiện
tiền là nhân hiện tiền để giải quyết. Nếu sự việc ấy liên quan giữa cá nhân với Tăng chúng hay Tăng chúng với Tăng chúng, thì phải vận dụng thêm hai yếu tố nữa là Tăng hiện tiền và Giới hiện tiền để giải quyết. Ngoài ra, các yếu tố hiện tiền này củng là những điều kiện tiên quyết khi thực hiện các pháp diệt tránh kế tiếp.
2. ỨC NIỆM TÌ-NI:
Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la-từ bị nghi ngờ phạm các tội thuộc 5 thiên tội, do đó, các Tỳ-kheo theo chấp vấn thầy về việc phạm tội. Mặc dù thầy đã khẳng định mình vô tội, nhưng không đủ chứng cứ thuyết phục nên họ vẫn theo chấp vấn mãi, gây ra phiền phức không ít. Cuối cùng, sự việc ấy được trình lên đức Phật. Phật dạy: “Ta cho phép chúng Tăng bạch từ Yết-ma cho Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la-từ pháp ức niệm Tì-ni. Từ nay về sau, nếu có Tỳ-kheo nào gặp trường hợp như thế thì Tăng hãy làm Yết-ma ức niệm Tì-nj cho người ấy”.
Ức niệm có nghĩa là hoài tưởng, kiểm điểm lại những hành động của mình trong thời gian qua, xem có phạm tội hay không. Khi thực hiện pháp Yết-ma này, thầy Tỳ-kheo bị cáo phải đến trước Tăng tác bạch cầu xin 3 lần, rồi Tăng sẽ bạch tứ Yết-ma ban cho pháp Ức niệm. Pháp Yết-ma này phải gồm đủ 5 yếu tố Hiện tiền như đã kể trên.
3. BẤT SI TÌ-NI:
Khi Phật an trú tại thành Vướng Xá, Tỳ-kheo Nan-đề do bị bệnh tâm thần làm nhiều điều trái với phép tắc Sa-môn. Đến khi thầy lành bệnh, trí nhớ được phục hồi, các Tỳ-kheo cứ theo vặn hỏi những việc làm của thầy trong
lúc cuồng si, khiến thầy rất khổ tâm. Để tránh tình trạng bị sách nhiễu, thầy đem việc ấy trình bày với Đức Phật. Thế rồi, Phật dạy các Tỳ-kheo: “Từ nay, Ta cho phép các Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma ban cho Tỳ-kheo Nan-đề pháp Bất si Tì-ni”. Pháp Yết-ma này do Nan-đề đến xin Tăng, rồi Tăng bạch tứ Yết-ma thực hiện. Sau khi Tăng làm Yết-ma, nếu Tỳ-kheo nào sinh sự chất vấn Nan-đề thì tăng sẽ như pháp trừng trị. Từ đó trở đi, nếu có Tỳ-kheo nào gặp trường hợp như Nan-đề thì Tăng sẽ ban cho pháp Yết-ma bất di Tì-ni. Khi thực hiện pháp Yết-ma này phải hội đủ các yếu tố Hiện tiền Tì-ni.
4. TỰ NGÔN TÌ-NI
Khi Phật an trú tại thành Chiêm-bà, vào những ngày trăng tròn Bố-tát, các Tỳ-kheo tập hợp đông đủ để nghe Phật thuyết giới, nhưng Phật không thuyết. Thế rồi, sau ba lần cầu chỉnh của Tôn giả A-nan, Ngài nói: “Như Lai không thuyết giới trong khi chúng Tăng có Tỳ-kheo không thanh tịnh”. Lúc ấy, tôn giả Mục-liên liền vận dụng thiên nhãn thanh tịnh quan sát khắp chúng Tăng, khám phá một Tỳ-kheo phạm tội nhưng che giấu không phát lồ sám hối. Tôn giả liền đến khiển trách Tỳ-kheo ấy, rồi dùng sức mạnh nắm tay lôi vị ấy ra khỏi giới trường.  Phật thấy thế nhắc nhở Mục-liên không được làm như vậy mà phải khiến cho người ấy nhận tội, rồi mới trừng phạt. Đoạn Phật dạy: “Từ nay, Ta vì các Tỳ-kheo chế định pháp Yết-ma Tự ngôn trị để dập tắt sự tranh cãi”.
Vấn đề nầy, Luật Tăng-kỳ nêu ra một nguyên nhân khác: Một hôm vào buổi xế chiều, La-hầu-la đi vào rừng.

 
Để ngồi Thiền thì trông thấy một Tỳ-kheo đang quan hệ thân mật với một phụ nữ. Đồng thời Tỳ-kheo ấy cũng thấy La-hầu-la. Sợ rằng La-hầu-la sẽ tố cáo mình nên thầy đi về trước, đến chỗ Phật, tố cáo ngược lại rằng La-hầu-la làm đều phi phạm hạnh với phụ nữ. Khi La-hầu-la trở về, thầy cũng đem sự kiện vừa trông thấy trình bày với Phật. Thế rồi, để tỏ rõ sự công bằng, Phật bảo các Tỳ-kheo làm Yết-ma Tự ngôn trị cho cả 2 người.
Tự ngôn nghĩa là tự nói ra việc phạm tội của mình và đề nghị một mức độ hình phạt thích hợp.
5. TỘI XỨ SỞ TÌ-NI
Khi Phật an trú tại Thích-sí-sấu, có Tỳ-kheo Tượng Lực thường tranh luận với các tu sĩ ngoại đạo. Khi nào đuối lý thì thầy nói quanh co, trước sau mâu thuẫn để hòng thoát nạn. Các Tỳ-kheo biết được, bèn hỏi Tượng Lực về sự thực, thì thầy chối quanh, ngoan cố, không công nhận tội trạng của mình. Do sự kiện này nên Phật chế định pháp Yết-ma Tội xứ sở. Nghĩa là tìm ra căn cứ đích thực của việc phạm tội.
Luật Tăng-kỳ nêu ra một nguyên nhân khác: Trưởng lão Thi-lợi-da-bà thường phạm tội Tăng tàn, các Tỳ-kheo tập họp chất vấn thầy, thì có lúc thầy công nhận, có lúc lại phủ nhận. Sự việc ấy được trình bày lên Thế Tôn. Đến khi Phật hỏi, Thi-lợi-da-bà mới thừa nhận rằng mình quanh co dối trá. Bấy giờ Phật bảo chúng Tăng làm Yết-ma Tội xứ sở cho thầy, và bắt tuân thủ 8 pháp sau đây suốt đời: (1). Không được độ người xuất gia; (2) Không được cho người thọ giới Cụ túc; (3) Không được cho người y chỉ;
(4) Không được nhận Tăng mời theo thứ tự; (5) Không được làm sứ giả cho Tăng; (6) Không được làm người thuyết pháp cho chúng Tăng; (7) Không được làm người tụng giới cho chúng Tăng; (8). Không được làm thầy Yết-ma cho chúng Tăng.
6. ĐA NHÂN NGỮ TÌ-NI
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo  nổi lên tranh chấp, Tăng ở đây không thể giải quyết được, vì các Tỳ-kheo có liên quan trong vụ việc không chịu phục tùng phán quyết của Tăng. Để dập tắt sự tranh chấp nầy, Phật bèn chế định pháp Yết-ma Đa Nhân Ngữ.
Theo nghĩa được hiểu ở đây, pháp Yết-ma này căn cứ vào ý kiến của đa số để giải quyết vấn đề, và được thực hiện bằng phương thức đầu phiếu. Người được Tăng đề cử đứng ra làm phiếu phải hội đủ 5 đức tính; (1) Không thiên vị; (2) Không giận dữ; (3) Không khiếp sợ; (4) Không ngu si; (5) Biết ai nhận phiếu rồi, ai chưa nhận phiếu. Sau khi nhận công tác, vị này phải làm 2 loại phiếu: Một loại phiếu trắng, chỉ ý kiến thuận; một loại phiếu đen, chỉ ý kiến chống, rồi tổ chức đầu phiếu. Thể thức đầu phiếu gồm có 3 trường hợp: 1/ Hiển lộ; 2/ Phú tàng; 3/ Nhĩ ngữ.
1/ Hiển lộ: Bỏ phiếu công khai. Trong trường hợp người chủ trì việc bỏ phiếu biết chắc ý kiến của những người như pháp nhiều hơn.
2/ Phú tàng: Bỏ phiếu kín. Trong trường hợp người đưa phiếu biết những Tỳ-kheo như pháp đa số, nhưng Hòa Thượng, A-xà-lê của họ theo quan điểm phi pháp, nếu đưa phiếu công khai e rằng các Tỳ-kheo sẽ bắt chước thầy của
họ mà rút phiếu, thành ra phiếu phi pháp đa số. Do đó, khi đưa phiếu phải che kín, để cho người này không biết người kia rút loại phiếu nào.
3/ Nhĩ Ngữ: Trong trường hợp người đưa phiếu biết các Tỳ-kheo như pháp đa số, nhưng Hòa thượng A-xà-lê của họ lại phi pháp, thì khi đưa phiếu phải nói nhỏ với Tỳ-kheo rút phiếu rằng: “Hòa thượng, A-xà-lê của thầy đã rút phiếu rồi, lành thay thầy hãy dùng tâm từ bi mà rút phiếu. Nếu Tỳ-kheo như pháp đa số, sự tranh cãi được dập tắt, thì thầy sẽ có công đức rất lớn”.
Nếu sau khi đếm phiếu thấy phiếu như pháp nhiều hơn, thì kết quả sẽ được công bố ngay. Trái lại, nếu thấy số phiếu phi pháp nhiều hơn chừng một cái, thì phải tuyên bố việc đầu phiếu bất thành. Sau đó tìm cách vận động cho đến khi nào nắm chắc phiếu như pháp đa số, sẽ tổ chức đầu phiếu trở lại. Về cách rút phiếu thì có phi pháp và như pháp.
Mười trường hợp rút phiếu phi pháp như sau: 1/ Không biết các rút phiếu: Chỉ người không biết rõ nội dung tranh chấp, không biết vấn đề ấy đúng pháp hay phi pháp, đúng lời Phật dạy hay không đúng; 2/ Không đứng về phía người tốt khi rút phiếu; 3/ Vì muốn phe phi pháp đa số mà rút phiếu; 4/ Biết phe phi pháp đa số nên rút phiếu để yểm trợ họ; 5/ Vì muốn Tăng bị chia rẽ mà rút phiếu; 6/ Biết Tăng đang bị chia rẽ nên rút phiếu để yểm trợ việc ấy; 7/ Rút phiếu trong trường hợp yết-ma phi pháp (như thay vì bạch tứ lại bạch nhị v.v…); 8/Rút phiếu biệt chúng: Các Tỳ-kheo trong trú xứ tập họp không đông đủ, người không đến dự không gởi dục; 9/ Vì một việc phạm tội nhỏ mà tổ chức đầu phiếu; 10/ Rút phiếu ngược lại với
ý nghĩ của mình. Nếu làm trái lại 10 trường hợp trên tức là rút phiếu đúng pháp, sự tranh chấp sẽ được dập tắt.
7. NHƯ THẢO PHÚ ĐỊA TÌ-NI:
Theo Luật Tăng-kỳ, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có hai hội chúng Tỳ-kheo cùng sống chung một trú xứ. Một hôm, vị lãnh tụ hội chúng thứ nhất là Thanh Luận đi cầu xong định dội nước, thì thấy trong thạp nước có vi sinh trùng, liền lấy cỏ bỏ lên thạp nước để làm dấu. Người đệ tử y chỉ của vị lãnh tụ thứ 2, sau đó vào cầu tiêu, thấy trên thạp nước có cỏ, liền nói: “Kẻ nào không biết hổ thẹn, đem cỏ bỏ lên thạp nước”. Người đệ tử tùy tùng của vị lãnh tụ thứ nhất nghe nói thế, liền khiển trách người đó: “Vì sao người dám đả kích Hòa thượng của ta là kẻ không biết hổ thẹn?” Do sự kiện này mà 2 hội chúng phát sinh tranh cãi dữ dội. Cuối cùng, sự việc ấy được trình lên đức Phật, Phật bảo tôn giả Ưu-ba-li đi giảng hòa. Rồi tôn giả A-nan thỉnh giáo Phật về phương pháp giảng hòa này, Phật dạy: “Này A-nan, nếu trong một trú xứ, các Tỳ-kheo tranh cãi nhau rồi chia rẽ thành 2 nhóm khiến cho Tăng chúng sống bất an, thì một vị trưởng lão có đức hạnh đại diện cho nhóm thứ nhất đến trước hội chúng thứ 2, nói như sau: “Này các Đại đức, vì sao chúng ta đã có niềm tin, xuất gia, cùng sống trong một chánh pháp mà tranh cãi nhau, gây nên bất hòa, 2 hội chúng không nhường nhịn nhau, người nào cũng sinh ác tâm, lời qua tiếng lại, không xử sự đúng pháp, làm cho chúng ta phải sống trong nỗi bất hạnh. Tất cả đều do không khéo tư duy mà ra nông nổi, khiến cho đời này sống khốn khổ, đời sau phải đọa vào ác đạo. Này các Đại đức, chúng ta phải đồng lòng chấm dứt sự tranh
cãi này, như rải cỏ trên đất. Nay tôi hướng đến các Đại đức sám hối, mỗi người nên nguôi giận, để chúng ta cùng được sống chung trong không khí hòa hợp”.
Thế rồi, Hội chúng thứ hai, một vị có đức hạnh đại diện, cũng hướng đến Hội chúng thứ nhất, nói lời sám hối như vậy.
Sau khi cả hai bên đã đồng lòng hòa giải theo thể thức. Như thảo phú địa này rồi, nếu ai còn khơi lại sự tranh cãi, thì phạm tội Ba-dật-đề.
Tóm lại, nguyên nhân gây ra sự xích mích, bất hòa giữa Tăng chúng với nhau tuy rất phức tạp, nhưng chung qui cũng chỉ bao gồm trong 4 yếu tố chính là Ngôn tránh, Phạm tránh, Mích trách và Sự tránh mà thôi. Do vậy, mỗi khi có sự xích mích, bất hòa phát sinh trong hàng ngũ Thánh chúng, cũng chỉ cần khéo léo vận dụng 7 phương pháp Diệt tránh kể trên là có thể giải quyết ổn thỏa.
Thiết nghĩ, Tăng đoàn đệ tử của Phật tuyệt đại đa số là những người mang hoài bão sự giải thoát mình và giải thoát tha nhân; lại được diễm phúc thọ trì một loại Giới luật tương đối khá hoàn chỉnh, do thế ít khi xảy ra những lục đục dẫn đến đổ vỡ trầm trọng. Thảng hoặc có sự tranh chấp, xích mích nào đó khởi lên trong nội bộ, thì Tăng sẽ dùng những nguyên tắc rất thiết thực và hữu hiệu-được gọi là pháp Diệt tránh trên đây-để giải quyết, ngõ hầu khôi phục bản chất thanh tịnh và hòa hợp của Tăng đoàn. Tuy nhiên, nếu chúng ta thấy có một vài trường hợp đặc biệt nào đó mà sự chia rẽ của Tăng chúng không thể hàn gắn được thì thường là do hai nguyên nhân: Một là cả hai bên
Nguyên cáo và Bị cáo đều nhuốm phải nghiệp chướng nặng nề, khiến cho tâm trí si ám, mất sự tỉnh táo. Hai là do ngoại nhân có dã tâm bất chính, nhúng tay vào nội bộ Tăng đoàn, tìm cách phân hóa, để dễ bề thao túng hàng ngũ Phật giáo, hầu đem lại lợi ích cho riêng mình.
/30
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »