Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Pháp Hiển Nhà Chiêm Bái

Pháp Hiển Nhà Chiêm Bái

Tác giả: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 1997. Số trang: 217.

Chương 4: 1. Nhân Cách Và Quan Điểm (Trang 17 - 34)

1. 
NHÂN CÁCH VÀ QUAN ĐIỂM

 
1. ÐỨC TIN THUỞ ẤU THỜI:
 
Một điều hiển nhiên là ảnh hưởng đầu tiên trên tâm hồn non nớt của một đứa trẻ đóng vai trò quan trọng trong sự tạo thành nhân cách về sau, khi trẻ ấy lớn lên. Bởi thế, chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy cao tăng Pháp Hiển, họ Cung người đất Vũ Dương, Bình Dương, đã có một lòng tận tụy đối với đời sống Tăng lữ suốt cuộc đời ngài, vì mới 3 tuổi ngài đã xuất gia làm chú tiểu. Không phải vì thân phụ ngài sùng tín đạo Phật gì cho lắm, mà chỉ vì ba người con trai trước của ông đã chết yểu. Muốn cứu vãn con trai thứ tư khỏi chịu chung số phận, ông đã cho Pháp Hiển cạo tóc làm chú tiểu khi mới được 3 tuổi, những vẫn giữ chú ở nhà. Nhưng sau đó chú cũng ốm nặng suýt
chết. Người cha hoảng kinh gởi đến chùa thì chú lại hết bệnh. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, có một truyền thống lạ lùng là cha mẹ mỗi khi có con nhỏ hay đau ốm, dễ chết non thì lại cho con đến chùa làm chú tiểu, với hy vọng nhờ sự che chở của Ba ngôi báu mà con mình được cứu thoát. Và quả thực như thế, trong trường hợp chú bé Pháp Hiển. Ðiều này không có gì lạ, vì đời sống chú tiểu trong một tự viện khéo tổ chức quả thật an bình và lành mạnh hơn bất cứ trong một gia đình cư sĩ nào, dù giàu có đến đâu. Nhưng khi đã đếm được phúc lạc của đời sống không nhà, chú bé Pháp Hiển không chịu trở lại với gia đình nữa, mặc cho cha mẹ năn nỉ. Mẹ ngài vì thương yêu đứa con duy nhất sống sót, nên luôn luôn muốn giữ ngài bên cạnh. Nhưng ngài nhất định không nhượng bộ trước ý muốn của mẹ mình. Bởi thế bà đã phải làm một cái chòi nhỏ bên ngoài cổng chùa để dễ dàng lui tới thăm con. Năm ngài 10 tuổi, thân phụ Pháp Hiển qua đời. Trước tình cảnh bà mẹ góa bựa đơn côi, ông chú viết thư khuyên ngài hãy hoàn tục. nhưng Pháp Hiển cương quyết trung thành với nếp sống ngài đã theo, và sự trả lời của ngài cho
thấy quyết tâm của ngài, với một ước nguyện cùng động cơ chân chính: "Không phải vì cha mà cháu đi tu; mà chỉ vì muốn từ bỏ dục vọng và tránh những chuyện thế tục". [Chih2: 13a, 2-4]. Người chú rất hài lòng vì câu trả lời ấy nên không ép ngài thêm nữa.
2. SỰ THÔNG MINH NHANH TRÍ: 
 
Cao Tăng Truyện kể một giai thoại cho thấy ngài rất nhanh trí khi bất thần chạm mặt với hiểm nguy và đe dọa. Một hôm, trong khi cùng một nhóm tiểu Tăng gặt lúa ngoài đồng, thình lình một vài tên cướp xuất hiện muốn cướp lúa. Tất cả các chú tiểu khác đều bỏ chạy, ngoại trừ Pháp Hiển ở lại một mình. Ngài bảo bọn cướp: "Nếu các ông cần lúa, cứ tha hồ mà lấy đi. Chính vì trong các đời trước, các ông đã không thực hành hạnh bố thí cho nên bây giờ mới bị nghèo đói như vậy. Bây giờ các Ông lại còn muốn đi ăn cướp của người khác, thì tôi sợ rằng đời sau, các Ông sẽ gặp hoàn cảnh còn tệ hơn nữa. Tôi chỉ đau buồn cho số phận các Ông mà thôi". Nói xong ngài bỏ đi. Những lời lẽ của ngài đã gây ấn tượng sâu xa đối với những người ăn cướp đến nổi họ bỏ đi không
lấy một nắm lúa nào. Nhiều vị Tăng đến khen ngợi ngài. [Chih2: 13a, 3-4].
3. ÐỨC VÔ ÚY, TÍNH CAN ĐẢM VÀ LÒNG MỘ ĐẠO :
 
Một giai thoại khác trong Cao Tăng Truyện kể về đức vô uý của Pháp Hiển khi gặp hiểm nguy đe dọa tính mạng: Cách thành Vương Xá hơn 30 dặm, có một ngôi chùa nơi ngài dừng chân vào lúc sẩm tối, Pháp Hiển muốn tiếp tục đi lên đỉnh Linh Thứu nhưng những vị Tăng trong chùa ngăn cản: "Ðường lên núi hết nguy hiểm, nhiều sư tử đen thường xuất hiện bắt người ăn thịt, làm sao ông đi được?". Pháp Hiển trả lời: "Tôi đã đi từ xa xôi ngàn dặm với ước nguyện đến được đỉnh núi Linh Thứu, bất kể thân thể tánh mạng. Làm sao tôi chịu được ước nguyện từ bao nhiêu năm của mình giờ đây phải tan tành, lúc đã gần đến đích. Dù nguy hiểm đến đâu, tôi cũng không sợ". Thấy không can nổi, những vị Tăng bèn cử hai người dẫn đường. Khi lên đến đỉnh núi trời đã tối, ngài muốn ở lại. Hai tu sĩ dẫn đường sợ hãi quay trở về. Pháp Hiển ở lại một mình trên đỉnh núi, đốt hương đảnh lễ nơi Thánh địa.
Với lòng sùng kính và niềm cảm khái sâu xa, ngài chiêm ngưỡng chốn thiêng liêng, tưởng như bậc Thầy thánh thiện vẫn đang còn ở đấy. Nửa đêm có ba con sư tử đen xuất hiện ngồi thụp trước mặt ngài vừa liếm môi vừa vẫy đôi. Pháp Hiển vẫn tụng kinh không dứt, tâm trí để cả vào những lời cầu nguyện dâng lên đức Phật. Khi ấy những con sư tử bèn cúi đầu cụp đuôi và quỳ dưới chân ngài Pháp Hiển đưa tay vuốt chúng và nói: "Nếu các ngươi muốn ăn thịt ta, thì hãy chờ ta tụng kinh xong đã. Nhưng nếu các ngươi muốn thử ta, thì nên đi chỗ khác". Những con sư tử ở nán lại một lúc rồi bỏ đi. [Chih2: 13a, 10-14].
