Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Pháp Hiển Nhà Chiêm Bái

Pháp Hiển Nhà Chiêm Bái

Tác giả: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 1997. Số trang: 217.

Chương 5: 2. Pháp Hiển Nhà Chiêm Bái (Trang 35 - 52)

2. PHÁP HIỂN NHÀ CHIÊM BÁI
 
Ðược tháp tùng bởi Huệ Cảnh, Ðạo Chỉnh, Huệ Ứng, Huệ Ngôi, Pháp Hiển khởi hành cuộc chiêm bái đất Ấn vào năm thứ hai niên hiệu Hoằng Thỉ [năm 399 sau Tây lịch], năm Kỷ Hợi. Rời Tràng An, họ vượt qua những rặng núi ở đất Lủng và đến xứ Càn Quy, ở đó họ kiết hạ an cư. Sau đó tiếp tục đi đến xứ Nhục Ðàn, qua núi Dương Lâu và đến thị trấn Trương Dịch. Xứ này gặp lúc loạn lạc đường xá nguy hiểm. Ðáp lời cầu thỉnh của Quốc vương ở đấy, Pháp Hiển lưu lại cùng với các bạn đồng hành. Tại đây ngài gặp những vị Tăng khác là Trí Nghiêm, Huệ Giản, Tăng Thiệu, Bảo Vân, Tăng Cảnh, những vị cùng chí hướng đi Ấn tìm học giới luật. Họ cùng nhau kiết hạ an cư tại đấy. Xong hạ, họ tiếp tục đi đến xứ Ðôn Hoàng. Ở đấy họ lưu lại hơn một tháng. Pháp
Hiển và 4 vị Tăng khác khởi hành đi trước cùng với một hướng đạo, để Bảo Vân và những người khác ở lại. Họ được viên thái hậu ở Ðôn Hoàng tên Lý Hạo cung cấp lương thực để đi qua sa mạc. Sa mạc có đầy những ác ma và gió nóng quái quỷ, khiến nhiều người mất mạng ở đây. Ngay cả chim chóc và thú rừng cũng phải tránh né chốn nguy hiểm này. Giữa sa mạc mênh mông không có một con đường ló dạng; chỉ có những bộ xương người chết được dùng làm mốc cho Pháp Hiển và đồng bạn đi tới.
Sau 17 ngày gian nan tột cùng, họ đã đi được khoảng 1.500 lý (250 dặm Anh) và đến nước Thiện Thiện. Họ lưu lại đấy hơn một tháng rồi lại lên đường đi về phía Tây Bắc 15 ngày đến nước Ô-di (Agni). Pháp Hiển được một viên chức người Trung Quốc tên Fu Hsien Sun mời lưu lại hai tháng. Ngài ở lại đấy cho đến khi gặp lại Bản Vân cùng các vị khác cũng đến nơi.
Vì người xứ Ô-di không tỏ lòng hiếu khách lắm, nên các vị Trí Nghiêm, Huệ Giản, Huệ Ngôi trở lại Cao Xương - Kaashar - để kiếm lương thực đi đường; trong lúc Pháp Hiển và những vị khác nhờ đã được Fu Kung Sun -
Công Tôn - cung cấp đầy đủ hành trang nên bèn lên đường đi hướng Tây Nam. Giữa đường bèn lên đường đi hướng Tây Nam. Giữa đường không gặp nhà dân, họ trải qua gian nan khốn khổ không bút nào tả xiết. Cuộc hành trình kéo dài một tháng năm ngày, rồi họ đến quốc gia Khotan - Vu Ðiền.
Pháp Hiển cùng đoàn ngưòi được Quốc vương ở đấy đón tiếp và trú ngụ trong một ngôi chùa Ðại Thừa tên Cù-ma-đế - Gomati. Các vị sư Huệ Cảnh, Ðạo Chỉnh và Huệ Ðạo đã đi trước đến Khalcha - Kiệt xoa, còn nhóm Pháp Hiển ở lại thêm 3 tháng để xem lễ rước tượng.
Vào tháng thứ tư khi lễ rước tượng đã xong, thầy Tăng Thiều cùng với một đạo sĩ người Hồi đi đến nước Kàsmìra - Kế Tân, trong khi nhóm Pháp Hiển đi 15 ngày đến quốc gia Chakuka - Tử Hợp. Xong họ đi về hướng Nam 4 ngày đến Pamirs - Tuyết Sơn và cuối cùng đến xứ Agszi (Huy), ở đấy họ an cư kiết hạ.
Hết mùa an cư, đoàn Pháp Hiển tiếp tục đi về hướng Bắc đến xứ Khalcha - Kiệt-xoa sau 25 ngày đường. Ở đây họ gặp lại Huệ Chỉnh và những vị khác. Ðoạn họ cùng du hành
theo hướng Tây, mất một tháng để leo núi tuyết Pamirs, ở đấy tuyết phủ cho đến cả vào mùa hạ. Suốt cuộc hành trình, những trận mưa lũ, gió quái và tuyết rơi cùng những cơn bão cát hãi hùng trút xuống vào mọi lúc. Người ta kể rằng trong 10.000 người không có một người nào có thể sống sót được qua những hiểm nguy ấy.
Sau khi vượt dãy Tuyết Sơn, họ đi vào Bắc Ấn và đến một nước nhỏ tên là Darada (Ðà lịch). Rồi họ đi về Tây Nam 15 ngày vượt qua núi Tuyết, đường đi có vô số chướng ngại. Con đường có 700 bực cấp được đẽo từ núi đá, núi một đầu thì dựng đứng, một đầu thì đầy những vực sâu hãi hùng. Bên dưới, có con sông Tân-đầu chảy qua, hai bờ cách nhau 80 bước. Ðoàn người lần theo những bực cấp núi đá ấy và vượt qua sông bằng một cái cầu dây.
Sau khi vượt qua sông Tân-đầu, họ đến quốc gia Udyàna (Ô-trường). Huệ Cảnh, Huệ Ðạo và Ðạo Chỉnh đi trước đến xứ Nagarahàra (Na-kiệt) để xem bóng Phật trong khi Pháp Hiển và những vị khác ở lại Ô-trường để an cư kiết hạ.
Sau mùa an cư, họ du hành về phía Nam, đến xứ Tú-ha-đa (Suvastu) đi về phía Ðông trong 5 ngày họ đến quốc gia Kiền-đà-vệ (Gandhara). Từ đây đi về hướng Ðông 7 ngày họ đến xứ Trúc-sát-thi-la (Takshasila) có nghĩa là chặt đầu. Lại vẫn đi về hướng Ðông thêm 2 ngày, họ đến một nơi ngày xưa đức Phật Thích Ca trong một tiền kiếp đã xả thân cho cọp đói ăn thịt.
Sau khi đi về hướng Nam 4 ngày, họ đến xứ Purushra - Phất-lâu-sa. Tại đây Bảo Vân và Tăng Cảnh cúng dường bát của Phật xong rồi trở về Trung Quốc, còn Huệ Cảnh, Huệ Ðạt và Ðạo Chỉnh đã đi đến xứ Na-Kiệt đảnh lễ bóng Phật, răng và xương đảnh của ngài. Huệ Ðạt một mình trở về nước Phất-lâu-sa gặp lại Bảo Vân và Tăng Cảnh rồi cùng họ trở về Trung Quốc. Bây giờ thì chỉ còn lại một mình Pháp Hiển. Những bạn đồng hành cuả ngài có thể nói đã bỏ cuộc ngoại trừ Huệ Cảnh và Ðạo Chỉnh đang ở Na Kiệt. Vẫn không nao núng, Pháp Hiển ra đi một mình đến chùa thờ xương đảnh Phật. Sau khi du hành về phía Tây 16 do-tuần, ngài đến thành Hilo (Ha-lê) ở biên giới nước Na-Kiệt. Quay về hướng Bắc một do-tuần,
Pháp Hiển đến thủ đô Na-Kiệt. Rồi ngài đi vào trong thung lũng, theo hướng Tây đi 4 ngày đường gặp ngôi chùa thờ áo Phật.
Sau 3 tháng ở Na-Kiệt gặp lại hai bạn đồng hành Ðạo Chỉnh và Huệ Cảnh, họ lại lên đường đi về hướng Nam qua dãy núi Tiểu Hy-lạp, nơi tuyết phủ cả vào mùa hè. Khi đang leo sường Bắc của núi, họ bị một cơn bão tố băng giá. Huệ Cảnh không đi thêm được nữa, mồm sủi bọt mép vá chết ngay khi trối trăn hai bạn đồng hành nên tiếp tục lên đường đừng ở lại chết chung. Pháp Hiển vào Ðạo Chỉnh vô cùng bi thương trước định mệnh tàn khốc này, nhưng rồi họ cũng lên đường, vượt qua sườn núi phía Nam để đến xứ La-di [Lakki]. Pháp Hiển và bạn đồng hành ở lại đây 3 tháng an cư mùa hạ, xong họ đi xuống phía Nam đến xứ Bạt-na [Harana]. Người trong xứ này đón tiếp họ rất nồng nhiệt và lấy làm ngạc nhiên trước thành tích cuả hai vị Tăng Trung Quốc xa xôi dám vượt hiểm nguy đi tìm Chánh pháp. Họ cung cấp hai khách Tăng những gì cần thiết và thết đãi theo truyền thống Phật giáo.
Hai nhà truyền thống đi tiếp về hướng Tây
Nam khoảng tám mươi do-tuần, ngang qua một số chùa viện và đến xứ Mathura [Ma-đâu-la]. Tại đây họ qua sông Yamunà [Bồ-na] một lần nữa. Từ Mathura họ đi về hưóng Ðông Nam 18 do-tuần, đến xứ Sankàsya [Tăng-già-thi].
Pháp Hiển cùng bạn đồng hành ở lại kiết hạ an cư trong chùa Rồng, rồi lại tiếp tục lên đường, đi hướng Ðông Nam bảy do-tuần thì đến Anyàkubja. Họ vượt sông Hằng, và sau khi đi thêm 3 do-tuần về hướng Nam, họ đến một thôn tên gọi Hali [Ha-lê]. Rồi họ đi về Ðông Nam mười do-tuần để vào đại quốc Aisàkha [Sa-kỳ]. Bấy giờ họ quay về hướng Bắc tám do-tuần, đến đô thành Sràvastì [Xá vệ] thuộc nước Kosala [Câu-tát-la].
Khi Pháp Hiển và Ðạo Chỉnh viếng tinh xá Jetavana [Kỳ-hoàn] nơi Phật đã ở 25 năm, họ ngập tràn bi cảm, bất hạnh vì bị sinh vào chốn biên địa xa xôi. Họ chạnh lòng nghĩ đến những bạn đồng hành đã cùng đi qua nhiều xứ sở, mà bây giờ người thì đã chết, người trở lui về Trung Quốc, chỉ còn lại Pháp Hiển và Ðạo Chỉnh, hai vị không khỏi ngậm ngùi. Những vị Tăng ở Xá-vệ khi biết Pháp Hiển và bạn đồng hành đã từ một nơi xa xôi như thế đến thỉnh
kinh, thì vô cùng ngạc nhiên cảm phục trước kỳ tích của hai vị sư Trung Quốc.
Ðoạn hai nhà chiêm bái từ Xá-vệ lại ra đi về hướng Ðông nam 12 do-tuần, đến thành phố Napika. Từ đây về phía Bắc trong vòng một do tuần, họ đến một thành phố nơi Phật Kanakamuni [Câu-na-hàm-mâu-ni] đản sinh, và đi thêm một do tuần về phía Ðông, họ đến xứ Kapilavastu [Ca-tỳ-la-vệ], nơi sinh của Phật. Vì xứ này đã hoang phế, đầy sư tử trắng và voi cư trú, nên hai nhà chiêm bái phải hết sức thận trọng khi đi đường.
Sau một thời gian ngắn ở Kapilavastu, họ du hành về hướng Ðông năm do-tuần đến nước Ràmagràma. Ði thêm bốn do-tuần về hướng Ðông, họ đến Tháp thờ Tro. Lại tiếp tục đi về hướng Ðông 12 do-tuần nữa, họ đến đô thành Kusinagara. Sau khi viếng thăm các Thánh tích của Phật, họ đi về Ðông Nam 12 do-tuần về đến nơi mà ngày xưa những người dòng họ Licchavis [Lê-xa] không được Phật cho phép đi theo đến nơi Ngài nhập Niết bàn. Ði thêm năm do-tuần nữa về hướng Ðông, họ vào xứ Vaisàlì [Tỳ-xá-ly].
Từ Tỳ-xá-ly họ đi về hướng Ðông 4 do-tuần đến chỗ hợp lưu của 5 dòng sông. Chính giữa vùng này, Tôn giả A-nan đã dùng tam-muội hỏa để thiêu thân. Họ qua sông và đi thêm một do-tuần về phía Nam đến đô thị Ba-liên-phất (Pataliputra) ở xứ Magadha (Ma-kiệt đà). Từ Ba-liên-phất họ du hành về hưóng Ðông Nam 4 do-tuần đến một đỉnh núi đá đứng đơn độc, trên đỉnh có cái hang đá trong đó có hình ảnh Ðức Phật ngồi. Ði thêm một do tuần về hướng Tây Nam, họ đi vào khu làng Kàlapinàka nơi sinh Tôn giả Xá-lợi-phất. Họ đi thêm một do-tuần về hướng Tây thì đến thành Vương Xá mới do vua A-xà-thế xây cất. Sau khi rời thành này bằng cổng phía Nam đi thêm 4 dặm, họ đến một thung lũng vây quanh bằng 5 ngọn đồi ở đấy vua Bình sa đã xây dựng thành Vương Xá cũ. Trên đường đi, hai nhà chiêm bái ngang qua những nơi Xá-lợi Phất và Mục Kiền Liên lần đầu tiên gặp vị thầy ngoại đạo Asvajis, nơi ngoại đạo Ni-kiền-tử đã đào hố lửa và soạn thức ăn đầu độc Ðức Phật, và nơi vua A-xà-thế đã thả voi say hại Phật. Họ cũng đi ngang cảnh tàn phế của một ngôi chùa mà Javàka đã xây để cúng đức Phật và 1.250
đệ tử của Ngài.
Tiếp tục đi về hướng Ðông Nam thêm 15 dặm, họ đến núi Linh Thứu, nơi Ðức Phật đã giảng nhiều bài Pháp quan trọng. Pháp Hiển đã mang hương hoa đèn dầu và lên đến đỉnh núi nhờ sự hướng đạo của hai tu sĩ địa phương. Tại đấy ngài đốt hương, thắp đèn, dâng hoa, lễ bái Thánh địa. Khi đứng tại chỗ mà ngày xưa đức Như Lai đã từng sống, Pháp Hiển không sao ngăn được cảm xúc và ngài đã bật khóc, tự than đã sinh quá muộn màng, không được chiêm ngưỡng thân sắc vàng của Phật và lắng nghe Ngài thuyết giảng kinh Lăng Nghiêm tại nơi này. Rồi Pháp Hiển tụng kinh Lăng Nghiêm ở đấy ngay trước hang động, và trải qua đêm trên đỉnh núi Linh Thứu. [Cao Tăng Truyện còn kể câu chuyện Pháp Hiển đã gặp ngài Ðại Ca-diếp, vị đại đệ tử khổ hạnh đệ nhất của Ðức Phật. Mẫu chuyện này dường như phù hợp với truyền thuyết cho răng Ma-ha Ca-diếp vàn còn sống trong một khe núi Linh Thứu.] Ngày hôm sau ngài trở xuống thành Vương-Xá mới.
Rời Vương Xá, Pháp Hiển cùng bạn đồng hành đi về phía Tây và đến đô thị Gayà. Lại đi
thêm 20 lý về phía Nam, họ đến nơi mà ngày xưa Ðức Phật đã tu khổ hạnh 6 năm. Ðoạn họ đi 3 dặm về phía Tây để thăm viếng nơi đức Phật tắm và được một thiên nhân đưa ra khỏi nước. Họ cũng thăm viếng một Thánh tích cách đó 2 lý về phía Bắc, nơi Ðức Phật được các cô gái Gramika dâng cúng cháo sữa. Lại đi thêm 2 lý về phía Bắc, họ đến một nơi đức Phật đã ngồi xuống trên một phiến đá dưới gốc cây lớn để dùng cháo.
Rồi họ du hành về phương Ðông Bắc nửa do tuần, đến hang động ở đấy đức Phật đã ngồi kiết già nhìn về phương Tây. Từ Bồ-đề tràng họ đi về hướng Nam 3 dặm, đến núi Kê Túc (Kukkutapàda), ở đấy tương truyền đức Ðại Ca-diếp còn ở trong núi. Pháp Hiển quay về thành Ba-liên-phất, và từ đây ngài đi về phía Tây dọc sông Hằng 10 do-tuần đến chùa Atavi nơi đức Phật đã từng lưu lại một thời gian. Vẫn đi dọc sông Hằng, họ nhắm huớng Tây đi được 12 do-tuần vào đô thị Vàrànasi thuộc xứ Kàsi. Rồi họ viếng thăm vườn Nai ở cách đô thị ấy 10 dặm về phía Bắc. Ði 60 bước về hướng Bắc là nơi Ðức Phật ngày xưa đã ngồi day mặt về phương Ðông mà thuyết giảng bài Pháp đầu tiên; 20
bước về phía Bắc là nơi đức Phật đã tiên đoán sự ra đời của đức Phật Di-Lặc trong tương lai. Ði thêm 50 bước về phía Nam là nơi con rồng Elapatra (Ưu-bát-la Long Vương) hỏi Ðức Phật đến bao giờ nó mới được thoát khỏi lốt rồng.
Họ lại khởi hành đi đến xứ Câu-Diệm-di ở cách 13 do-tuần phía Tây Bắc vườn Nai. Ðoạn họ đi về hướng Nam. Sau khi vượt qua 200 do-tuần, họ đến một nước tên gọi Dakfina. Vì đường sá ở đây không được an toàn cho cuộc lữ hành nếu không được vũ trang hộ tống, nên Pháp Hiển không thể đến đấy mà chỉ viết ký sự về nơi này qua lời kể của dân địa phương.
Sau đó từ Varanasi, Pháp Hiển cùng bạn đồng hành trở về Ba-liên-phất. Vì ở Bắc Ấn không có kinh sách về Luật tạng, nên Pháp Hiển phải đến Trung Ấn ở đấy ngài có thể tìm thấy một Luật bản của phái Ðại Chúng bộ tại một chùa Ðại thừa giáo. Ngài cũng được một bản Luật phái Hữu bộ gồm 7.000 bài kệ, và nhiều kinh luận khác.
Pháp Hiển ở lại đấy 3 năm để học sách Phạn ngữ và để ghi chép những kinh sách nói trên. Bấy giờ Ðạo Chỉnh quyết định ở lại đất
Ấn vì thấy nơi đây Giới Luật được Tăng sĩ Ấn Ðộ tuân hành nghiêm cẩn. Ngài than phiền về tình trạng giữ giới tồi tệ ở Trung Quốc, và nguyện sẽ không bao giờ sinh vào nơi biên địa. Thế là Ðạo Chỉnh ở lại Ấn Ðô, không cùng Pháp Hiển trở về quê hương Trung Quốc. Vì Pháp Hiển đến Ấn với mục đích mang về Giới Luật xuất gia, nên ngài phải khởi hành chuyến về một mình không bầu bạn, lên đường đến nước Sư Tử [Simhala] rồi về quê nhà.
Ðầu tiên ngài đi 18 do-tuần về phía Ðông, đến Ðại quốc Champà, nằm phía bờ Nam sông Hằng. Ðoạn ngài đi đến Tamràlipti sau khi đi về hướng Ðông 50 do-tuần. Ngài lưu lại nơi này 2 năm để chép Kinh và họa hình tượng Phật. Rồi ngài xuống tàu của những người buôn, sau 14 ngày đêm đến nước Sử tử.
Pháp Hiển đã rời xa Trung Quốc nhiều năm, đã đi qua nhiều vùng đất xa xôi, gặp nhiều nền văn hóa lạ lùng, nhiều cảnh và người hoàn toàn xa lạ, tất cả những người bạn đồng hành Trung Quốc đã bỏ ngài, một số trở về, một số chết đường, còn Ðạo Chỉnh thì ở lại đất Ấn. Bởi thế đôi lúc ngài cũng cảm thấy cô đơn và nhớ quê hương. Khi ngài trông thấy một
chiếc quạt bằng lụa trắng chế tạo ở Trung Quốc trong ngôi chùa Vô Uý Sơn, một chiếc quạt có lẽ do một thương gia Trung Quốc nào đó dâng cúng, không thể cầm được nước mắt ngài đã khóc thảm. Pháp Hiển ở lại nước Sư Tử 2 năm, viếng thăm các tu viện lớn, xem những đám diễn hành Phật giáo, và đã mô tả lại hòn đảo này về các mặt địa dư, khí hậu, khoáng chất, nhân văn. Pháp Hiển thỉnh được một bản Giới Luật của phái Mahysàsakas, kinh Trường A-hàm, kinh Tạp A-hàm và kinh Tiểu Bộ, những thứ không có ở Trung Quốc. Sau khi hoàn tất sứ mạng ở nước Sư Tử, Pháp Hiển theo một tàu buồm lớn của thương gia trên đường về nước. Chiếc tàu chở gần 200 hành khách, đằng sau buộc một thuyền con cho hành khách xuống phòng khi đắm tàu. Con tàu dong buồm hướng về phương Ðông một cách êm ả trong hai ngày thì bỗng một cơn bão tố nổi lên tàu có khe hở bị nước vào. Những người đã xuống được thuyền nhỏ bèn cắt dây bơi đi thoát thân. Những người buôn kinh hoảng ném bớt hành lý xuống biển cho tàu nhẹ bớt. Pháp Hiển cũng phải quăng xuống biển bình nước chậu thau và vài vật dụng khác của ngài, còn
những kinh và tượng Phật thì ngài cầu nguyện Bồ Tát Quan Âm và chư Tăng Trung Quốc gia hộ cho ngài mang được an toàn về đất mẹ. Trận cuồng phong hoành hành suốt 13 ngày đêm nhưng may thay tàu tắp được vào một hòn đảo để điều chỉnh chỗ bị nứt, rồi lại dong buồm đi tiếp. Cuộc hành trình kéo dài khoảng 90 ngày mới đến đảo quốc Yava (Da-bà-đề).
Pháp Hiển ở đây 5 tháng và lại xuống một chiếc tàu buôn lớn khác cùng với khoảng 200 hành khách. Họ dong buồm vào ngày 16-4 đi về Quảng Châu, mang theo lương thực đủ ăn trong 50 ngày. Pháp Hiển giữ pháp an cư ngay trên tàu. Sau một tháng thuận buồm xuôi gió, bỗng chốc chiếc tàu lại bị một trận bão lớn, trời tối sầm, mưa trút xuống như thác lũ. Những hành khách và thủy thủ đều sợ rằng con tàu chắc chắn phải chìm. Một lần nữa Pháp Hiển lại van vái đức Quan Âm Bồ tát che chở và cầu sự gia bị của chư Tăng Trung Quốc. Như đáp ứng lời cầu xin của ngài, con tàu qua được đêm ấy. Ngày hôm sau những người Bà-la-môn trên tàu bàn với nhau và quyết định thả ngài Pháp Hiển xuống một hòn đảo, vì cho rằng chính hiện
diện của thầy tu Phật giáo này là nguyên nhân của bao nhiêu tai nạn gian khổ. Nhưng thí chủ của Pháp Hiển ở trên tàu cực lực phản đối âm mưu ác độc này và dọa sẽ về tâu với Hoàng đế Trung Quốc, nếu họ còn cố loại trừ Pháp Hiển ra khỏi tàu. Lời hăm dọa này đã ngăn các Bà-la-môn thực hiện kế hoạch của họ, và Pháp Hiển được cứu thoát khỏi âm mưu tội lỗi kia. Vì bầu trời mờ mịt dưới những làn mưa liền tiếp, tàu bị lạc hướng. Trong hơn 70 ngày, con tàu lênh đênh giữa biển cạn hết lương thực và nước uống. Họ đành phải dùng nước mặn để nấu ăn, và khẩu phần nước uống phải hết sức hạn chế. Khi nước uống đã hết, họ bàn nhau vạch một hướng đi cho con tàu. Bấy giờ tàu đi về phương Tây Bắc cố gặp được đất liền. Sau 12 ngày, họ đến được bờ Nam của Lao Sơn thuộc quận Trường Quảng, và thế là chấm dứt cuộc hành trình gian nan nguy hiểm. Khi trông thấy rau lê, lá dâu quen thuộc mọc ở Trung Quốc họ mới biết mình đã về đến quê hương. Sau khi hỏi thăm những cư dân địa phương, họ được biết đã đến quận Trường Quảng thuộc Thanh Châu. Khi nghe Pháp Hiển một vị Tăng Trung
Quốc đang ở trên thuyền cùng với kinh và tượng, thái thú quận Trường Quảng là Lý Nghi vốn là một Phật Tử, sai người thỉnh kinh tượng về quận lỵ. Tại đây Pháp Hiển chia tay với những người buôn để họ tiếp tục đi đến Dương Châu, Pháp Hiển ở lại Thanh Châu một mùa đông và một mùa hè theo lời mời của người anh vị hoàng đế tương lai là Lưu Dũ (Liu Yu). Tại Thanh Châu, Pháp Hiển đã an cư kiết hạ, và khi giải hạ ngài muốn trở về Tràng An. Ngài đi về hướng Nam để đến thủ đô. Ngài gặp một vị Tăng Ấn Ðộ tên Buddahbhadra [Phật Hiền] và cho vị này xem những bản Luật ngài đã mang về được. Vậy là Pháp Hiển đã kết thúc cuộc hành trình gian nan để chiêm bái Thánh tích. Ngài đã khởi hành từ Tràng An và phải mất 6 năm mới đến đất Ấn. Ngài đã ở lại nơi đây 6 năm. Cuộc hành trình trở về mất 3 năm khi ngài đến Thanh Châu. Ngài đã viếng thăm gần 30 quốc gia; không thể nào kể hết chi tiết đời sống tu hành tuyệt diệu của nhưng tu sĩ ngài gặp trên đường. Khi khởi hành ngài đã 65 tuổi, và khi
trở về cố quốc ngài đã 79 tuổi. Thật lạ lùng, là niềm khát khao Chánh Pháp đã cho Pháp Hiển một sức năng động phi thường đến nỗi mặc dù tuổi đã cao, ngài vẫn hoàn tất được một cuộc phiêu lưu đã đánh gục bao nhiêu người trẻ tuổi.
/18
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »