21. LỜI KHUYÊN BỎ RƯỢU THỊT
(N0.2103, Quảng Hoằng Minh Tập, DD52-Tr.294b)
LƯƠNG VŨ ĐẾ soạn.
Đệ tử Tiêu Diễn kính bạch chư Đại đức Tăng Ni, chư nghĩa học Tăng Ni và ba quan coi việc các chùa. Phàm hộ trì Phật pháp vốn là bổn phận cảu hàng mặc áo nhuộm chứ chẳng phải trọng trách của hàng đệ tử áo trắng; nhưng kinh giáo cũng có nói: "Phật pháp được gởi gắm cho các vì vua". Thế nên đệ tử không thể không nói. Hôm nay mong Tăng Ni mở rộng tấm lòng lắng nghe, chớ có nghi nan, ôm niềm oán hận!
Dùng rượu thịt, phẩm chất bị sa sút:
Người xuất gia khác với ngoại đạo là do tin nhân, tin quả, tin kinh. Niềm tin là lời dạy của Phật mà kinh đã ghi chép: " Làm mười điều ác thì chịu quả báo ác, làm mười việc lành thì hưởng quả phúc lành". Đó là đại ý của kinh giáo. Thế nên, nếu người xuất gia mà còn đam mê uống rươu, ăn các loại cá, thịt, thế là việc làm giống với ngoại đạo mà e không bằng ngoại đạo nữa. Thế nào là giống với ngoại đạo?
Ngoại đạo có ác kiến , chấp thường, chấp đoạn, cho là không có nhân, không có quả, không có bố thí, không có
quả báo. Nay đệ tử Phật mà đam mê rượu thịt, không sợ cái nhân của tội lỗi, không sợ quả báo khổ đau, tức là không tin nhân, không tin quả; thế thì có khác gì quan điểm cho rằng không có bố thí, không có quả báo của ngoại đạo? Hành động như vậy là giống như ngoại đạo có ác kiến [294c] mà còn thua ngoại đạo nữa.
Chín trường hợp không bằng ngoại đạo:
Thế, ngoại đạo thì sao? Các ngoại đạo đều tin vào thầy mình. Hễ thầy nói phải thì đệ tử bảo là phải; thầy nói sai thì đệ tử bảo là sai. Kinh Niết-bàn nói: "Này Ca-diếp, kể từ hôm nay Ta cấm chỉ đệ tử ăn các loại thịt". Thế mà người xuất gia bây giờ lại cứ ăn thịt. Giới bản nói: "Uống rượu phạm Ba-dạ-đề". Vậy mà lại tự mình uống rượu, không kiêng dè gì cả, tức là trái lời thầy dạy. Đó là điều thứ nhất không bằng ngoại đạo.
Lại nữa, tuy ngoại đạo giữ giới trâu, giới chó một cách quái gở, nhưng khi đã thọ giới rồi thì sau đó không hủy phạm. Nay người xuất gia thọ giới rồi, sauu đó khinh thường hủy phạm. Đó là điều thứ hai không bằng ngoại đạo.
Lại nữa, tuy ngoại đạo thọ pháp khổ hạnh cực đoan, như dúng 5 sức nóng áp vào thân, gieo mình xuống vực sâu, lao vào lửa đỏ, nhưng chưa chắc gì hầu hết đều ăn thịt chúng sinh. Vậy mà, nay người xuất gia lại ăn những cá, thịt. Đó là điều thưa ba không bằng ngoại đạo.
Lại nữa, tuy ngoại đạo theo chủ trương khác thường, không phù hợp với chân lý, nhưng ai nấy đều vâng lời thầy dạy, không dám che giấu. Nay người xuất gia lại ăn cá, thut, đối với người quen thân thì hợp tác, đối với kẻ xa lạ
thì xa lánh. Đó là điều thứ tư không bằng ngoại đạo.
Hơn nữa, ngoại đạo ai nấy đều tuân thủ những gì đã chấp nhận,đều tôn trọng những nguyên tắc của mình, Họ còn lớn tiếng tuyên bố: "Không có đạo nào đúng đắn như đạo của ta, ta không e sợ ai hết". Nay người xuất gia đã trải qua nhiều năm tháng lấy việc ăn chay làm tôn chỉ, thế mà giờ đây lại ăn cá, thịt thật quá sức gian nan, hoặc phải tránh né đệ tử, hoặc tránh né bạn đồng học, hoặc tránh né cư sĩ, hoặc tránh né viên quan coi việc chùa chiền, ôm ấp sự vụng trộm, lén lút che giấu, sau đó mới được một bữa ăn tội lỗi. Đó là điều thứ năm không bằng ngoại đạo.
Hơn nữa, ngoại đạo thực tình, thẳng thắn, chỉ có thể làm tăng trưởng ác hạnh cho bản thân mình chứ không thể làm tăng trưởng ác hạnh đối với đồ chúng. Nay người xuất gia lại ăn cá, thit, nếu bị đệ tử cư sĩ trông thấy, trong lòng đã không biết hổ thẹn, lại còn ngụy biện: "Theo như Phật dạy thì chúng ta còn vướng cái nhân đời trước nên không thể nhất thời chấm dứt việc ăn thịt được, dùng tiền mua thịt, không phải tự tay giết hại, điều đó không đáng chê trách". Kẻ áo trắng ngu si nghe thầy nói như vậy, tưởng là lời chân thật, liền tin tưởng làm điều bất thiện, tăng trưởng ác nghiệp. Đó là điều thứ sáu không bằng ngoại đạo.
[295a] Hơn nữa, tuy ngoại đạo cho điều phi pháp là đúng pháp, đúng pháp là phi pháp, nhưng tất cả đều tin vào kinh sách, đến chết cũng không vi phạm. Nay người xuất gia lại còn ăn cá thit, còn ngụy biện cho rằng thịt không do mình giết hại nên được quyền ăn, dùng tiền mua thịt cũng chẳng có gì đáng trách. Nói như vậy là không đúng.
Vì kinh Niết-bàn bảo: "Tất cả thịt đều không được ăn, ngay cả thịt con vật bị chết cũng không được ăn". Thịt con vật bị chết còn không được ăn, huống gì thịt con vật bị giết hại. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Vì lợi giết chúng sinh, dùng tiền bủa lưới thịt, hai nghiệp ấy chẳng lành, chết đọa ngục rên siết". Thế nào là dùng tiền bủa lưới thịt? Nghĩa là giăng lưới trên mặt đất, buông chài dưới lòng sông, đó là dùng lưới để bủa lưới thịt. Còn đem tiền đến nhà đồ tể mua thịt, đó là dùng tiền bủa lưới thịt. Nếu như người này không dùng tiền bủa lưới thịt, không làm ác hạnh, không hại chúng sinh mà chỉ chuyên lo tự cung cấp cho mình, cũng không làm điều gì khác (nghĩa là đi mua thịt) thịt việc ăn thịt há tránh khỏi tội sát sinh! Làm sao có thể nói "Tôi không sát sinh" được. Việc này hiển nhiên trái với kinh giáo. Đó là điều thứ bảy không bằng ngoại đạo.
Lại nữa, ngoại đạo hễ ai làm giống với mình thì hòa hợp, ai làm khác với mình thì trừng trị nghiêm khắc, nên khi đã có lệnh cấm thì không ai là không tuân thủ. Nay người xuất gia hoặc là sư trưởng, hoặc là quan coi chùa mà giải tỏa việc cấm uống rượu, cho ăn thịt,cá, không thực hành giới pháp, nên vừa mở miệng nói thì bị kẻ khác chế giễu: "Thầy trước đây cũng vậy, quan coi chùa cũng vậy", khiến cho trong lòng cảm thất áy náy, im lặng, cúi đầu, đỏ mặt, toát mồ hôi, câm miệng, không nói được lời nào. Bản thâm mình có tì vết thì không thể làm cho tha nhân tuân phục, chỉ còn biết im lặng bỏ qua. Cho nên ở chùa thì trái giới luật, tu hành thì buông thả. Đó là điều thứ tám không bằng ngoại đạo.
Lại nữa, ngoại đạo nhận người ta bố thí đúng theo phép tắc của mình. Người thọ giới quạ thì chỉ nhận sự bố thí của người thọ giới quạ, người thọ giới nai thì chỉ nhận sự bố thí của người thọ giới nai. Người thọ giới quạ chung cục không vi phạm để nhận sự bố thí của người thọ giới nai, người thọ giới nai cũng không vi phạm để nhận sự bố thí của người thọ giới quạ. Nay người xuất gia lại bảo: "Tôi rất tinh tấn, tooi tu khổ hạnh", nhất thời vi phạm, lừa dối kẻ áo trắng, đi ra ngoài thì uống rượu mở cửa con đường ác, trở về chùa thì ăn thịt huân tập gốc khổ đau. Đó là điều thứ chín không bằng ngoại đạo.
Hơn nữa, tuy ngoại đạo hành động điên đảo, nhưng cũng không vi phạm các việc kể trên. Thế còn rượu là chất gì? Đó là thứ mùi hôi do nước và ngũ cốc đã mất hương vị tự nhiên mà biến chất thành một mùi vị khác. Chúng sinh vì [295b] nhân duyên tội lỗi nên thích thú mùi vị xú uế này. Đó không phải là sự hưởng thụ chân chánh, cũng không phải là cam lồ thượng vị. Vì sao Tăng Ni đã xuất gia mà còn sinh lòng tham đắm? Tăng Ni trao năm giới cho người áo trắng, bỏa họ không được uống rượu, không được nói dối, vì sao tự mình uống rượu, làm trái lại những điều thệ ước? Trong 7 loại giới, tám trai giới, 5 thiên 7 tụ và các loại luật nghi dài ngắn khác ở nơi nào cho phép uống rượu? Hơn nữa, đối với tăng chúng bình thường chẳng nói làm chi, nhưng đối với những người học luật lại càng không được làm như thế, vì làm như thế là mở cánh cửa phóng dật, huân tập cội gốc ác hạnh. Nếu người áo trắng đam mê chất ma túy thì người xuất gia còn phải khiển trách, họ bảo: "Này mỗ giáp, ông đã đến tôi thọ 5 giới,
không nên làm như vậy". Nếu là người không thọ giới cũng nên khuyên: "Này đàn việt, rượu là gốc của điều ác, rượu là việc của ma, kể từ hôm này mong đàn việt không nên uống nữa". Vì sao người xuất gia lại uống rượu! Thân của ngục tốt trong địa ngục Ni-la-phù-đà như những khúc thịt, không ai biết đó là người gì. Đó chính là những kẻ đã uống rượu. Tăng Ni đã xuất giá há không tin sâu kinh giáo! Tự mình hủy hoại chánh pháp, làm việc tà đạo, tức là làm tăng trưởng điều ác, đi vào chốn địa ngục khổ đau. Làm những việc như thế há không thấy hổ thẹn, lại còn mặc pháp phục của Phật, nhận sự cúng dường của tín thí, ở nơi chùa tháp, ngước nhìn tôn tượng! Nếu người xuất gia mà uống rượu, ăn thit, làm các việc như thế thì quả thật không bằng người tại gia.
Chín trường hợp không bằng người tại gia:
Tại sao vậy? Vì người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt mà không phạm giới pháp. Đó là điều thứ nhất không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng mỗi người đều có nhà riêng để cư trú, chung cục không vì thế mà xúc phạm đến tôn tượng. Đó là điều thứ hai không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng hoàn toàn không bài tiết nơi chùa chiền thanh tịnh. Đó là điều thứ ba không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng không bị ai chê trách; còn người xuất gia nếu uống rượu, ăn thịt thì sẽ bị người ta khinh rẻ Phật pháp. Đó là điều thứ tư không
bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng các nơi cửa ngõ, bếp núc, giếng nước đều có thờ quỉ; còn người xuất gia nếu có uống rượu, ăn thịt thì mùi xú uế xông tỏa, khiến cho tất cả thiên thần đều xa lánh, tất cả ma quỉ đều vui mừng. Đó là điều thứ năm không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng chỉ tự phá tài sản của mình, chư không phá tài sản của kẻ khác, [295c] còn người xuất gia nếu uống rượu, ăn thịt thì tự phá thiện pháp của mình mà còn phá hoại ruộng phước của kẻ khác. Đó là điều thứ sáu không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng đều là tự mình lo liệu lấy; còn người xuất gia nếu uống rượu, ăn thịt thì đều do kẻ khác cung cấp. Đó là điều thứ bảy không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng đều do nghiệp lực sai khiến; còn người xuất gia nếu uống rượu, ăn thịt thì ma vương ngoại đạo đều có cơ hội lợi dụng. Đó là điều thứ tám không bằng người tại gia.
Người tại gia tuy uống rượu, ăn thịt nhưng vẫn không làm suy sụp sự nghiệp của cha ông, không đễn nỗi đắm say quên cả bổn phận; còn người xuất gia nếu uống rượu, ăn thịt thì dù nhiều hay ít đều cắt đứt giống Phật. Đó là điều thứ tám không bằng người tại gia.
Trên đây (Tiêu Diễn) đã nêu sơ lược về người xuất gia không bằng ngoại đạo, không bằng người tại gia, mỗi bên có 9 việc, nếu muốn bàn cho hết những tác hại của rượu, thịt thì nhiều vô số kể. Do đó có thể dựa vào đây mà suy đoán, không cần phải nói nhiều.
Ăn cá thịt, chướng ngại sự tu hành:
Hôm nay, đại đức Tăng Ni, nghĩa học Tăng Ni và các quan quản lý việc chùa hãy tự mình cảnh giác, làm cho đồ chúng trang nghiêm thanh tịnh. Nếu ai lười biếng, không tuân theo lời Phật dạy thì sẽ được xem như một người dân thường của nước Lương này, đệ tử sẽ trị phạt đúng mức. Nếu còn kẻ nào chửa tuân theo Phật pháp thì các vị Tăng quan nên dựa theo phép tắc mà mời vị thầy ở kinh thành giảng kinh Đại Niết-bàn, để cho pháp luân tương tục không bị gián đoạn. Dù ai đã nghe đên nghìn lần cũng phải nghe lại. Hôm nay truyền lệnh cho pháp sư Pháp Vân giảng phẩm Tứ tướng thứ tư trong kinh Niết-bàn một lần nữa cho Tăng Ni cùng nghe. Tăng Ni nào đã từng nghe thì không được vi phạm, còn ai chưa từng nghe thì phải chú ý ghi nhớ. Trong kinh Phật nói: "Không được ăn tất cả mọi thứ thịt", thậm chí thịt của con vật chết cũng không nên ăn, huống gì là thịt của con vật bị giết. Chư Tăng Ni xuất gia mang là danh là đệ tử Phật, vì sao ngày nay lại không vâng lời thầy dạy! Kinh nói: "Ăn thịt là cắt đứt hạt giống đại bị". Thế nào là cắt đứt hạt giống đại bi? Phàm là tâm đại bi thì muốn cho tất cả chúng sinh đều được an lạc. Nếu mà ăn thịt thì tất cả chúng sinh biến thành kẻ thù, không thể an vui được. Nếu ăn thịt thì xa lìa pháp của Thanh Văn. Nếu ăn thịt thì xa lìa pháp của Bích Chi Phật. Nếu ăn thịt thì xa lìa pháp của Bồ-tát. Nếu ăn thịt thì xa lìa đạo của Bồ-tát. Nếu ăn thịt thì xa lìa quả vị của Phật. Nếu ăn thịt thì xa Đại Niết-bàn. [296a] Nếu ăn thịt thì chướng ngại sinh lên cõi trời Lục dục, huống gì là đạt được quả vị Niết-bàn. Nếu ăn thịt thì chướng ngại 4 cấp Thiền định.
Nếu ăn thịt thì chướng ngại 4 pháp không. Nếu ăn thịt thì chướng ngại tịnh giới. Nếu ăn thịt thì chướng ngại Thiền định. Nếu ăn thịt thì chướng ngại trí tuệ. Nếu ăn thịt thì chướng ngại tấn căn. Nếu ăn thịt thì chướng ngại niệm căn. Nếu ăn thịt thì chướng ngại tuệ căn. Nói một cách khái quát là chướng ngại đối với 37 đạo phẩm. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 chân đế (Tứ đế). Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 12 nhân duyên. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 6 Ba-la-mật. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 thệ nguyện lớn. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 pháp thu nhiếp. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 tâm vô lượng. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 trí vô ngại. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với tam tam-muội. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 8 giải thoát. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 9 cấp thiền định. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 6 thần thông. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 108 tam-muội. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với Hải ấn tam-muội. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với Thủ lăng nghiêm tam-muội. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với kim cương tam-muội. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với ngũ nhãn (năm loại mắt). Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 10 lực. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 4 vô sở úy (4 điều không sợ sệt). Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với 18 pháp không giống kẻ khác. Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với nhất thiết chủng trí (tất cả mọi thứ trí). Nếu ăn thịt thì chướng ngại đối với Bồ-đề vô thượng. Tại sao vậy? Vì ăn thịt thì chướng ngại đối với tâm Bồ-đề, không có pháp của Bồ-tát. Vì ăn thịt thì chướng ngại, không thể đạt được Sơ địa. Vìa ăn thịt thì chướng ngại, không thể đạt được Địa thứ 2; cho đến không
thể đạt được Địa thứ 10, vì không có pháp của Bồ-tát. Mà đã không có pháp của Bồ-tát thì cũng không có 4 tâm vô lượng. Không có 4 tâm vô lượng thì cũng không có đại từ, đại bi. Vì nhân duyên này mà giống Phật không liên tục. Do thế nên kinh nói: "Ai ăn thịt thì cắt đứt hạt giống đại từ". Những người xuất gia tuy không thể thực hành trọn ven đại từ đại bi cứu cánh Bồ-tát hanh, thành tựu vô thượng Bồ-đề, nhưng tại sao không nhịn mùi vị hôi tanh này để tu đạo Thanh Văn và Bích Chi Phật? Loài cú quạ ưa thích giống chuột, còn giòi bọ thích thú phấn uế. Lấy đó suy ra các loài khác, cho đến chó sói, chồn hoang đều ưa thích thịt. Con người là loài có tri thức hơn hẳn các loài khác, tuy cũng giống với chúng là ưa thích mùi hôi tanh, nhưng có lẽ nào lại thường ấp ủ tâm sát hại để cho mai một hạt giống đại từ! Phàm kẻ ăn thịt thường tự thấy mình rất bỉ ổi. Các đại đức Tăng Ni,[296b] các vị pháp sư giảng kinh Niết-bàn, vì sao không dũng mãnh tinh tấn lên? Một câu kinh Niết-bàn trên đây nếu biết lắng nghe và nhận thức được thì tâm sẽ giải ngộ. Thế nhưng, có một hạng người ngu si, bảo: "Tôi chỉ ăn cá, thật sự không ăn thịt". Cũng nên giải thích cho họ rõ: Ở xứ này không phân biệt dưới nước hay trên đất. Thịt của chúng sinh đều gọi chung là thịt. Chư thính giả sao không xét kỹ để thọ trì, như pháp tu hành! Phàm ăn thịt như trên đã nói, đó là việc cấp thiết phải chừa bỏ.
Ăn cá thịt - cái nhân của mọi quả ác:
Các đại đức Tăng Ni nên biết rằng ăn thịt chúng sinh là hành vi của ma. Ăn thịt chúng sinh là hạt giống của địa ngục. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của sợ hãi. Ăn thịt
chúng sinh là cái nhân của mất mạng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của chết cháy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của nấu chín. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của nướng cháy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của thiêu đốt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của cắt thịt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của mổ xẻ. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của đứt đầu. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của chặt tay. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của chặt chân. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bể bụng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của vỡ lưng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của mổ ruột. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của nát tủy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của khuyết mắt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của cắt mũi. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của cắt tay. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bần cùng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của hạ tiện. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của đói lạnh. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của xấu xí. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của điếc lác. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của mù lòa. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của câm ngọng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của què quặt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của khập khiễng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của mụt nhọt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh sảy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của ghẻ lở. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh hắc lào. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh ung nhọt. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh bướu cổ. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của thương tật. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh ung thư. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh rôm sảy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh trĩ. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh rỉ nước. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh hủi. Ăn thịt chúng sinh là
cái nhân sinh ra loài rận. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân sinh ra loài chí. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân sinh ra loài muỗi. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân gặp phải độc trùng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân sinh gặp phải ác thú. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân bệnh khô gầy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh sốt rét. Ăn thịt [296c]chúng sinh là cái nhân sinh của bệnh đau đầu. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau bụng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau ngực. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau lưng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau tay. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau chân. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau tủy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đau ruột. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh teo gân. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh ợ ngược. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh đứt mạch máu. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh ra máu. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh nghẹt họng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh yết hầu.
Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh phong. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh thủng nước. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân khiến cho 5 tạng không điều hòa .Ăn thịt chúng sinh là cái nhân khiến cho 6 phủ không điều hòa. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh điên. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân của bệnh cuồng. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân dẫn đến phát sinh 404 bệnh. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân khiến cho nóng nảy. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân khiến cho não loạn. Ăn thịt chúng sinh là cái nhân khiến cho bứt rứt. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân gặp phải nạn nước. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân gặp phải nạn lửa. Ăn
thịt chúng sinh là nguyên nhân gặp phải nạn gió. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị mất cắp. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị ăn trộm. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị ăn cướp. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đánh bằng roi. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đánh bằng gậy. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đánh bằng trượng. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị khiển trách. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị mắng chửi. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị nhục mạ. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị trói co. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị buộc chặt. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị giam cầm. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị nhốt kín. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị khổ sở khi mới sinh. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau đớn khi già nua. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ khi bệnh hoạn. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ khi từ trần. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ phải gặp những kẻ thù oán. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ khi bị chia lìa những người yêu thương. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ khi mong cầu không được toại nguyện. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân bị đau khổ khi 5 ấm sung mãn. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của nỗi khổ khi biến dịch (hành khổ). Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của nỗi khổ bị hoại vong (hoại khổ). Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của nỗi khổ chất chồng (khổ khổ). Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của Địa ngục tưởng. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của Địa ngục Hắc thằng. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của địa ngục chúng hợp. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của địa ngục khiếu hoán. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân
của địa ngục Đại khiếu hoán. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của địa ngục Nhiệt. Ăn thịt chúng sinh [279a] là nguyên nhân của địa Đại Nhiệt. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của địa ngục A-tì. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân của địa ngục Bát hàn,Bát nhiệt, cho đến là nguyên nhân của 8 vạn 4 nghìn cảnh giới địa ngục, thậm chí là nguyên nhân của vô lượng, vô số không thể kể xiết cảnh giới địa ngục. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân đưa đến tất cả ngạ quỉ. Ăn thịt chúng sinh là nguyên nhân đưa đến tất cả súc sinh. Nên biết rằng ngạ quỉ có vô lượng khổ đau. Nên biết rằng súc sinh có vô lượng khổ đau. Súc siinh thoắt sống thoắt chết, bị các loài khác giết hại, lúc sống có vô lượng nỗi khiếp đảm, lúc chết có vô lượng nỗi sợ hãi. Những cảnh đó đều là do nguyên nhân sát nghiệp chiêu lấy quả báo. Nếu trình bày đầy đủ quả báo của sát nghiệp chiêu lấy quả báo. Nếu trình bày đầy đủ quả báo của sát nghiệp thì không thể nào cùng tận, dù cho cây cỏ khắp cả mặt đất cũng không thể nào dung chứa cho hết. Từ trước đến đây đã trình bày về nhiều phương diện, nhưng nói tóm tắt thì cũng chỉ là quả khổ, mặc dù trong đó có nặng nhẹ, cho nên ngày nay phải chuốc lấy quả báo khổ đau là do sát nghiệp não hại chúng sinh mà ra cả.
Ăn cá thịt- gây nên mối oan gia:
Các đại đức Tăng Ni, các nghĩa học Tăng Ni, 3 quan coi sóc việc chùa chiền cần phải suy nghĩ việc lớn này: Giả sử ăn thịt cha của chúng sinh thì chúng sinh cũng ăn thịt cha của ta để báo thù. Giả sử ăn thịt mẹ của chúng sinh thì chúng sinh cũng ăn thịt mẹ của ta để báo thù. Giả sử ăn thịt con của chúng sinh thì chúng sinh cũng ăn thịt con của ta để báo thù. Như vậy oán oán chập chùng ăn thịt lẫn
nhau để báo thù đền trả, muôn kiếp nghìn đời chẳng bao giờ cùng tận. Như kinh nói: “Có một phụ nữ trải qua 500 đời làm hại con của chó sói, chó sói cũng trải qua 500 đời làm hại con của bà. Lại có một phụ nữ khác cũng trải qua 500 đời sát hại sinh mệnh của quỉ, quỉ cũng trải qua 500 đời sát hại tính mệnh của bà. Những điều đó đều di kinh nói, không thể không tin. Ngoài ra, sự báo phục lẫn nhau suy đây mà biết. Các đại đức Tăng Ni, các nghĩa học Tăng Ni, 3 quan coi việc chùa, lại có một việc lớn này cần phải tin tưởng: Từ vô thỉ cho đến đời này, trải qua 6 đường, bị mọi quả báo, những thân quyến của ta đã ở rải rác khắp nơi, vì trải qua biến dịch sinh tử nên thần trí mờ tối, khiến cho thân quyến mà không hề biết nhau. Chúng sinh ngày nay có thể từng là cha mẹ ta, có thể từng là sư trưởng ta, có thể từng là anh em ta, có thể từng là chị em ta, có thể từng là con cháu ta, có thể từng là bạn bè ta. Thế mà ngày nay không có đạo nhãn, không thể phân biệt, trở lại ăn nuốt lẫn nhau mà không hề hay biết. Khi ăn thịt chúng, nếu chúng có linh tri, ắt sinh oán hận, trở thành thu địch. Ngày xưa, chí thân, giờ đây trở thành chí oán. Những việc như vậy [279b] có lẽ nào không suy nghĩ! Trong nhất thời tạm hưởng một chút vị cỏn con nơi đầu lưỡi mà khiến cho những người thân thích xa xưa trở thành oán thù vĩnh viễn, thật là đau lòng nói sao cho xiết. Người áo trắng tại gia chưa có thể chu toàn đạo nghiệp, nhưng người xuất gia mặc pháp phục của đức Như Lai, thực hành hạnh Bố-tát, rất nên suy nghĩ tận tường.
Các đại đức Tăng Ni, các nghĩa học Tăng Ni, 3 quan coi việc chùa, lại phải suy nghĩ thêm việc này: Phàm ăn
thịt chúng sinh tức là ác tri thức của tất cả chúng sinh, là oan gia của tất cả chúng sinh. Những oan gia như vậy đầy dẫy cả 6 đường. Thế nên khi muốn tu hành đều gặp chướng nạn. Một là chướng nạn về lý, hai là chướng nạn về sự. Thế nào gọi là chướng nạn về lý? Vì do nghiệp duyên mà sinh ra chướng nạn, khiến cho hành giả ngu si không có trí tuệ, không biết nẻo xuất ly, không thê có phương tiện. Giả sử gặp thiện tri thức cũng không thể tin tưởng thọ trì. Giả sử có tin tưởng thọ trì cũng không thể thực hành. Đó là chướng nạn về lý. Còn chướng nạn về sự là: Những kẻ oán thù kia hoặc ở trong loài ác quỉ, hoặc ở trong loài thú dữ, hoặc là những vị thần có uy lực, hoặc là những loài rồng dũng mãnh, hoặc ở trong loài ma, hoặc trong loài trời. Từ các nơi như vậy chúng đến gây trở ngại. Giả sử người tu hành gặp được thiện tri thức, có lòng tin sâu xa, muốn thực hành thì chướng nạn liền phát sinh. Hoặc là chúng lẫn vào đường tà, hoặc sinh ra phiền não, khiến cho tâm rối loạn, tu giới, tu định, tu tuệ, tu các công đức thường không thanh tịnh, thường không viên mãn. Những trường hợp như thế đều do các oán thù xa xưa gây ra chướng nạn. Đó là những chướng nạn thuộc về sự. Những sự việc như thế cần mới suy nghĩ kỹ càng. Chỉ vì một nguyên nhân là ăn thịt chúng sinh mà xa lìa tất cả Phật pháp, bị bao đều tác hại như vậy. Sự độc hại của lòng tham cũng như thế, sự độc hại của lòng sân, của si mê cũng như thế, và những ai có 3 độc quân bình thì tác hại cũng chẳng khác. Thế nên cần phải cảnh giác cao độ, suy nghĩ tận tường.
Sẽ nghiêng trị Tăng Ni dùng rượu thịt:
Đệ tử Tiêu Diễn lại kính bạch chư đại đức Tăng Ni, chư nghĩa học Tăng Ni, 3 vị quan coi việc chùa. Tưởng Đế và Bắc Sơn còn bỏ việc sát sinh. Nếu ai không sát sinh đến cầu đảo thì được ông hiển linh chỉ bảo. Nếu kẻ nào sát sinh đến cầu nguyện thì ông sẽ không khen ngợi, chỉ bảo. Ngày nay, đại chúng cần phải lắng nghe để biết. Đệ tử đã ra lệnh cho các đền miếu và tất cả bá tánh, phàm những sự cầu nguyện, nếu có trả lễ, đều không được hiến cúng sinh vật. Mỗi người chỉ cần vận dụng lòng thành, hiến cúng hoa quả là được. Tưởng Đế ngày nay đã thực hành đạo Bồ-tát, lẽ nào người xuất gia lại ăn thịt chúng sinh thực hành ma đạo? Một ngày kia, Bắc Sơn [297c] làm tiệc chay đãi Tưởng Đế, do đó mời các vị Tăng ăn chay một thể. Vì sức linh hiển nên Tưởng Đế thấy rõ chân tướng của những người khác. Nếu vị tăng nào không ăn chay mà giả danh kẻ ăn chay đến dự thì trong lòng kinh hoàng nơm nớp lo sợ Tưởng Đế sẽ khinh rẻ Phật pháp. Đệ tử mong các vị nên suy nghĩ việc này.
Đệ tử là Tiêu Diễn lại kính bạch các đại đức Tăng Ni, các vị nghĩa học và 3 vị quan coi sóc việc chùa. Đệ tử là Tiêu Diễn ở trước tất cả chư Phật 10 phương, ở trước tất cả Thánh Tăng 10 phương, cùng với chu Tăng Ni cùng nhau lập lời thề: Hôm nay, Tăng chúng sau khi trở về chùa, ai nấy đều phải kiểm điểm chùa mình, bắt buộc mọi người phải tuân hành lời Phật dạy. Nếu kẻ nào còn uống rượu, ăn thịt, sống không đúng pháp thì đệ tử căn cứ theo phép vua mà trừng trị. Nếu Tăng Ni mặc pháp phục của Phật mà không làm theo hạnh của Phật, tức là hạng giả
Danh, chẳng khác gì quân trộm cướp. Những kẻ làm như vậy thì được xem như một tên dâ thường ở nơi biên địa trong nước của đệ tử. Ngày nay đệ tử sẽ dùng vương pháp để hỏi tội. Hoặc do Ngoại Ty tra xét bắt được, hoặc do các chùa nêu tên, thì không cần hỏi tuổi tác già ay trẻ, không cần hỏi môn đồ nhiều hay ít, đệ tử ra lệnh cho quan coi việc chùa, đánh kiền chùy, tập hợp tăng chúng, bắt người ấy xả giới hoàn tục, mặc y phục của người tại gia. Theo phép tắc hoàn tục của kinh Niết-bàn: Chỉ trừ 2 hạng người quá già và đông đảo môn đồ thì mới chất vấn trước. Tại sao vậy? Vì trừng trị một kẻ tiểu Tăng vô hạnh thì không đủ chấn chỉnh lòng người, chỉ có trừng trị một bậc đại Tăng mới đủ sức làm kinh động những người nghe thấy. Thiết nghĩ các danh đức đại Tăng không nên có hành vi phạm tội. Giá như có hành vi phạm tội thì nên theo phép mà hỏi tội. Ngoài ra, các vị tiểu tăng thì không cần phải nói. Cuộc tập hợp hôm nay là một nhân duyên lớn, không những có sự hiện diện của chư Phật, không những có sự hiện diện của chư Pháp, không những có sự hiện hữu của Thánh tăng tại đây mà chư Thiên cũng hiện hữu đầy khắp cả hư không, bốn vua hộ thế cũng có mặt tại đây, Kim cương mật tích đại biện Thiên Thần, Công đức Thiên Thần, Vi Đà Thiên Thần, Tỳ-nữu Thiên Thần, Ma-sẩn-thủ-la, Tán chỉ đại tướng, Địa Thần kiên lao, Ca-tì-la vương, Khổng Tước Vương, Phong hầu vương, Phú-Ni-bạt-đà-la-già vương, Kim Tì-la vương, thập phương nhị thập bát bộ Dạ-xoa thần vương, nhất thiết Trì chú thần vương, lục phương đại hộ Đô sứ an quốc. Tất cả những vị ấy đều có sức thần túc lớn, có uy đức lớn. Tất cả thiên thần đầy ắp cả hư không. Long Vương ở 5 phương: [298a] Ta Kiệt Long
Vương, A-nậu Long Vương, Nan-đà Long Vương, Bạt-nan-đà Long vương, Y-na-mãn Long vương, tất cả các Bồ-tát Long vương như vậy cũng đang đầy ắp tại đây. Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà vương, A-tu-la vương, Ca-lâu-la vương, Khẩn-na-la vương, Ma-hầu-la-già vương, người mà chẳng phải người, tất cả đều có sức đại thần túc, có đại uy đức, và bát độ Thần vương cũng có mặc tại đây. Hôm nay, chư thần thổ địa sơn xuyên miếu mạo cũng đang hiện hữu đầy khắc hư không. Như vậy, cả cảnh giới u minh và minh hiển không gì là không thấy rõ. Chỉ có những ai không tùy vết thì mới có thể làm nhục được người khác. Chỉ có những kẻ trong sạch mới có thể làm trong sạch người khác. Hôm nay, đệ tử đề xướng việc này, ắt hẳn trong Tăng Ni sẽ có người bất bình. Nếu không mổ tim ném xuống đất, chỉ cho Tăng Ni thấy một miếng thịt đỏ thì không lấy gì để làm tin. Cổ nhân từng dạy: “Biết chẳng phải khó, mà làm mới khó”. Đệ tử Tiêu Diễn tuy ở tại nhà, không giữ giới cấm, nhưng hôm nay trước hết xin tự thệ nguyện để tỏ rõ bản tâm: Đệ tử Tiêu Diễn kể từ hôm nay trở đi, nếu uống rượu, phóng dật, khởi tâm dâm dục, lừa dối vọng ngữ, ăn thịt chúng sinh, thậm chí nếu uống sữa, mật và các loại sữa chua, xin các vị đại lực quỉ thần, trước hết khổ trị thân thể Tiêu Diễn, rồi sau đó mới giao cho vua Diêm La ở địa ngục áp dụng cực hình, cho đến khi chúng sinh đều thành Phật hết, đệ tử Tiêu Diễn vẫn còn ở trong địa ngục A-tì. Trái lại, nếu Tăng Ni uống rượu, ăn thịt, cá mà không hối cải, thì tất cả quỉ thần cũng phải trị tội như vậy để làm tăng trưởng điều thiện, Phật đạo được trong sạch. Nếu ai chưa bị chốn u minh trừng trị, vẫn còn trên đời, thì đệ tử Tiêu Diễn sẽ y theo pháp luật trừng trị, đuổi
Về thế tục, bắt mặc y phục tại gia, tùy lúc sai khiến. Kính mong hai bộ Tăng Ni hôm nay trở về lại chùa, chấn chỉnh Phật pháp, hòa hợp mọi người, bảo họ đi nghe giảng kinh, theo đó mà tu hành, không nên để cho hạt giống đại từ bi đứt đoạn, khiến cho hạt giống Phật không còn tiếp tục. Nếu kẻ nào phạm trai phá giới thì căn cứ vào những qui định của tăng già mà trừng trị đúng mức. Còn nếu ai dung chứa, không vạch tội trừng phạt, thì người đó phải chịu mọi trách nhiệm.
Lại nữa, tại chùa của Tăng Ni nào có thờ Tứ Thiên Vương, Thần Ca-tì-la, mà còn bày các thứ đầu nai và thịt dê…, là điều không thể chấp nhận được, phải cấp tốc cấm đoán. Nếu như không cấm đoán thì các quan coi việc chùa phải chịu trách nhiệm, như trên đã nói – Đặc biệt tuyên bố ý chỉ.
Ăn thịt đau, ăn rau khẻo:
Đệ tử Tiêu Diễn kính bạch chư đại đức Tăng Ni, chư nghĩa học Tăng Ni và 3 quan coi việc các chùa. [298b] Trước đây đã trình bày sơ lược về những chướng ngại của việc ăn cá, thịt chuốc lấy quả khổ đau, giờ đây lại muốn thông bạch một lời: Được biết tuổi thọ của cõi Diêm-phù-đề là 120 tuổi, nhưng ở thế gian này ít thấy ai thọ đến tuổi đó, mà bị thiền biến luân lạc cũng không phải là ít. Kinh nói, trong một niệm có 60 sát-na, sinh già vô thường biến đổ không chừng, vừa có các căn bỗng chốc đã suy diệt, nỗi khổ trong 3 đường chớp nhoáng hiện đến, muốn lìa địa ngục cực kỳ khó khăn. Những bậc giới đức thanh tịnh còn e khó tránh, huống gì những nguồi phạm
giới tránh sao cho khỏi. Tuy là trường trai mà không có phương tiện thiện xảo, nếu muốn tránh khỏi quả báo cũng không thể được. Tại sao vậy? Vì, tuy đời này không phạm các tội lỗi, nhưng quả báo đời trước mạnh mẽ hiện giờ khó mà thay đổi. Những nỗi khổ trong ba đường không có cách nào ngăn chặn được, huống gì lại còn uống rượu, ăn thịt chúng sinh! Chư Tăng Ni hẳn nhiên tin lời Phật dạy, nên tự nỗ lực. Nếu ai bảo rằng ăn chay khó khăn thì đó là hạng người lòng tin còn yếu ớt. Nếu ai có lòng tin vững chãi cần phải tự cường. Đã có tâm kiên định thì việc ăn chay nào có khó gì. Ăn rau trái hay cá thịt cũng chỉ là một duộc, nếu tâm an ổn thì đó là cam lồ thượng vị, nếu tâm không an ổn thì đó là món ăn xú uế thấp kém. Thế nên kinh Niết-bàn nói: “Lúc ăn vật gì nên tưởng như là ăn thịt con, nêu như ta không mê lầm thì đâu cần đến việc này”.
Không nói chi đến việc xa xôi, chỉ mượn một ví dụ gần đây thôi: Nay đây nếu ai ăn chay được thì chán ghét mùi tanh hôi của máu thịt, còn những kẻ không thể ăn rau quả thì nhàm chán rau khoai, sự việc là như vậy. Hãy tự mình nỗ lực, xoay lại việc bất thiện trở thành việc thiện. Hướng về việc thiện điều trọng yếu là phương tiện. Khi ăn cá, thịt tưởng như ăn thịt con mình; nếu suy nghĩ như vậy, thì tâm sẽthì đó là món ăn xú uế thấp kém. Thế nên kinh Niết-bàn nói: “Lúc ăn vật gì nên tưởng như là ăn thịt con, nêu như ta không mê lầm thì đâu cần đến việc này”.
Không nói chi đến việc xa xôi, chỉ mượn một ví dụ gần đây thôi: Nay đây nếu ai ăn chay được thì chán ghét mùi tanh hôi của máu thịt, còn những kẻ không thể ăn rau quả thì nhàm chán rau khoai, sự việc là như vậy. Hãy tự mình nỗ lực, xoay lại việc bất thiện trở thành việc thiện. Hướng về việc thiện điều trọng yếu là phương tiện. Khi ăn cá, thịt tưởng như ăn thịt con mình; nếu suy nghĩ như vậy, thì tâm sẽ quyết định. Những ai không từ bỏ cá, thịt được đều bảo rằng: Chất rau quả lạnh, khiến cho người ăn nó thiếu dinh dưỡng; còn cá thịt thì ấm, làm cho người ăn nó được bổ dưỡng. Nói như vậy thì thật là ngược ngạo. Giờ đây xin thử bàn qua việc này. Điều đó không phải như vậy. Nếu ai ăn chay lâu ngày thì khí vinh và khí vệ lưu thông, do đó phần nhiều sức nóng tăng cường, mà hai khí vinh vệ lưu
thông tốt thì ăn uống dễ dàng. Do ăn uống dễ dàng nên khí lực sung mãn. Như vậy là rau trái không những không lạnh mà còn bổ dưỡng. Những vị tu khổ hạnh cũng đều dùng rau quả mà thân thể họ ấm áp và rắn rỏi, tinh thần thanh thoát, ít khi nói mệt. Phàm giống cá phần lớn là lạnh, còn máu tanh là yếu tố làm tăng trưởng hàng trăm thứ bệnh. Cho nên, nếu ăn cá thì tinh thần trở nên hôn ám ô trược, tứ chi đều nặng nề, đó là chưa nói đến việc chuốc lấy quả báo đau khổ của đời sau trong 3 đường ác, và ngay tức thời tứ đại không đều hòa. Đó há không phải là những thành kiến sai lầm và cố chấp là gì? Những ai thích ăn thịt cá thì cho đó là [298c] ấm, là bổ dưỡng. Điều này thật là ngược ngạo, không thể tin được. Lại có một hạng người ăn rau cho là lạnh, bèn bỏ ăn chay. Những người náy do dăn rau chưa quen, kỳ chực rau với cá, thịt như nước với lửa. Ăn rau thì chế ngự lòng dục đắc lực lại ăn cá, thịt, mà cá, thịt vốn tánh tưởi nên làm mất năng lực của rau. Do đó những người sai lầm thường bảo: “Rau có tánh lạnh”. Phàm những ai bỏ ăn chay thì tiến không được năng lực của rau quả, thoái không được sự ích lợi của cá thịt, phần nhiều bị suy nhược mất sức, không thể làm được việc gì.
Này chư vị Tăng Ni, cần phải biết một việc này nữa: Phàm ăn cá, thịt vốn là cảnh giới của ma, làm công việc của ma, tâm không quyết định, phần nhiều gặp những chuyện không may, bên trong bên ngoài đều bị ma nhiễu loạn. Do thế, hành giả nên suy nghĩ, cá thịt và rượu vốn là thực phẩm của ma, điều đó khỏi phải nói. Phàm những kẻ ăn thịt, cá và thích uống rượu thì thiên thần xa lánh, trong thân không có chí khí. Những hạng người ấy phần nhiều
Suy yếu, ưu phiền. Lại có một loại người tuy có thể ăn rau, nhưng ỷ thị vào đó sinh tính kiêu mạn, thường hay bẳn gắt, lại hay tham cầu. Những hạng người đó cũng rơi vào cảnh giới của ma, phần nhiều bị suy sụp và ưu phiền. Lại có một hạng người khác bề ngoài tựa hồ thuần thục, nhưng bên trong thô ác, thấy ai hơn mình thường ôm lòng đố kỵ, việc làm thì bất thiện, tất cả đều che giấu. Những hạng người ấy đều bạn bè của ma, tuy là ăn rau quả nhưng cũng suy sụp, sầu não. Nếu tâm nguyện quả quyết, ăn rau có chừng mực thì phần nhiều được thiện lực gia bị, có khả năng tuân hành đúng pháp. Nếu ai không trung thực thì nên cảnh giác, chớ dùng cái tâm không quyết định để cầu mong thành tựu con người quyết định. Các đại đức Tăng Ni nào mà hạnh nghiệp đã thành tựu, thì kể từ hôm nay trở đi hãy khéo léo hướng dẫn người khác, để cho những ai chưa được thì dần dần sẽ đạt được. Những ai đã thực hành xin giữ bền chí lực. Nếu ai chưa thực hành sẽ cố gắng thay đổi. Kể từ nay hãy cùng nhau vun bồi chủng tử Bồ-đề, chớ lấy làm quái lạ.
Đệ tử Tiêu Diễn kính bạch.
Soạn vào lúc canh năm, ngày 22 tháng 5, tại Phụng Trang Môn.