Nội một điều ngài dám làm cuộc phiêu lưu sang Ấn, qua những sơn đạo chưa có dấu chân người, qua những sa mạc kinh hoàng, qua những đỉnh núi tuyết, những phương trời xa lạ với khí hậu khắc nghiệt, chính sự kiện đó cũng đủ làm một kỳ tích mà chỉ nhờ có đức can đảm và lòng sùng tín vô biên mới làm được. Ðoạn sau đây trong Cao Tăng Truyện đã tả một vài hiểm nguy và gian khổ ngài đã gặp trên đường hành hương đến đất Ấn:
"Từ Tràng An, ngài đi về phía Tây, qua
sa mạc Cát Di Chuyển, ở đấy trời không chim bay, đất không thú chạy. Sa mạc trải dài vô tận khắp cả bốn phương. Chỉ nhìn mặt trời mà đi, và nhờ những bộ xương người để đánh dấu đường. Những luồng gió nóng và linh hồn ác ma chực báo điềm chết cho bất cứ ai gặp phải chúng. Pháp Hiển phó thác đời mình cho số mệnh, cứ tiến bước vượt qua nhiều gian nguy. Sau một thời gian ngài đến Pamirs ở đấy mùa đông, mùa hè đều có tuyết phủ. Có những rồng dữ phà ra những luồng gió độc và mưa xuống cát sỏi. Con đường núi ngoằn ngoèo hiểm trở, vách đá dựng đứng hàng ngàn mũi nhọn. Những người xưa đã đẽo một đường mòn trên vách đá, với những bực cấp. Ngài phải mất hơn bảy ngày để đi qua. Ngài lại còn qua sông tại hơn mười chỗ bằng những chiếc cầu dây treo lơ lửng. Ngay cả hai sứ thần Trung Quốc ngày xưa (Chang Chien và Kan Ying - Trương Mạch và Cam Anh đời Hán - đi Trung Á vào năm 97 sau Tây lịch) cũng không xa đến như vậy. Kết tiếp, Pháp Hiển gặp một trận mưa đá dữ dội. Thầy Huệ Cảnh, một trong hai bạn đồng hành của ngài bệnh nặng không thể đi tiếp, đã
bảo Pháp Hiển: "Tôi đã gần kề cái chết. Thầy nên tiến lên, đừng ở lại đây mà cùng chết cả". Nói xong ông thở hơi cuối cùng. Pháp Hiển vỗ thi hài khóc nói: "Chưa đến đích mà Thầy đã chết rồi". Và Pháp Hiển một mình một bóng tiếp tục cuộc hành trình vượt qua đỉnh núi hiểm trở. Ngài đã đi qua hơn 30 nước trước khi đến đất Ấn" [Chih2: 13a, 5-10].
4. PHÁP HIỂN NGƯỜI XIỂN DƯƠNG TẠNG LUẬT:
 
Pháp Hiển là một nhà chiêm bái đặc biệt. Mục đích cuộc chiêm bái của ngài là côt đi đảnh lễ những Phật tích ở Ấn, nhưng ngoài ra còn có mục đích khác nữa; đó là "để quan sát cách hành trì giới luật tại các nước ngài đi qua, nhất là tại Ấn, và để thỉnh những bản văn Luật tạng đem về Trung Quốc". Ðấy là một nhu cầu khá tự nhiên, vì ngài vốn là người tuân thủ giới Biệt giải thoát một cách nghiêm túc. Suốt cuộc hành trình, ngài luôn gắng tuân giữ phép an cư ba tháng mùa mưa mỗi năm mà đức Phật đã chế định tại thành Vương Xá cho tất cả Tăng Ni phải tuân theo. Thế là tại xứ sở Agzi, Udyàna và Sankasya, Pháp Hiển đã cẩn
thận giữ phép hạ cư mặc dù có mỏi mệt vì cuộc hành trình hoặc có hăm hở muốn tiếp tục hành trình càng sớm càng hay. Ngay cả khi đi tàu từ đảo Yava đến Trung Quốc, Pháp Hiển cũng tuân giữ phép hạ an cư ngay trên tàu. Trên đường trở về Trung Quốc, ngài cũng không quên phận sự an cư nhập thất 3 tháng tại Lao Shan.
   Ðiều lôi cuốn mạnh mẽ sự chú ý của ngài là đời sống tu viện tại các xứ sở ngài viếng thăm, nhất là tại đất Ấn. Pháp Hiển rất tinh tế khi quan sát cung cách uy nghi của tu sĩ Ấn. Qua ký sự của ngài, chúng ta được biết trong tu viện Gomati (Cù-ma-đế) tại nước Khotan (Vu Ðiền) có 3.000 tu sĩ và trong thành Pataliputra có từ 600 đến 700 Tăng sĩ. Chư Tăng sống trong 3 tu viện ở Bồ-đề tràng giữ giới luật rất tinh nghiêm và hành xử rất có uy nghi. Giới luật ấy được truyền xuống từ thời Phật. Pháp Hiển cũng ghi nhận một vài pháp tu được Phật đặt ra và chư Tăng Ấn Ðộ đến lúc ấy vẫn còn duy trì nguyên vẹn. Tại đất Ấn, ngài đã quan sát cách người ta đón tiếp một khách Tăng và lễ dâng y Ca-thi-na, được chư Tăng tuân giữ một cách nghiêm nhặt. Ngài cũng không quên
nhắc đến tên tuổi một vài vị danh Tăng mà ngài tình cờ gặp hoặc nghe nói đến trên đường chiêm bai. Nhờ tập ký sự của ngài mà chúng ta được biết tại thành Pataliputra [Ba-liên-phất] bấy giờ có hai vị danh Tăng tên Manjusri (Văn-thù) và Rathasvami, có giới đức thuần tịnh khiến mọi người kính ngưỡng. Ở xứ Simhala, có vị cao Tăng tên Dharmakirti (Pháp Xứng) được mọi người trong xứ cung kính tôn trọng. Ngài đã nhập thất trong hang đá bốn mươi năm, trải tâm từ đến đến tất cả hữu tình bao gồm cả thú vật. Cũng trong xứ ấy ngài đã chứng kiến lễ hỏa táng một vị La Hán trong tu viện Mahavihara (Ðại Tòng).
Ký sự của Pháp Hiển còn cho ta biết chư Tăng ở Ấn có địa vị rất cao, được từ vua chúa đến thường dân kính trọng. Tại Mathura, Pháp Hiển ghi rằng mỗi khi cúng dường chư Tăng, các bậc vua chúa thường cởi bỏ vương miện và cùng với hoàng tộc và triều thần, họ thường tự tay phục vụ thức ăn cho Tăng chúng. Trước mặt Tăng chúng, họ không dám ngồi trên ghế hay giường. Một nét đặc sắc của đời sống tu viện khiến Pháp Hiển chú ý là các bậc vua chúa cũng như cư sĩ tại đây tận lực hổ trợ giới
Tăng lữ; họ được cung cấp về ăn, mặc, ở, bệnh không thiếu thứ gì. Pháp Hiển cũng kể rằng vua chúa đình thần cư sĩ đều xây chùa, cúng dường Tăng chúng những ruộng vườn, nhà ở, người làm và súc vật.
Như vậy, cảnh tượng nhìn chung về đoàn thể Tăng già nghiêm trì giới luật, về sự cung kính cúng dường trọng hậu mà chư Tăng được hưởng từ các vua chúa, thần dân, đã khiến Pháp Hiển hết sức hài lòng, thích thú. Và ngài không khỏi than dài, khi nghĩ đến tình trạng tồi tệ cửa đời sống giới luật chư Tăng tại nước mình. Bởi vậy, không đáng ngạc nhiên khi Ta Chen (Ðạo Chỉnh) bạn đồng hành của ngài, đã quyết định lưu lại đất Ấn không chịu trở về Trung Quốc. Và có lẽ Pháp Hiển cũng đã làm như bạn mình, nếu ngài đã không lập nguyện thỉnh tạng Luật về nước.
5.  KINH SÁCH MANG VỀ TRUNG QUỐC VÀ PHIÊN DỊCH CỦA PHÁP HIỂN
Giữ lời nguyện mang về tạng Luật cho Trung Quốc, Pháp Hiển thu thập ghi chép một số kinh về Luật tạng mà ngài tìm được ở đất
Ấn. Vì tại Bắc Ấn, tạng Luật được khẩu truyền không ghi chép, nên Pháp Hiển phải đi đến Trung Ấn để sưu tập Luật tạng. Tại một tự viện thuộc phái Mahàsànghika - Ðại chúng bộ - ngài tìm được Luật bản của bộ phái này, được xem là bản giới luật đầu tiên mà Tăng đoàn thời Phật tuân giữ và được truyền tụng ở tinh xá Jetavana - Kỳ Viên. Theo Pháp Hiển, thì mười tám bộ phái đều có bộ Luật riêng, tuy thế cả 18 bộ đều nhất trí về những giới điều thiết yếu, chỉ khác nhau về tiểu tiết. Ngài cũng xác nhận Giới bổn của Ðại chúng bộ là đầy đủ nhất. Ngài cũng tìm được một bản Luật của Phái Nhất thiết hữu bộ - Sarvàstivàda - gồm bảy ngàn bài kệ tụng mà theo ngài, cũng chính là những giới luật Tăng sĩ Trung Quốc phải tuân giữ. Những giới Luật này chỉ được thầy trò khẩu truyền cho nhau, không thành văn bản. Cũng trong tự viên này, Pháp Hiển tìm được một bản Samyuktàbhi - dharmahrayasàstra [Tạp A-tỳ-đàm Tâm Yếu Luận] gồm sáu ngàn bài kệ, một bản luận của Mahàsàngikà [Ðại chúng bộ]. Khi ở nước Simhala, nơi ngài lưu lại hai năm. Pháp Hiển được một bản Luật của phái Mahysàsaka, một bản kinh Dìrghàgama
[Trường A-hàm], kinh Samyuktàgama [Tạp A-hàm], và Sannipata [Tiểu bộ]. Những kinh sách này chưa được biết đến ở Trung Quốc. Khi trở về quê hương, ngài dịch bộ kinh Ðại Bát-niết-bàn cùng với ngài Buddhabhadra [Phật Hiền], một tăng sĩ Ấn thời Ðông Triều 317-420. Bản dịch gồm 6 tập 18 chương. Dịch phẩm thứ hai của ngài là Samyuktapitaka. Một bản dịch khác cộng tác với Buddhabhadra là Mahàsanghi - kabhi kabhik shunivinaya-pràtimoksa - Giới biệt giải thoát của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thuộc phái Ðại chúng bộ - gồm một quyển.
Tác phẩm duy nhất do ngài viết có tên là Cao Tăng Pháp Hiển Truyện, còn gọi là Phật Quốc Ký - ký sự về các nước theo đạo Phật. Trong quyển sách này, Pháp Hiển kể lại cuộc hành trình cuả ngài từ lúc khởi sự tại Tràng An, thủ đô Trung Quốc bấy giờ, cho đến lúc ngài đến Lao Shan. Sách kể tên những nước và thành phố mà ngài đã viếng thăm như sau: xứ Agni, Khotan, Chakuka, Agzi, Khalcha, Darada, Udyàna, Suvastu, Gandhàra, Takshasilà, thành phố Purushapura, đô thị Hilo, xứ Nagarahàra, Lakki, Harana, Uchcha, Mathurà,
thành Sankàsya xứ Kanyàkubja, làng Hari, thành Vaisàlì, Aràvastì xứ Kosala, thành Napuka, thành Kapilavastu, xứ Ràmagràma, thành Magadha, làng Kàlapinàka, đô thị Pàtaliputra mới thuộc xứ Magadha, Tân vương Xá trước kia là vương đô của vua Bimbisàra, thành Gayà, thành Vàrànasi, xứ Kausàmbì, xứ Dakshinà, Champà, thành Tàmralipti, xứ Simhala, xứ Yavadvìpa. (*)
___________________
 (*) Tham khảo bản dịch Phật Quốc Ký của HT Trí Quang thì lộ trình của ngài Pháp Hiển khởi từ Trường An đã đi qua các xứ và thành phố như sau; Càn-qui, Nhục-đàn, trấn Trương Dịch, Ðôn Hoàng, Thiện Thiện, Ô-di, Vu-điền, Kiệt-Xoa, Tử-hợp, nước Huy-đà lịch, Ô-trường (Bắc-Thiên-Trúc), Tù-ha-da, Kiền-đà-vệ, Trúc-sát-thi-la (cắt đầu), Phất-lâu-sa, Nhục-chi, Hê-la thủ đô xứ Na-kiệt, La-di, Bạt-na, Tỳ-trà, Ma-đâu-la, Tăng-già ti (Nam bộ), Kế-nhiêu-di, thôn Ha-lê, Sa-kỳ, Xá-vệ, quốc đô nước Câu-tát-la, Ca-duy-la-vệ, Lam mạc, Câu-di-na-kiệt, Tỳ-xá-ly, Ba-liên-phất thủ đô nước Ma-kiệt-đà, làng Nala sinh quán Sariputra, Vương Xá mới, thành Già-da, Ba-la-nại - Ca-thi, Câu-diệm di, Ðạt sấn, Chiêm-bá, Ma-lê-đế (cửa biển), Sư Tử, Da-bà-đề xứ Bà-la-môn giáo, bờ Nam Lao Sơn, thuộc quận Trường Quảng.
Qua ký sự của ngài, ta được biết những đặc điểm địa hình, nhân văn, khí hậu, cây cối ở một số quốc gia. Nhưng đóng góp cao quý nhất của Pháp Hiển là bức tranh ngài đã lại về sinh hoạt Tăng đoàn ở Ấn Ðô và Tích Lan vào thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch. Chẳng những qua đó ta biết được rằng chư Tăng tuân giữ giới luật Pha65t chế rất nghiêm minh, mà còn biết rằng họ được sự cung kính cúng dường rất trọng hậu của các vua chúa và thường dân cư sĩ. Ký sự của Pháp Hiển thỉnh thoảng có điểm thêm những giai thoại dật sử chắp nối lại, cho ta một hình ảnh khá đầy đủ về nếp sinh hoạt của đức Thế Tôn và các đại đệ tử của ngài lúc sinh thời. Mặc dù Phật Quốc Ký của Pháp Hiển không sao so bì được với tài liệu phong phú trong tác phẩm Tây Du Ký của Huyền Trang, song nó cũng có một đóng góp giá trị cho lịch sử Phật giáo ở Ấn và Tích Lan vào thế kỷ thứ năm sau tây lịch. Nếu Huyền Trang có thể dưọc tôn xưng là nhà khảo cổ về xư Ấn, thì Pháp Hiển chính là sử gia đầu tiên về Phật giáo trên đất Phật.
6. QUAN ĐIỂM CỦA PHÁP HIỂN :
Từ cuộc đời, cuộc chiêm bái, ước nguyện của Pháp Hiển và các dịch phẩm của ngài về Phật giáo, ta thấy rõ Pháp Hiển là một vị Sư đề cao giới luật số một. Không những ngài trì luật một cách nghiêm túc, không bỏ an cư kiết hạ trong suốt cuộc du hành, mà trong Ký sự, ngài cũng toàn tập trung chú ý vào đời sống Tăng lữ tại Ấn Ðộ và Tích Lan. Ngài muốn biết tu sĩ Ấn Ðộ thực hành đời sống xuất gia như thế nào, để hy vọng cải thiện tình trạng Tăng già Trung Quốc thời đó dường như rất tồi tệ. Chúng ta được ngài cho biết thời ấy Tăng sĩ Trung Quốc tuân giữ Giới bổn phái Hữu bộ, do vậy ta có thể nói Pháp Hiển là một vị Tăng theo Tiểu thừa thuần túy; khác với Huyền Trang, một nhà Ðại thừa tận xương tủy. Trong tất cả kinh điển mà Pháp Hiển mang về Trung Quốc chỉ có một kinh Phương Ðẳng Ðại Bát-niết-bàn với 5.000 bài kệ, có thể được xem là kinh Ðại thừa, còn những kinh sách khác đều có tính chất thuần túy Tiểu thừa. Tất cả những tác phẩm mà ngài dịch thuật cũng đều thuộc giáo phái Tiểu thừa. Dấu hiệu duy nhất Ðại thừa nơi ngài là, trong cuộc du hành đường biển từ Tích Lan đến đảo Yava và từ đảo Yava
đến Trung Quốc, hai lần tàu bị bão tố dữ dội, Pháp Hiển đều niệm đức Quan Âm xin cứu mang. Ngoài sự cầu nguyện với một Bồ-tát Ðại thừa này ra, thì quan điểm và sự tuân giữ giới luật nơi ngài hoàn toàn có tính cách Tiểu thừa.
7. PHÁP HIỂN, NHÀ CHIÊM BÁI KHIÊM TỐN GIẢN DỊ :
 
Chúng ta thấy một điểm khác nhau rõ rệt về quan điểm và tính tình giữa hai ngài Pháp Hiển và Huyền Trang. Trong khi Pháp Hiển chỉ chú trọng Luật tạng, thì Huyền Trang thiên nặng về Luận tạng. Chủ đích của Huyền Trang du hành đến Ấn Ðộ chính là để học Luận Ðại thừa Du già Sư Ðịa và mang về Trung Quốc, còn Pháp Hiển khởi hành cuộc hành trình gian khó vì muốn sưu tầm các bản văn về Luật tạng và xem xét đời sống tu viện cùng giới Luật của chư Tăng trên đất Ấn.
Khi đọc Phật Quốc Ký của Pháp Hiển, chúng ta nhận thấy sự khiêm hạ của một vị Sư sùng tín, bàng bạc khắp từng trang giấy của tập Ký sự. Ngài không che dấu sự yếu kém của mình, những lần suýt ngã quỵ khi đối diện với
những gian khó của cuộc hành trình, và những vố đấm tàn khốc của định mệnh. Nhiều lần ngài đã rơi lụy, khiến người đọc cũng phải đồng cảm với ngài trước sự không may. Thành tích ngài đạt được quả thật lớn lao không ai sánh kịp trong lịch sử Phật giáo ngoại trừ thành tích của Huyền Trang. Nhưng dường như ngài không ý thức đến sự vĩ đại của mình, mà chỉ cho rằng sứ mệnh hoàn thành được là nhờ Tam Bảo che chở hộ trì. Những lời lẽ của ngài sau đây phản ảnh trung thực bẩm chất khả ái đấy: "Nhìn lại những gì mình đã trải qua trong cuộc hành trình, bất giác tim tôi run lên, toát mồ hôi hột. Tôi đã dấn mình vào nguy hiểm, dẫm lên chướng ngại vật không kể gì thân xác. Vì có một mục đích quyết định và bản tính cương trực, tôi đã liều mạng trong một cuộc hành trình ở đó cái chết hầu như là chuyện chắc chắn, chỉ hy vọng sống sót một phần vạn" [c: 8b; 12-13]. Chính thái độ thẳng thắn của ngài, và sự trung thành với mục đích gợi cho chúng ta niềm yêu mến thán phục. Chúng ta hoàn toàn tán đồng với một vị Sư vô danh đã ghi lại cuối tập Ký sự của Pháp Hiển vài dòng để chứng tỏ lòng thán phục đối với nhà chiêm
bái vĩ đại ngày xưa: "Chúng tôi rất xúc động khi đọc ký sự của ngài. Một nhân cách như vậy thật vô cùng hiếm có và quý báu xưa cũng như nay. Từ ngày Ðại giáo được truyền đến phương Ðông, không một người nào sánh bằng Pháp Hiển trong việc xả thân tầm đạo. Nhờ vậy mà chúng ta biết rằng lòng thành đem lại kết quả vô biên; và khi quyết tâm đạt mục đích thì không việc gì không thành tựu. Vì, phải chăng sự thành công của ngài là nhờ ngài đã bất chấp cái mà người khác coi trọng, và coi trọng cái mà người khác xem thường?". [c: 8b; 13-14].
/18
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »